Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ
LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Những vấn đề lí luận về NSNN
1.1.1. Định nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện kinh tế và pháp lý
Ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực tài chính. Hiện tượng ngân sách ra
đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, trên cơ sở của nền kinh tế hàng hoá và sự hình thành, phát
triển của nhà nước.
Sau 3 lần phân công lao động xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phân hóa các giai cấp
trong xã hội, đặc biệt là phân công lao động xã hội lần thứ ba, kết quả là sự ra đời của giai cấp
thương nhân. Giai cấp thương nhân ra đời dẫn đến các quan hệ trao đổi mua bán cũng phát triển
mạnh mẽ, cùng với nó là sự xuất hiện của tiền tệ. Nhà nước ra đời thúc đẩy mạnh mẽ việc sử dụng
tiền tệ trong lưu thông hàng hóa. Sự ra đời và tồn tại của Nhà nước làm nảy sinh nhu cầu chi tiêu
của Nhà nước. Điều đó đòi hỏi Nhà nước dùng quyền lưc chính trị để tập trung một bộ phận của
cải của xã hội cho mình làm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước, tham gia
quá trình phân phối của cải với tư cách chủ thể quyền lực chính trị.
Trong thời kỳ đầu của lịch sử Nhà nước, quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (sau
này được gọi là quỹ NSNN) mặc dù cũng được thiết lập và sử dụng cho nhu cầu của Nhà nước
nhưng không hoàn toàn mang đúng bản chất là NSNN như cách hiểu hiện đại ngày nay, bởi lẽ:
- Việc thiết lập, quản lý và sử dụng hoàn toàn do người đứng đầu Nhà nước quyết định
mà không được kế hoạch hóa, không được xác định niên độ cũng như không được quy định cụ thể
bởi bất kỳ một luật lệ nào.
- Không có sự phân biệt và tách bạch một cách rạch ròi giữa các khoản chi tiêu của Nhà
nước và các khoản chi tiêu của người đứng đầu nhà nước và gia đình của họ. Các khoản thu, chi
của người đứng đầu nhà nước luôn được hiểu đồng nghĩa với các khoản thu, chi của Bộ máy chính
quyền Nhà nước.
Khái niệm ngân sách nhà nước chỉ được bắt đầu sử dụng khi các khoản thu chi của nhà
nước được thể chế hoá bằng pháp luật, tức là, có sự xác định, thừa nhận, công khai hoá bằng luật
pháp đối với những khoản thu chi của nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước. Thắng lợi của cuộc
Cách mạng Tư sản và sự ra đời của Quốc hội đầu tiên trong lịch sử gắn liền với sự ra đời của thuật
ngữ NSNN hiện đại. Quốc hội với tư cách là một nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước, đại
đất nước.
NSNN là kế hoạch tài chính của toàn thể quốc gia, được trao cho CP tổ chức thực hiện
nhưng phải đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Quốc hội. Quốc hội thực hiện việc giám sát trực tiếp
đối với hoạt động thực hành NS của CP nhằm siểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành
pháp trong quá trình thực thi ngân sách.
Ngân sách nhà nước được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu mưu cầu lợi ích
chung của toàn thể quốc gia, không phân biệt người thụ hưởng các lợi ích đó là ai, thuộc thành
phần kinh tế nào hay đẳng cấp xã hội nào.
1.1.3. Cơ cấu của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước được cầu trúc bởi hai phần: các khoản thu và các khoản chi.
a) Cơ cấu các khoản thu của NSNN
- Các khoản thu có tính chất hoa lợi: Là khoản thu làm tăng ngân quỹ khả dụng của ngân
khố nhưng không làm tăng trái cụ của quốc gia; hoặc đó là khoản thu làm giảm trái khoản của
quốc gia nhưng không làm giảm ngân quỹ của quốc khố. Các khoản thu này bao gồm: thu về thuế;
thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; thu từ viện trợ
không hoàn lại của nước ngoài cho CP; thu tiền phạt vi phạm PL
- Các khoản thu không có tính chất hoa lợi: Là khoản thu làm tăng ngân quỹ khả dụng
của ngân khố nhưng đồng thời cũng làm tăng một số lượng tương ứng các trái vụ của quốc gia.
Những khoản thu này thường không có tác dụng đáng kể đối với việc cải thiện tình trạng thâm hụt
ngân sách. Bởi lẽ CP thu được bao nhiêu tiền vào ngân khố (kho bạc nhà nước) thì sau đó CP cũng
sẽ phải chi ra tương ứng bấy nhiêu tiền khỏi ngân khố để thực hiện các trái vụ đối với các chủ thể
khác. Bao gồm: thu về vay nợ và viện trợ có hoàn lại; thu về lệ phí và phí; thu về tiền bồi thường
thiệt hại cho nhà nước; thu từ bán trái phiếu chính phủ
b) Cơ cấu các khoản chi của NSNN
- Các khoản chi có tính chất phí tổn: Là những khoản chi làm giảm ngân quỹ khả dụng
của ngân khố mà không làm giảm trái vụ của quốc gia. Những khoản chi này có hại ít nhiều cho
NSNN nhưng Nhà nước không thể không chi vì nó thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với xã
hội, vai trò của nhà nước trên trường quốc tế. Bao gồm: chi viện trợ không hoàn lại cho nước
ngoài, chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; chi bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nước;
chi trợ giá theo chính sách của nhà nước; chi hỗ trợ cho các doanh nghiệp và tổ chức đoàn thể xã
Nếu Ngược lại: Thâm hụt (bội chi) NSNN
Được ghi nhận tại K2Đ 8 Luật NSNN 2002
1.1.5. Vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường và sự cần thiết phải điều
chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước giữ vai trò là công cụ phân phối. Điều này được thể hiện thông qua
việc nhà nước huy động nguồn tài chính để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thông qua
việc tiến hành cân đối giữa các khoản thu và chi của nhà nước, nhà nước có thể hoạch định chính
sách trong điều tiết thu nhập, giải quyết tốt mối quan hệ giữa thu và chi, giữa tích luỹ tiêu dùng,
đầu tư phát triển, tiết kiệm.
Ngân sách nhà nước giữa vai tró điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua việc điều hoà các
nguồi tài chính giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế, thông qua việc hướng dẫn, kích thích hay
hạn chế sản xuất, tiêu dùng bằng các chính sách thuế, tài chính, ngân sách nhà nước có thể điều
tiết thu nhập của các chủ thể khác nhau trong xã hội, xử lý mối quan hệ giữa tích luỹ, đầu tư và
tiêu dùng, điều chỉnh giá cả, ổn định thị trường, chống lạm phát.
Ngân sách nhà nước còn giữ vai trò là công cụ thực hiện chính sách và hướng dẫn tiêu
dùng xã hội. Bằng chính sách thuế, nhà nước có thể thông qua hoạt động ngân sách nhà nước để
thực hiện ưu đã cho các đối tượng chính sách, điều tiết thu nhập dân cư, hạn chế sự bất bình đẳng
xã hội. Ngoài ra, ngân sách nhà nước còn cung cấp phương tiện tài chính để nhà nước thực hiện
trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng.
1.2. Tổng quan về luật ngân sách
1.2.1. Khái niệm Luật ngân sách nhà nước
Trang - 3
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Luật NSNN là tổng thể các QPPL đ/chỉnh các qhệ XH phát sinh trong qt tạo lập, quản lý,
phân phối, SD vốn ttệ của NSNN (các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động NSNN)
1.2.2. Phạm vi điều chỉnh của Luật ngân sách nhà nước
Luật NSNN điều chỉnh các QHXH phát sinh trong quá trình hoạt động NSNN, là các quan hệ
thuộc 4 nhóm sau:
- QHXH phát sinh trong quá trình lập, phê chuẩn, chấp hành và quyết toán NSNN
- QHXH phát sinh trong quá trình phân cấp quản lý NSNN
sách nhà nước là khái niệm hàm chỉ mô hình quản lý ngân sách nhà nước mà trong đó Chính quyền
trung ương phân giao cho chính quyền địa phương thực hiện một số nghiệp vụ nhất định trong hoạt
động ngân sách nhà nước.
Trang - 4
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
-Từ sau 1976 đến 1978, hệ thống ngân sách ở Việt Nam được phân định gồm ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách địa phương gồm hai cấp ngân sách cấp
tỉnh và ngân sách cấp huyện.
-1983: hệ thống ngân sách Việt Nam được xây dựng gồm 4 cấp tương đương với 4 cấp
chính quyền trong bộ máy nhà nước: Ngân sách Trung ương, tỉnh, huyện, xã.
-Luật Ngân sách nhà nước 2002 hệ thống ngân sách Việt Nam đuợc thiết lập bao gồm ngân
sách trung ương và ngân sách địa phương. Trong đó, ngân sách địa phương sẽ hàm chứa ngân sách
cấp tỉnh, huyện, xã.
2.1.2. Các nguyên tắc tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước
- Nguyên tắc thống nhất trong t/c NSNN
Nội dung: Các cấp NS là những bp cấu thành của một ht NS thống nhất và duy nhất. Mỗi
cấp NS đều có hoạt động thu, chi của mình nhưng các hđ đó phải nhất quán, cùng dựa trên những
chuẩn mực, định mức nhất định và phải tuẩn thủ cùng 1 c.sách, c.độ về thu, chi NS
Yêu cầu:
- Phải thể chế hóa thành PL mọi chủ trương, cs, t.chuẩn, đ.mức về thu, chi NS
- Phải đảm bảo sự nhất quán trên pv toàn quốc về h.thống và chuẩn mực k.toán, về p.thức
b.cáo, về tr.tự lập, phê chuẩn, chấp hành và q.toán NSNN
-Phải tạo cspl cho việc t.lập mqh giữa NS cấp trên và NS cấp dưới trong việc điều chuyển
nguồn vốn giữa các cấp NS này
-Đảm bảo tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp ngân sách, có cơ chế phân cấp và
quản lý phù hợp để phát huy được tính tự chủ, kích thích khai thác nguồn thu của các cấp ngân sách
địa phương, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương.
Nguyên tắc độc lập và t.chủ của các cấp NSNN
Đảm bảo cho các cấp CQ/cấp NS có thể chủ động trong việc t.hiện chức năng của mình
- Cần phân giao các nguồn thu và n.vụ chi cho các cấp NS đồng thời cần cho phép mỗi cấp
2.2.2. Nguyên tắc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách nhà nước
- Ngân sách trung ương-ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn
thu, nhiệm vụ chi cụ thể. Việc phân định được đảm bảo bằng pháp luật. Các cấp chính quyền
không được phép đặt ra hoặc điều chỉnh khoản thu của ngân sách cấp mình. Mỗi cấp ngân sách chỉ
phải tiến hành nhiệm vụ thu chi trên cơ sở luật định.
- Bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới phải đảm bảo công bằng, đảm bảo
yêu cầu phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách
cấp dưới. Việc bổ sung không phải được thực hiện đồng loạt đối với mọi cấp ngân sách mà dựa
trên khả năng thu, nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách mà ngân sách cấp trên sẽ thực hiện việc
cấp bổ sung.
- Không được dùng ngân của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp ngân sách khác. Trường
hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện
nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp
ngân sách thực hiện nhiệm vụ đó.
2.2.3. Thẩm quyền quyết định phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách
Luật NSNN 2002 quy định cụ thể nguồn thu và nhiệm vụ chi hai cấp ngân sách TƯ và
ngân sách địa phương đồng thời đề ra các nguyên tắc định hướng việc phân phối thu, chi của cơ
quan quyền lực nhà nước cấp tỉnh khi phân bổ nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách
huyện và xã trên địa bàn tỉnh quản lý
Quốc hội có thẩm quyền quyết định chi tiết việc phân phối thu, chi cho hai cấp NS là cấp
TƯ và cấp tỉnh.
HĐND tỉnh quyết định việc phân giao nguồn thhu và nhiệm vụ chi cụ thể cho từng cấp
ngân sách huyện và xã thuộc địa bàn của tỉnh phù hợp với đặc thù, khả năng và nhu cầu của địa
phương.
2.2.4. Các khoản thu và chi của các cấp NSNN
a. Các khoản thu của NSTW
* Các khoản thu cố định gồm:
- Thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu.
+Chi thường xuyên cho các hoạt động của các cơ quan nhà nước trung ương, cơ quan Đảng
CSVN và các tổ chức chính trị xã hội.
+Chi trợ giá theo yêu cầu chính sách nhà nước
+Chi thường xuyên dành cho các đối tượng chính sách như thực hiện chế độ đối với những
người về hưu, nghỉ mất sức theo quy định của Luật Lao động, chi cho các đối tượng thương binh,
bệnh binh, liệt sĩ…
+Chi thuờng xuyên hỗ trợ cho các tổ chức chính trị-xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, xã
hội-nghề nghiệp thuộc trung ương.
+Chương trình quốc gia do Trung ương thực hiện.
+Chi hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội theo luật định.
* Chi đầu tư phát triển:
+ Đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn;
+Đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, góp vốn cổ phần, liên doanh
vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực quan trọng, cần thiết phải có sự tham gia của Nhà nước.
+Chi bổ sung dự trừ nhà nước dưới dạng bổ sung cho dự phòng ngân sách trung ương.
+Chi hỗ trợ tài chính, bổ sung vốn, hỗ trợ và thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp, tổ
chức kinh tế theo quy định của pháp luật.
Trang - 7
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
+Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước do
cơ quan trung ương thực hiện
+Chi hỗ trợ các tổ chức tài chính của nhà nước do trung ương quản lý
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính trung ương.
- Chi bổ sung cho ngân sách địa phương
- Chi cho vay theo quy định của pháp luật.
- Chi viện trợ
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
c. Các khoản thu của NS địa phương
* Thu cố định: Khoản thu phát sinh tại địa phương và địa phương được hưởng 100%, bao
gồm:
+Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin,
văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học công nghệ môi trường các hoạt động sự nghiệp
khác do địa phương quản lý.
+Chi cho an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội (phần giao cho địa phương);
+Chi cho hoạt động của cơ quan nhà nước, Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội ở địa
phương…
+Chi hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở địa
phương theo quy định của pháp luật
+Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý
+Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý
+Trợ giá theo chính sách của nhà nước
- Chi đầu tư phát triển.
+Đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội do địa phương quản lý
+Đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính nhà nứoc theo quy định
pháp luật.
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luât
-Chi trả nợ gốc và lãi những khoản tiền huy động cho đầu tư xây dựng công trình, kết cấu
hạ tầng thông qua việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương.
- Chi bổ sung cho ngân sách Nhà nước cấp dưới.
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
Chương 3: PHÁP LUẬT VỀ QUÁ TRÌNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
3.1. Chế độ lập dự toán NSNN
3.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động lập dự toán ngân sách nhà nước
Lập dự tóan NSNN là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đối với tòan bộ các khâu
của quá trình quản lý ngân sách. Lập dự tóan ngân sách là quá trình xây dựng và quyết định kế
họach thu chi của ngân sách nhà nước trong một năm. Và việc phân bổ các nguồn lực phù hợp với
chính sách của nhà nước. Lập dự toán NSNN bao gồm hai loại công việc:
- Xây dựng dự toán NSNN là công việc thuộc trách nhiệm của hệ thống cơ quan quản lý
nhà nước, trong đó cơ quan có trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức chỉ đạo là Chính Phủ. Giúp
CP thực hiện trọng trách này là các bộ, ngành ở TƯ, ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương theo
tế, các chỉ tiêu liên quan và các quy định của pháp luật về thu ngân sách;
+ Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào những dự án đầu tư có đủ
các điều kiện bố trí vốn theo quy định tại Quy chế quản lý vốn đầu tư và xây dựng và phù hợp với
khả năng ngân sách hàng năm, kế hoạch tài chính 5 năm; đồng thời ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp
với tiến độ triển khai của các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định đang thực
hiện;
+ Đối với chi thường xuyên, việc lập dự toán phải tuân theo các chính sách, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
+ Đối với chi trả nợ, bảo đảm bố trí chi trả đủ các khoản nợ đến hạn (kể cả nợ gốc và trả
lãi) theo đúng nghĩa vụ trả nợ;
+ Đối với vay bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, việc lập dự toán phải căn cứ vào cân
đối ngân sách, khả năng từng nguồn vay, khả năng trả nợ và mức bội chi ngân sách theo quy định
của cấp có thẩm quyền.
- Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, phân cấp quản lý ngân sách. Đối
với dự toán ngân sách chính quyền địa phương các cấp, việc lập dự toán trong kỳ ổn định ngân
sách căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối từ ngân sách
cấp trên đã được giao; đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào chế độ phân cấp
ngân sách và dự toán thu, chi ngân sách của từng địa phương.
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
dự toán ngân sách nhà nước năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán
ngân sách; hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về lập dự toán ngân sách ở các cấp địa
phương.
- Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo.
- Tình hình thực hiện dự toán ngân sách một số năm trước và một số năm gần kề.
3.1.3. Trình tự, thủ tục lập dự toán ngân sách nhà nước
a) Hướng dẫn lập dự toán ngân sách
- Trước ngày 31 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị về việc xây dựng kế họach
phát triển kinh tế xã hội và dự tóan NSNN năm sau.
Trang - 10
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
sách tỉnh (gồm dự toán ngân sách huyện, xã và dự toán ngân sách cấp tỉnh), dự toán chi chương
trình mục tiêu quốc gia, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh để trình Thường trực Hội đồng nhân dân
tỉnh xem xét trước khi báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bộ quản lý lĩnh vực giáo dục
- đào tạo, khoa học công nghệ (đối với dự toán chi giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ), các cơ
quan Trung ương quản lý chương trình mục tiêu quốc gia (phần dự toán chi chương trình mục tiêu
quốc gia) chậm nhất vào ngày 25 tháng 7 năm trước.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn cụ thể việc lập dự toán ngân sách các cấp ở địa
phương phù hợp với yêu cầu, nội dung và thời gian lập dự toán ngân sách tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương.
Lập dự toán ngân sách nhà nước và ngân sách trung ương
Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, cơ quan liên quan,
xem xét dự toán thu, chi ngân sách do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ
quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo, dự toán chi ngân
sách nhà nước theo lĩnh vực (đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ), chi chương
trình mục tiêu quốc gia do các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia báo cáo, nhu cầu
trả nợ và khả năng vay; tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước, lập phương án phân
bổ ngân sách trung ương trình Chính phủ.
Trang - 11
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
c) Biểu quyết ngân sách nhà nước
- Dự tóan ngân sách phải được Ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội xem xét, đánh gía và ủy
ban này xẽ có những ý kiến cụ thể báo cáo trước Quốc hội.
- Các báo cáo có liên quan đến dự tóan NS phải được gửi đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là 10
ngày trước ngày họp Quốc hội. Quốc hội sẽ thảo luận dự tóan ngân sách. Sau khi thảo luận, Quốc
hội sẽ biểu quyết ngân sách nhà nước. Nếu quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết thông
qua thì Quốc hội sẽ ra Nghị quyết về việc phê chuẩn dự toán NSNN. Như vậy Dự tóan NSNN
được Quốc hội phê chuẩn trở thành một đạo luật của nhà nước mà mọi cá nhân và tổ chức từ trung
ương đến địa phương có nghĩa vụ chấp hành.
- Trường hợp dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương chưa được
Quốc hội quyết định, Chính phủ lập lại dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách
nhân dân tỉnh quyết định.
3) Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Uỷ ban nhân dân cấp trên;
Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa
phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày Hội
đồng nhân dân cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân sách.
Trang - 12
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
4) Sau khi nhận được dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao; các đơn vị dự toán
phải tổ chức phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách cho từng đơn vị trực thuộc, kể cả dự toán
chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền (nếu có) trước ngày 31 tháng 12 năm trước.
3.2 Chế độ chấp hành dự toán NSNN
Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành
chính nhằm biến các chỉ tiêu thu chi trong kế họach NSNN trở thành hiện thực
1
. Chấp hành ngân
sách bao gồm chấp hành thu ngân sách, chấp hành chi ngân sách và họat động điều chỉnh dự tóan
ngân sách.
3.2.1. Chấp hành thu ngân sách
Chấp hành thu ngân sách là quá trình tổ chức thu và quản lý nguồn thu của ngân sách nhà
nước. Hệ thống tổ chức thu ngân sách nhà nước bao gồm các cơ quan thuế, hải quan và các cơ
quan khác được CP cho phép hoặc dược Bộ TC ủy quyền thu. Các cơ quan này phải có trách
nhiệm kiểm sóat các nguồn thu NSNN, xác định và thông báo số phải nộp cho NSNN cho các cá
nhân, tổ chức. Các tổ chức cá nhân có nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí
và các khoản thu khác vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Trường hợp chậm nộp
mà không được phép sẽ bị cưỡng chế nộp theo quy định của pháp luật.
Toàn bộ các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước,
trừ một số khoản cơ quan thu có thể thu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào Kho bạc Nhà nước
theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
3.2.2. Chấp hành chi ngân sách
Chấp hành chi NSNN là quá trình tổ chức chi ngân sách nhà nước và quản lý các khỏan chi
bản đến cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách.
7). Sau khi phương án phân bổ ngân sách được cơ quan tài chính thống nhất, thủ trưởng cơ quan,
đơn vị phân bổ ngân sách quyết định giao dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; đồng gửi
cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để phối hợp
thực hiện.
8) Trường hợp chậm phân bổ hoặc kết quả phân bổ chưa được cơ quan tài chính thống nhất thì cơ
quan tài chính, Kho bạc Nhà nước tạm cấp kinh phí theo quy định .
9) Khi cần điều chỉnh dự toán ngân sách giữa các đơn vị trực thuộc mà không làm thay đổi tổng
mức và chi tiết dự toán được giao, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách lập giấy đề nghị
điều chỉnh phân bổ dự toán, gửi cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước cùng cấp.
10) Trường hợp đơn vị dự toán cấp I cần phải điều chỉnh dự toán đã giao cho các đơn vị trực thuộc
song không làm thay đổi tổng mức dự toán Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân đã giao
cho đơn vị thì phải có sự thống nhất của cơ quan tài chính cùng cấp.
11). Trường hợp cơ quan tài chính phát hiện việc chấp hành dự toán ngân sách của đơn vị sử dụng
ngân sách chậm, có khả năng không hoàn thành được mục tiêu hoặc chi không hết dự toán được
giao thì có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách, hoặc đề nghị Thủ tướng Chính phủ,
Uỷ ban nhân dân có giải pháp kịp thời hoặc điều chỉnh nhiệm vụ, dự toán để bảo đảm sử dụng
ngân sách đúng theo mục tiêu, chế độ quy định, tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách nhà nước.
12) Trường hợp được bổ sung dự toán từ nguồn dự phòng ngân sách hoặc tăng thu ngân sách theo
quyết định của cấp có thẩm quyền, đơn vị dự toán cấp I phải phân bổ cho đơn vị sử dụng theo
đúng mục tiêu được giao gửi cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước cùng cấp và Kho bạc Nhà nước
nơi giao dịch.
3.2.3. Điều chỉnh dự tóan NSNN
Trong quá trình chấp hành ngân sách, dự tóan NSNN sẽ đượ điều chỉnh trong các trường hợp sau:
1) Điều chỉnh dự toán ngân sách của chính quyền địa phương cấp dưới trong trường hợp dự toán
ngân sách của các cấp chính quyền địa phương chưa phù hợp với dự toán ngân sách nhà nước,
hoặc chưa phù hợp với dự toán ngân sách cấp trên, thực hiện như sau:
Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ, cơ quan tài chính báo cáo Uỷ ban nhân dân yêu cầu
Hội đồng nhân dân cấp dưới điều chỉnh dự toán ngân sách sau khi nhận được báo cáo quyết định
dự toán ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp dưới.
1
.
3.3.1.Về mặt số liệu
Số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ. Nội dung báo cáo quyết toán ngân
sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao (hoặc được cơ quan có thẩm quyền
cho phép) và chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước. Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ; chịu trách nhiệm về những
khoản thu, chi, hạch toán, quyết toán ngân sách sai chế độ.
Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp dưới gửi đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán
cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp phải gửi kèm các báo cáo sau đây:
1) Bảng cân đối tài khoản cuối ngày 31 tháng 12 và bảng cân đối tài khoản sau khi kết thúc thời
gian chỉnh lý quyết toán.
2) Báo cáo thuyết minh quyết toán năm; thuyết minh quyết toán phải giải trình rõ nguyên nhân đạt,
không đạt hoặc vượt dự toán được giao theo từng chỉ tiêu và những kiến nghị nếu có.
Báo cáo quyết toán năm, gửi các cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt phải có xác nhận của
Kho bạc Nhà nước cùng cấp về tổng số và chi tiết.
3.3.2. Về mặt nội dung
Báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán và của các cấp chính quyền địa phương
không được quyết toán chi lớn hơn thu. Cấp dưới không quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền
của ngân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình.
3.3.3. Về trình tự
3.3.3.1. Về trình tự lập, gửi, xét duyệt báo cáo thu, chi ngân sách nhà nước năm đối với đơn vị dự
toán
1) Sau khi kết thúc công tác khóa sổ kế toán cuối ngày 31 tháng 12, số liệu trên sổ sách kế toán
của đơn vị phải bảo đảm cân đối và khớp đúng với chứng từ thu, chi ngân sách của đơn vị và số
liệu của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước về tổng số và chi tiết; trên cơ sở đó đơn vị dự toán
tiến hành lập báo cáo quyết toán năm.
2) Ngoài mẫu biểu báo cáo quyết toán năm theo qui định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, đơn vị dự
toán còn phải gửi kèm báo cáo giải trình chi tiết các loại hàng hóa, vật tư tồn kho, các khoản nợ,
vay và tạm ứng, tạm thu, tạm giữ, tồn quỹ tiền mặt, số dư tài khoản tiền gửi của đơn vị dự toán để
3) Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; lập quyết
toán thu, chi ngân sách cấp huyện; tổng hợp, lập báo cáo thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
huyện và quyết toán thu, chi ngân sách huyện bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và
quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã trình Uỷ ban nhân dân huyện xem xét gửi Sở tài chính, đồng
thời trình Hội đồng nhân dân huyện phê chuẩn.
4) Sở tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu ngân sách nhà nước phát sinh trên địa bàn
huyện, quyết toán thu, chi ngân sách huyện; lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp tỉnh; tổng hợp
lập quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh và báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách
địa phương bao gồm: quyết toán thu, chi ngân sách cấp tỉnh; quyết toán thu, chi ngân sách cấp
huyện và quyết toán thu chi ngân sách cấp xã trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét gửi Bộ Tài
chính, đồng thời trình Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn.
5) Bộ Tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh,
quyết toán thu, chi ngân sách địa phương và quyết toán thu, chi ngân sách của các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương; lập báo cáo quyết toán thu, chi
ngân sách trung ương;
6) Cơ quan thu có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn các đơn vị, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ nộp
ngân sách nhà nước lập các chứng từ thu ngân sách nhà nước theo đúng mẫu quy định và đúng
Mục lục ngân sách nhà nước; lập, báo cáo thu ngân sách nhà nước tháng, quý và báo cáo quyết
toán thu ngân sách nhà nước năm theo chế độ quy định.
7) Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm tổ chức hạch toán kế toán thu, chi ngân sách nhà nước theo
Mục lục ngân sách nhà nước. Định kỳ tháng, quý, năm lập báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi
ngân sách cho cơ quan tài chính và các cơ quan hữu quan theo quy định của Bộ Tài chính.
Trang - 16
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
8) Việc thẩm định báo cáo quyết toán năm thực hiện theo quy định tại Điều 74 của Nghị định số
60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ.
3.3.3.3. Thời gian gửi báo cáo quyết toán năm và thời gian thẩm định quyết toán năm
1) Đối với đơn vị dự toán: đơn vị dự toán cấp I của ngân sách trung ương tổng hợp gửi Bộ Tài
chính chậm nhất trước ngày 1 tháng 10 năm sau,
2) Đối với ngân sách các cấp chính quyền địa phương: Sở Tài chính tổng hợp trình Uỷ ban nhân
phẩm quốc nội và chỉ số tăng trưởng kinh tế là những chỉ tiêu chủ yếu chi phối tỷ lệ giá trị sản
phẩm xã hội mà NN có thể tập trung vào quỹ NSNN. Bên cạnh đó, những yếu tố khác cũng có ảnh
hưởng nhất định tới mức độ tập trung các nguồn thu vào NSNN, bao gồm: tiềm năng và thực tế
khai thức TNTN, chính sách chi tiêu của CP, quan hệ đối ngoại của NN và bộ máy tổ chức hành
thu.
- Thu NSNN được thực hiện thông qua hai cơ chế pháp lý điển hình là bắt buộc và tự
nguyện, tong đó cơ chế bắt buộc được xem là chủ yếu.
Trang - 17
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
- Chủ thể tham gia vào hoạt động thu NSNN gồm hai nhóm: Chủ thể đaị diện cho NN
trong việc thực hiện quyền thu (CQNN: CQ tài chính, Cơ quan thuế, CQ hải quan, các CQ khác
được BTC ủy quyền và kho bạc NN) và chủ thể đóng góp khoản thu NS theo nghĩa vụ hoặc dựa
trên tinh thần tự nguyện
Pháp luật về thu ngân sách Nhà nước là một hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ thu ngân sách Nhà nước và các quan hệ xã hội phát sinh
liên quan trực tiếp đến hoạt động thu ngân sách Nhà nước trong quá trình Nhà nước thực hiện
các hoạt động thu ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào nội dung của các quy phạm pháp luật, pháp luật về thu ngân sách Nhà nước
bao gồm các bộ phận sau:
- Pháp luật về thu ngân sách Nhà nước từ thuế.
- Pháp luật về thu ngân sách Nhà nước từ phí, lệ phí.
- Pháp luật về các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước như vay nợ, tiền viện trợ
4.1.2. Phân loại các khoản thu của ngân sách Nhà nước:
Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu ngân sách Nhà nước được chia thành 02 loại:
Nhóm I: Thu từ thuế, phí, lệ phí có tính chất thuế.
Nhóm II: Thu không mang tính chất thuế, bao gồm một số nhóm tiêu biểu như sau:
- Lợi tức của Nhà nước thu được từ hoạt động góp vốn tại các tổ chức kinh tế.
- Tiền bán và cho thuê tài sản của Nhà nước; tiền thu hồi vốn của nhà nước từ các cơ sở
kinh tế.
- Viện trợ không hoàn lại và vay của các tổ chức Chính phủ, phi chính phủ ở nước ngoài.
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Thuế thu nhập cá nhân
- Thuế nhà đất.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
4.2.1.2 Các khoản thu từ phí, lệ phí:
- Phí là khỏan thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng thuần túy
theo quy định của pháp luật và là khỏan tiền mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi sử dụng các dịch
vụ công cộng đó.
Dịch vụ công cộng thuần túy là những dịch vụ mà nhà nước có thể lượng hóa được mức độ
sử dụng của từng cá nhân tổ chức vì vậy mà nhà nước có thể thu lại một phần hoặc tòan bộ chi phí
đã bỏ ra để cung cấp dịch vụ cho các đối tượng này thông qua chế độ thu phí.
- Lệ phí là những khỏan thu gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý của
nhà nước cho các cá nhân và tổ chức nhằm phục vụ cho công việc quản lý hành chính nhà nước
theo qui định của pháp luật. Cần lưu ý là khỏan tiền đó không phải là giá của dịch vụ mà là khỏan
thu phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà nước.
Phân cấp thẩm quyền quy định về phí và lệ phí
1) Đối với phí
Chính phủ quy định đối với một số phí quan trọng, có số thu lớn, liên quan đến nhiều
chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước. Trong từng loại phí do Chính phủ quy định, Chính phủ
có thể ủy quyền cho Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định mức thu đối với từng trường hợp cụ thể cho
phù hợp với tình hình thực tế.
- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định đối với một số khoản phí về quản lý đất đai, tài
nguyên thiên nhiên; một số khoản phí gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nước của chính
quyền địa phương.
- Bộ Tài chính quy định đối với các khoản phí còn lại để áp dụng thống nhất trong cả nước.
- Thẩm quyền quy định đối với phí được quy định cụ thể trong Danh mục chi tiết phí, lệ
phí ban hành kèm theo Nghị định 24/CP ngày 06 tháng 03 năm 2006 Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh Phí và Lệ phí. Thẩm quyền quy định đối với phí bao gồm việc quy định mức thu,
chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng đối với từng phí cụ thể.
- Căn cứ vào quy định của pháp luật, tổ chức, cá nhân được thu phí có trách nhiệm xây dựng
mức thu kèm theo đề án thu phí (gồm: phương thức đầu tư, thời gian đầu tư hoàn thành, thời gian
đưa dự án đầu tư vào sử dụng, thời gian dự kiến bắt đầu thu phí, dự kiến mức thu và căn cứ xây
dựng mức thu, đánh giá khả năng đóng góp của đối tượng nộp phí, hiệu quả thu phí và khả năng
thu hồi vốn) để trình cơ quan có thẩm quyền quy định về phí (Chính phủ, Bộ Tài chính hoặc Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh) xem xét, quyết định.
Mức thu phí trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung cần có
ý kiến của cơ quan tài chính cùng cấp, trừ trường hợp cơ quan xây dựng mức thu là cơ quan tài
chính. Ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính phải được gửi kèm trong hồ sơ và là một căn cứ
pháp lý để cơ quan có thẩm quyền quy định về phí xem xét, quyết định.
* Đối với lệ phí
Mức thu lệ phí được ấn định trước bằng một số tiền nhất định đối với từng công việc quản
lý nhà nước được thu lệ phí, không nhằm mục đích bù đắp chi phí để thực hiện công việc thu lệ
phí. Riêng đối với lệ phí trước bạ, mức thu được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên giá trị tài sản
trước bạ theo quy định của Chính phủ.
Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định mức thu đối với những lệ phí thuộc thẩm quyền của
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định, để bảo đảm việc thi hành thống nhất trong cả nước.
4.2.2 Các khoản thu khác ngoài thuế, phí, lệ phí.
4.2.2.1 Các khoản thu ngân sách NN từ tài sản do nhà nước quản lý
Đây là những nguồn thu NS từ hoạt động kinh tế của NN thông qua việc NN đầu tư vốn để
thành lập, góp vốn mua cổ phần của DN. Bên cạnh đó với tư cách là người đại diện cho nhân dân
Trang - 20
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
thực hiện quản lý TS chung, NN tiến hành thu về NS từ các chủ thể nắm giữ, quản lý và được đầu
tư từ TS NN
Các khoản thu từ TS do NN quản lý bao gồm:
- Thu từ các khoản do NN đầu tư: Thu hồi vốn của NN từ các cơ sở kinh tế và thu nhập
và lợi nhuận từ vốn góp của NN ở các tổ chức kinh tế.
- Thu từ hoạt động sự nghiệp như GD, NCKH, phát thanh truyền hình
- Thu từ tiền bán, cho thuê các loại TS của NN (kể cả cho thuê mặt đất, mặt nước, vùng
Cơ quan tài chính và các cơ quan khác: sẽ tiến hành thu các khoản thu còn lại cho ngân
sách nhà nước theo sự cho phép của Chính phủ hay được Bộ tài chính ủy quyền ( Tòa án thu án
phí, Bệnh viện thu viện phí, Phòng chông chứng thu phí công chứng…).
Các chủ thể đóng góp vào ngân sách nhà nước: Các chủ thể có nghĩa vụ tài chính đối
với nhà nước hoặc thực hiện các khoản đóng góp tự nguyện vào NSNN
4.3.2. Các phương thức thu ngân sách nhà nước
Thu trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước:
Trang - 21
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Đối tượng áp dụng: Tổ chức, cá nhân có địa điểm kinh doanh cố định, những đối tượng
mà có thể quản lý đươc trên giấy tờ.
Qui trình thu:
- Cơ quan thu sẽ gửi thông báo thu đến đối tượng nộp. Thông báo nêu rõ ai nộp, lý do, số
tiền, thời gian nộp hoặc chủ thể nộp thuế tự kê khai, tính số thuế phải nộp và gửi cho cơ quan có
thẩm quyền thu (đối với các chủ thể theo chế độ tự kê khai)
- Dựa trên thông báo của cơ quan thu, đối tượng nộp đến nộp trực tiếp tại Kho bạc Nhà
nước theo yêu cầu. Kho bạc Nhà nước sau khi thu đủ tiền phải giao 2 biên lai thu tiền cho đối
tượng nộp.
- Đối tượng nộp lại 1 biên lai cho cơ quan thu và tự quản lý biên lai còn lại để chứng minh
việc hòan thành nghĩa vụ của mình.
Thu thông qua cơ quan thu:
Đối tương áp dụng: Đối tượng không có địa điểm kinh doanh cố định, hộ tiểu thương có
mức thu nhập nhỏ, tiền thu thuế sử dụng đất nông nghiệp thuế nhà đất, các khoản thu khác ở các
địa bàn cửa khẩu, nơi không tổ chức được điểm thu của Kho bạc Nhà nước.
Qui trình thu:
- Thông báo như trên
- Đối tượng nộp theo thông báo thu sẽ đến nộp tiền trực tiếp tại cơ quan thu. Cơ quan thu
có nghĩa vụ bố trí cán bộ thu. Sau khi thu tiền cán bộ thu có nghĩa vụ xuất biên lại cho đối tượng
nộp.
- Cơ quan thu có nghĩa vụ nộp tòan bộ số tiền thu được cho Kho bạc Nhà nước theo định
thường xuyên. Trong đó, chi đầu tư phát triển mang tính chất của khoản chi tích luỹ. Chi thường
xuyên còn được hiểu là chi có tính chất tiêu dùng.
Chi có tính chất tích lũy hay còn gọi là chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi
phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, gắn liền với việc xây dựng, mở rộng cơ sở hạ tầng
kinh tế. Có thể nói, chi đầu tư phát triển là khoản chi tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nhằm phát triển
năng lực sản xuất, tăng tích luỹ tài sản của nền kinh tế quốc dân. Việc nhà nước thực hiện chi đầu
tư phát triển chính là việc ngân sách nhà nước bỏ vốn vào các hoạt động kinh tế xã hội để hướng
đến những lợi ích kinh tế xã hội lớn hơn trong tương lai. Đây là những khoản chi chiếm tỷ trọng
lớn nhưng ít phát sinh lợi ích ngay lập tức. Điều này làm cho các khoản chi đầu tư phát triển ít thu
hút tư nhân tham gia đầu tư. Chính vì vậy mà vai trò của nhà nước rất quan trọng trong việc thực
hiện các khoản chi này. Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng, chi đầu tư phát triển thường có những
khoản chi lớn hay được kể đến là:
-Chi đầu tư xây dựng cơ bản. Khoản chi này được ngân sách nhà nước dùng để chi cho
việc đầu tư, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội mà không có khả năng thu hồi
vốn. Khoản chi này nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế xã hội.
-Chi đầu tư, hỗ trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, lĩnh vực quan trọng mà
cần thiết phải có sự tham gia của nhà nước Nhà nước. Những khoản chi này góp phần quan trọng
để nhà nước thực hiện vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội theo đúng múc
tiêu đã đề ra trong từng thời kỳ.
-Chi dự trữ Nhà nước là khoản chi để mua hàng hoá, vật tư dự trữ nhà nước có tính chiến
lược của quốc gia hoặc hàng hoá, vật tư dự trữ mang tính chuyên ngành.
-Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình, mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước chẳng hạn
như cho chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch nông
thôn, phủ xanh đồi trọc…
Chi đầu tư phát triển có những đặc điểm như sau:
-Chi đầu tư phát triển là khoản chi lớn như không có tính ổn định do thứ tự và tỉ trọng ưu
tiên trong chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước cho từng nội dung chi, từng lĩnh vực kinh
tế xã hội ở mỗi giai đoạn là khác nhau.
-Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với việc
của nhà nước về quản lý kinh tế xã hội trong từng năm ngân sách. Đây là khoản chi chủ yếu nhằm
trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước, quốc phòng an ninh, các hoạt động sự
nghiệp
-Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước gắn liền với cơ cấu tổ chức
của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng các hàng hoá công cộng.
Một quốc gia với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước càng gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả thì khoản chi
thường xuyên càng được tiết kiệm và ngược lại.
-Chi thường xuyên cần được quản lý theo dự toán và được sử dụng theo nguyên tắc tiết
kiệm hiệu quả. Trong quá trình phân bổ và lập kế họach chi để đưa vào trong dự toán phải luôn
tính toán sao cho chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả tốt nhất Những khoản chi thường xuyên
một khi đã được ghi nhận vào dự toán và được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua sẽ được
xem là chỉ tiêu pháp lệnh. Các đơn vị quản lý tài chính và chủ thể thụ hưởng ngân sách nhà nước
có nghĩa vụ chấp hành tuyệt đối. Yêu cầu này nhằm hướng đến việc đảm bảo mục tiêu cân đối
ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, chi ngân sách nhà nước còn bao gồm chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu
tư, chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính và chi bổ sung cho ngân sách nhà nước cấp dưới.
5.1.2.3 Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư:
Khoản nợ gốc thực chất đó là số tiền nhà nước đã vay của các chủ nợ trong và ngoài nước
đến hạn phải thanh toán. Chi trả nợ bao gồm:
-Trả nợ trong nước: đây là những khoản nợ mà nhà nước đã vay của các tầng lớp dân cư,
đoàn thể xã hội, tổ chức thông qua hình thức phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu, công trái…). Ở
đây, Chính phủ là chủ thể đứng ra vay và phải đảm bảo thanh toán đầy đủ, đúng hạn cả gốc, lãi
cho người chủ sở hữu công trái, trái phiếu của Chính phủ. Việc thanh toán chi trả sẽ đựoc thực
hiện tại kho bạc nhà nước. Nguồn vốn thanh toán sẽ do ngân sách nhà nước đảm nhận. Cụ thể là,
ngân sách nhà nước ở trung ương có trách nhiệm chi trả các loại giấy tờ có giá phát hành phục vụ
cho các công trình trung ương. Hàng năm, Bộ Tài chính có trách nhiệm lập kế hoạch thanh toán
trái phiếu trình Chính phủ phê duyệt và đưa vào dự toán ngân sách nhà nước. Căn cứ vào kế hoạch
được duyệt, cơ quan tài chính chuẩn bị nguồn vốn để kho bạc nhà nước thanh toán trái phiếu, công
trái đến hạn. Trường hợp công trái, trái phiếu đã đến hạn thanh toán mà chủ sở hữu chưa đến thanh
toán thì trái phiếu, công trái đó sẽ được bảo lưu cả gốc lẫn lãi trong thời gian phát hành và được
phòng chống, khắc phục hậu quả của thiên tai, tai nạn trên diện rộng, thực hiện các nhiệm vụ quan
trọng về quốc phòng an ninh, hoặc các nhiệm vụ cần thiết, cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán
để tránh không làm ảnh hưởng, xáo trộn đến sản xuất, đời sống xã hội. Ngoài ra, nếu nguồn thu
ngân sách nhà nước, kể cả từ vay nợ nhằm mục đích bù đắp bội chi cho ngân sách nhà nước không
đạt mức bội chi mà dự toán ngân sách nhà nước đã tiên liệu theo quyết định của cơ quan quyền lực
ở trung ương và địa phương, trường hợp này quỹ dự trữ tài chính sẽ được sử dụng nhằm đảm bảo
yêu cầu cân đối ngân sách trong năm ngân sách.
Về thẩm quyền quyết định sử dụng quỹ dự trữ tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định đối với việc tạm ứng cho ngân sách nhà nước từ quỹ
dự trữ tài chính. Trường hợp xử lý cân đối ngân sách, đối với quỹ dự trữ tài chính ở trung ương,
Thủ tướng Chính phủ sẽ có thẩm quyền quyết định. Đối với quỹ dự trữ tài chính ở địa phương sẽ
do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Nếu không xét đến trường hợp tạm ứng từ quỹ dự trữ tài
chính phải được hoàn trả ngay trong năn ngân sách, việc sử dụng quỹ dự trữ tài chính cho các mục
đích khác cần phải đảm bảo yêu không bảo toàn số dư của quỹ dự trữ tài chính. Theo đó, không
được sử dụng vượt quá 30% số dư của Quỹ dự trữ tài chính tại thời điểm bắt đầu năm ngân sách.
Ngoài ra, quỹ dự trữ tài chính phân biệt với quỹ dự phòng ngân sách-một khoản chi được
bố trí từ nội dung chi đầu tư phát triển.
5.1.2.5 Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới:
Mục đích của khoản chi này nhằm đảm bảo tính công bằng, yêu cầu phát triển cân đối giữa
các vùng địa phương. Luật Ngân sách nhà nước 2002 đã có sự mở rộng hơn so với trước đây.
Trang - 25