Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 1
L I M UỜ ỞĐẦ 1
CH NG 1 : NH NG V N LÝ LU N CHUNG V CH NH SÁCH TI N T ƯƠ Ữ Ấ ĐỀ Ậ Ề Í Ề Ệ
2
1.1. Khái ni mệ 2
1.2. M c tiêu c a chính sách ti n tụ ủ ề ệ 3
1.2.1. Ki m soát l m phátể ạ 3
1.2.2. T o vi c l m, gi m b t th t nghi pạ ệ à ả ớ ấ ệ 4
1.2.3. n nh v t ng tr ng kinh t .Ổ đị à ă ưở ế 4
1.2.4. n nh giá tr i ngo i c a ng ti nỔ đị ị đố ạ ủ đồ ề 5
1.2.5. Xung t gi a các m c tiêuđộ ữ ụ 5
1.2.6. Các m c tiêu trung gianụ 6
1.3. C c u chính sách ti n t :ơ ấ ề ệ 6
1.4. Ph i h p chính sách t i khoá v ti n tố ợ à à ề ệ 7
1.5. Các công c c a chính sách ti n tụ ủ ề ệ 7
1.5.1. Nghi p v th tr ng mệ ụ ị ườ ở 8
1.5.2. D tr b t bu c.ự ữ ắ ộ 9
1.5.3. Chi t kh u, tái chi t kh uế ấ ế ấ 10
1.5.4. Chính sách lãi su t cho vay v lãi su t ti n g i.ấ à ấ ề ử 12
1.5.5. Cung ng ti n m t pháp nh ứ ề ặ đị 13
1.5.6. Ki m soát tín d ng ch n l cể ụ ọ ọ 14
1.5.7. n nh h n m c tín d ngẤ đị ạ ứ ụ 14
CH NG 2:TH C TR NG I U HÀNH CH NH SÁCH TI N T VI T ƯƠ Ự Ạ Đ Ề Í Ề ỆỞ Ệ
NAM 16
2.1. Chính sách ti n t Vi t Nam ề ệ ở ệ 16
2.1.1 Tình hình kinh t ti n t ế ề ệ 16
2.1.1.1.Tình hình t giáỷ 16
2.1.1.2 Tình hình l m phát ạ 17
2.1.1.3.Tình hình th t nghi p ấ ệ 17
có hi u qu nghi p v th tr ng m .ệ ả ệ ụ ị ườ ở 32
3.1.2. Ban h nh quy ch v ho t ng c a th tr ng m v hình th nh à ế ề ạ độ ủ ị ườ ở à à
c ch can thi p linh ho t, k p th i c a NHNN trên th tr ng m ơ ế ệ ạ ị ờ ủ ị ườ ở 32
3.1.3. Các bi n pháp liên quan khác:ệ 33
3.2. Các gi i pháp i v i chính sách lãi su t.ả đố ớ ấ 33
3.2.1. C n có m t chính sách lãi su t ng b .ầ ộ ấ đồ ộ 33
3.2.2. Th c hi n lãi su t c b n ti n t i t do hoá lãi su t .ự ệ ấ ơ ả để ế ớ ự ấ 34
3.2.3. ã n lúc c n m t lãi su t s n.Đ đế ầ ộ ấ à 35
3.3. C n có các công c gián ti p i u h nh CSTT.ầ ụ ế để đ ề à 37
3.4. V các th t c h nh chính, b máy h nh chính.ề ủ ụ à ộ à 37
3.5. Chính sách ti n t c n c s d ng m t cách ng b cùng v i các ề ệ ầ đượ ử ụ ộ đồ ộ ớ
chính sách qu c t khác.ố ế 38
K T LU NẾ Ậ 39
SVTH: Trương Sĩ Tú
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
LỜI MỞ ĐẦU
Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam từ nay đến 2020 được khẳng định tại hội
nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII là "Tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực đồng thời nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu
quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế".
Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đường lối đổi mới
là phải ổn định được được môi trường kinh tế vĩ mô và có các chính sách kinh tế phù
hợp. Trong đó chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế quan trọng tác động mạnh
mẽ nhiều mặt đến các biến số kinh tế vĩ mô.
Trong các công cụ của chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất được coi là một
công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua tác động điều chỉnh các mối quan hệ trên
thị trường tài chính, tiền tệ. Vì vậy muốn ổn định thị trường tài chính tiền tệ, tạo điều
kiện ổn định môi trường kinh tế vĩ mô không thể không đề cập đến vai trò của chính
sách lãi suất trong hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia và trong hệ
Với chính sách này ngân hàng Trung ương sẽ cung thêm tiền cho nền kinh tế,
tăng lượng tiền cho lưu thông để khuyến khích đầu tư, gia tăng sản lượng, tạo việc làm
cho người lao động và góp phần tạo sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Ở mỗi quốc gia chính sách tiền tệ do Ngân hàng Trung ương vạch ra và chính
sách ngân hàng trung ương sẽ đưa nó vào vận hành trong thực tế nhằm thực hiện các
mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở đó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, tình hình
của mỗi quốc gia mà xác định đâu là mục tiêu chính.
Một chính sách tiền tệ hoàn hảo sẽ xây dựng được một "tứ giác thần kỳ" ứng với
một tốc độ lạm phát 1 - 3%, thất nghiệp vào khoảng 4%, tăng trưởng kinh tế phải đạt
từ 3 - 5% và làm sao cho số dư trong cán cân thanh toán quốc tế chiếm từ 2 - 3% trên
GNP. Một quốc gia sẽ cực kỳ ổn định nếu nó đạt được tứ giác thần kỳ này.
Vì chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các chính sách
kinh tế tài chính cuả quốc gia và trong hệ thống đó các bộ phận cấu thành có mối quan
hệ tác động hữu cơ với nhau. Do vậy một chính sách tiền tệ hữu hiệu đòi hỏi phải được
thiết lập và vận hàng trong mối quan hệ hữu cơ với các chính sách khác đứng trên giác
độ toàn cục chứ không phải tồn tại với tư cách là một yếu tố độc lập mặc dù nó cực kỳ
quan trọng. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ có một vai trò quan trọng tương đối độc lập
với các chính sách khác xuất phát từ 3 luận điểm sau:
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:2
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
Một là: Không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm
Hai là: Không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm
Ba là: Không thể có tiết kiệm nếu thiếu sự ổn định giá cả và tiền tệ. Chính vì vậy
chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tác động vào nhiều hướng tạo ra đầu tư, tạo ra tiết
kiệm và tạo ra sự ổn định tiền tệ, giá cả.
1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.2.1. Kiểm soát lạm phát
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian. Khi lạm phát ở mức
độ cao (lạm phát phi mã, siêu lạm phát) thì sẽ dẫn tới phân phối lại thu nhập và của cải
giữa các tầng lớp giai cấp khác nhau. Khi giá cả tăng lên một cách bất thường thì
Khi thất nghiệp mức cao, sản xuất sút kém các nguồn lực không được sử dụng
hết, thu nhập của dân cư giảm sút. Khó khăn kinh tế tràn sang lĩnh vực xã hội, nhiều
hiện tượng tiêu cực phát triển, tác hại của thất nghiệp là rất rõ ràng. Người ta có thể
tính toán được sự thiệt hại kinh tế. Đó là sự giảm sút to lớn về sản lượng và đôi khi
còn kéo theo nạn lạm phát to lớn. Sự thiệt hại về kinh tế do thất nghiệp mang lại ở
nhiều nước lớn đến mức không thể so sánh với thiệt hại do tính không hiệu quả của bất
cứ hoạt động kinh tế vĩ mô nào khác. Những kết quả điều tra xã hội học cũng cho thấy
thất nghiệp luôn gắn với các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp tổn thương về mặt tâm
lý và niềm tin của nhiều người, có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống,làm sói
mòn nếp sống lành mạnh và có thể ảnh hưởng đến cả chính trị như biểu tình.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp chứ không
phải là làm cho thất nghiệp bằng không mà ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, khi nền
kinh tế toàn dụng nhân công.
Chúng ta có thể thấy rằng khi nền kinh tế phát triển thì công ăn việc làm được tạo
ra nhiều hơn, thất nghiệp giảm đi và ngược lại khi nền kinh tế trì trệ thì công ăn việc
làm bị suy giảm, thất nghiệp tăng lên. Arthur Okun đã phát hiện ra một quy luật rằng
khi GNP thực tế giảm 2% so với GNP tiềm năng thì mức thất nghiệp tăng 1%.
Định luật Okun có thể được coi làa chìa khoá cho các nhà vạch chính sách, ví dụ
để giảm 1% thất nghiệp hàng năm thì phải tăng GNP lên 2%/năm và như vậy cần phải
có một khối lượng gia tăng đầu tư là bao nhiêu hàng năm cho các ngành kinh tế để gia
tăng được sản lượng 2% mỗi năm.
Để tạo thêm việc làm, giảm bớt thất nghiệp ngân hàng Trung ương sẽ sử dụng
chính sách tiền tệ mở rộng, tăng lượng cung tiền, giảm lãi suất và từ đó kích thíc đầu
tư.
1.2.3. Ổn định và tăng trưởng kinh tế.
Mục đích cao nhất của chính sách tiền tệ là làm thế nào để phát triển kinh tế, gia
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:4
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
tăng sản lượng của nền kinh tế.
Mục tiêu ổn định tăng trưởng kinh tế có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:5
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
Nhìn chung giữa các mục tiêu tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát có mối quan
hệ chế ước lẫn nhau trong thời gian ngắn.
Khi kìm chế được lạm phát thì tăng trưởng chậm lại dẫn đến suy thoái, thất
nghiệp cao. Và khi mở rộng đầu tư khắc phục suy thoái, phát triển kinh tế thì sẽ tạo
được nhiều công ăn việc làm hơn, thất nghiệp giảm nhưng lại rất khó kìm chế lạm
phát.
1.2.6. Các mục tiêu trung gian
Trong nền kinh tế thị trường Ngân hàng Trung ương phải xác định các mục tiêu
trung gian của chính sách tiền tệ, nhằm đạt đến các mục tiêu cuối cùng của chính sách
này. Bởi lẽ, ngân hàng trung ương sử dụng các mục tiêu trung gian để có thể xét đoán
nhanh chóng tình hình thực hiện hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuối
cùng hơn là chờ cho đến khi nhìn thấy kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó.
Bằng việc tăng, giảm các khối lượng tiền tệ ngân hàng trung ương góp phần tác
động đến tăng, giảm tổng cung và tổng cầu tiền tệ của xã hội. Đồng thời Ngân hàng
Trung ương cũng có thể sử dụng công cụ lãi suất để tác động đến sự tăng giảm khối
lượng tiền tệ từ đó mà tác động đến sự tăng giảm khối lượng tiền tệ, từ đó tác động
đến tổng cung và tổng cầu xã hội. Tuy nhiên thực tiễn thi hành chính sách tiền tệ ở
nhiều mức cho phép người ta thiên về hướng lựa chọn các khối tiền tệ làm mục tiêu
trung gian hơn là lựa chọn lãi suất.
1.3. Cơ cấu chính sách tiền tệ:
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ bao gồm 3 thành phần cơ bản gắn
với 3 kênh dẫn nhập tiền vào lưu thông đó là chính sách tín dụng, chính sách ngoại hối
và chính sách đối với ngân sách nhà nước.
- Chính sách tín dụng. Thực chất của chính sách tín dụng là cung ứng phương
tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng
dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệ
thống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.
- Chính sách ngoại hối. Nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản có
để có được một tổng cầu theo dự kiến. Khó có thể đánh giá chính sách tác động của
chính sách tiền tệ.
Khi thực hiện chính sách tiền tệ để quản lý (kiểm soát) tổng cầu thường gặp phải
một trở ngại là lạm phát. Trong những điều kiện nào đó về cung, chính sách tiền tệ nới
lỏng có thể không đẩy được đường LM sang phải, toàn bộ gia tăng của mức cung tiền
không có ảnh hưởng đến tổng cầu mà chuyển toàn bộ vào giá làm cho lạm phát trở nên
trầm trọng.
1.5. Các công cụ của chính sách tiền tệ
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:7
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
1.5.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương mua bán các giấy tờ
có giá với mục đích tác động đến thị trường tiền tệ, điều hoà cung và cầu về giấy tờ
có giá, gây ảnh hưởng đến khối dự trữ của các ngân hàng thương mại tại ngân hàng
trung ương, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng này từ
đó làm thay đổi mức cung tiền.
Trên thị trường mở Ngân hàng trung ương chủ yếu mua bán trái phiếu của chính
phủ. Bằng cách mua trái phiếu ngân hàng trung ương làm tăng khối dự trữ của ngân
hàng thương mại. Khi đó, ngân hàng thương mại có thể mở rộng khả năng cho vay
gấp bội lần tuỳ theo mức dự trữ bắt buộc. Hơn nữa việc ngân hàng Trung ương mua
trái phiếu với lãi suất thấp góp phần tăng cung tín dụng từ đó làm lãi suất tín dụng hạ
thấp, kích thích các doanh nghiệp đi vay. Đây cũng là một cách gia tăng khối tiền tệ.
Ngược lại, bằng cách bán trái phiếu trên thị trường mở cho bất kỳ đối tượng nào,
ngân hàng Trung ương thu hút tiền vào làm giảm bớt khối tiền tệ. Kết quả làm cho dự
trữ của ngân hàng Thương mại tại ngân hàng Trung ương bị giảm , từ đó hạn chế khối
lượng cấp phát tín dụng của ngân hàng thương mại.
Nếu sự mua bán trái phiếu không có ngân hàng trung ương tham gia mà chỉ là
giữa các ngân hàng thương mại với nhau thì khối tiền tệ không thay đổi. Đó chỉ là một
sự di chuyển trái phiếu từ ngân hàng thương mại này sang ngân hàng thương mại khác
và một sự di chuyển ngược lại từ một phần dự trữ thặng dư của ngân hàng thừa vào dự
số giữ dự trữ bắt buộc và tổng số tiền ký thác của khách hàng tại ngân hàng trung gian.
Mục đích của việc thực hiện dự trữ bắt buộc là nhằm:
- Giới hạn khả năng thương mại của ngân hàng trung gian, tránh được trường
hợp ngân hàng này quá ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay quá mức, có thể
phương hại tới quyền lợi của người ký gửi tiền ở ngân hàng tức là đảm bảo an toàn
tiền gưỉ của khách hàng.
- Việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian ở ngân hàng trung ương còn là
một phương tiện để ngân hàng trung ương có thêm quyền lực để điều khiển hệ thống
ngân hàng tạo sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối với ngân hàng trung ương.
- Duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian trong những trường
hợp xảy ra tình trạng đồng loạt rút tiền gửi của công chúng, tránh được tình trạng
khủng hoảng ngân hàng.
Về nguyên tắc, khi ấn định một một dự trữ bắt buộc thấp, ngân hàng trung ương
muốn khuyến khích các ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của họ, tức là
muốn gia tăng khối lượng tiền tệ. Điều này sẽ kích thích được các hoạt động kinh tế,
tăng khả năng giao lưu các nguồn vốn tài chính giữa các doanh nghiệp, thể hiện một
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:9
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
chính sách tiền tệ nới lỏng. Ngược lại khi nâng cao mức dự trữ bắt buộc, ngân hàng
trung ương muốn giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian, báo hiệu một
chính sách tiền tệ thắt chặt. Điều này tác động tới lợi nhuận của ngân hàng trung gian.
Chính vì thế khi tiến hành gia tăng dự trữ bắt buộc đòi hỏi phải nghiên cứu trước sức
chịu đựng của ngân hàng trung gian với mức dự trữ mới sẽ ban hành. Để ngân hàng
trung gian không bị lỗ và cộng tác với ngân hàng trung ương trong việc thực thi chính
sách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể trả lãi cho mức dự trữ thặng dư nào đó của
ngân hàng trung gian, kèm theo một chính sách lãi suất thích hợp. Cộng vào đó, ngân
hàng trung ương có thể vận dụng mức dự trữ bắt buộc một cách uyển chuyển hơn,
bằng cách phân biệt nhiều mức dự trữ bắt buộc, chẳng hạn, do tính chất thanh khoản
của mỗi loại tiền gửi, ngân hàng trung ương có thể quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc của
tiền gửi không kỳ hạn cao hơn tỉ lệ dự trữ bắt buộc cả tiền gửi có kỳ hạn.
kinh tế do sự tác động trực tiếp của quy luật cung cầu.
Thông qua lãi suất tái chiết khấu, ngân hàng trung ương có thể khuyến khích
giảm hoặc tăng mức cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế,
đồng thời giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền. Khi thực hiện chính sách "thắt chặt" tiền
tệ, ngân hàng trung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu lên. Khi đó các ngân hàng thương
mại sẽ nâng lãi suất cho vay hoặc hạn chế bớt những cơ hội cho vay. Và ngược lại, khi
thực hiện chính sách tiền tệ "nới lỏng", ngân hàng trung ương hạ thấp lãi suất chiết
khấu, ngân hàng thương mại trong trường hợp này đi vay rẻ lên có khynh hướng giảm
bớt lãi suất cho vay dẫn đến nhu cầu vay gia tăng.
Ngoài ra, chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là công cụ đắc lực trong định
hướng phát triển kinh tế. Đối với chính sách kích thích xuất khẩu, ngân hàng trung
ương sẽ ưu tiên tái chiết khấu các thương phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiết
khấu đối với các thương phiếu đó.
Tuy nhiên, khi chấp nhận tái chiết khấu là ngân hàng trung ương đã tăng khối
lượng tiền cung ứng. Chính vì tầm quan trọng đó nên ngân hàng trung ương chỉ có thể
chấp nhận tài chính chiết khấu theo ba điều kiện sau:
- Ngân hàng thương mại đó phải còn hạn mức tín dụng chưa sử dụng hết.
- Khối lượng tiền cung ứng bằng con đường tín dụng tức chỉ tiêu tín dụng cho
nền kinh tế còn được phép cung ứng thêm.
- Ban thân các ngân hàng thương mại đem thương phiếu để tái chiết khấu phải là
những thương phiếu tốt.
Như vậy, chiết khấu và tái chiết khấu chính là hành động mua các thương phiếu
của ngân hàng trung ương nhằm điều chỉnh mức cung ứng tín dụng của NHTM đối với
nền kinh tế, đồng thời qua đó điều chỉnh cung ứng tiền tệ.
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:11
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
Chiết khấu và tái chiết khấu có những ưu điểm và nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
+ Các khoản cho vay của NHTM đều được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá. Do
nó có khả năng tự thanh toán.
Hiện nay, trên thế giới có hai quan điểm về cơ chế hình thành lãi suất.
- Quan điểm thứ nhất: ấn định lãi suất, tức là ngân hàng trung ương phải qui định
lãi suất đối với các ngân hàng trung gian.
-Quan điểm thứ hai: Thả nổi lãi suất, tức là lãi suất do thị trường quyết định.
Ở các nước công nghiệp phát triển, phần lớn các ngân hàng trung ương theo
chính sách tác động gián tiếp tới lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. ít khi ngân hàng
trung ương áp dụng biện pháp ấn định lãi suất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp,
ngân hàng trung ương cũng ấn định một "trần" (ceiling) lãi suất tối đa áp dụng cho tiền
gửi.
Hiện một số nước còn đang áp dụng biện pháp ấn định lãi suất đối với các ngân
hàng trung gian, không được cạnh tranh với nhau về lãi suất. Theo hướng này, thông
thường ngân hàng trung ương quy định lãi suất trần tối đa đối với tiền gửi và lãi suất
sàn đối với tiền cho vay.
Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu của ngân hàng thế giới cho thấy những trần
(ceilings) cứng nhắc đã làm cản trở sự tăng trưởng về tiết kiệm tài chính và giảm thiểu
hiệu năng của đầu tư. Chính phủ ở nhiều nước đang phát triển ngày càng thừa nhận lãi
suất chịu sự quản lý của nhà nước có thể có hại, họ có khuynh hướng để cho thị trường
có tiếng nói lớn hơn. Song, trong điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết
lập, nhà nước có thể tiếp tục quản lý lãi suất.
Tóm lại, công cụ lãi suất trong chính sách tiền tệ là công cụ cực kỳ lợi hại, có sức
phản công rất ghê gớm, một nhà kinh tế người Mỹ đã nói, nó là một công cụ để kích
thích sản xuất đồng thời là một công cụ để kìm hãm sản xuất, tuỳ thuộc vào sự khôn
ngoan hay khờ dại của những người sử dụng công cụ này.
1.5.5. Cung ứng tiền mặt pháp định
Ngân hàng trung ương có thể trực tiếp làm tăng, giảm dự trữ và cung ứng tiền,
bằng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái và nghiệp vụ cho vayvới chính phủ, ngoài
nghiệp vụ thị trường mở và cho vay chiết khấu, tái chiết khấu.
Khi ngân hàng trung ương đưa tiền mặt ra mua ngoại tệ, lập tức sẽ làm gia tăng
lượng tiền trong lưu thông, dẫn đến tỷ giá ngoại tệ lên cao, nghĩa là phá giá đồng bản
tệ. Ngược lại, khi hàng trung ương đem ngoại tệ ra bán, làm giảm nhanh cung ứng
mức tín dụng ngược lại sẽ thu hẹp hạn mức tín dụng.
Ưu điểm: Giúp ngân hàng Trung ương quản lý điều tiết được lượng tiền cung
ứng trong nền kinh tế khi các công cụ truyền thống không hiệu quả
Nhược điểm:
+ Tổng dư nợ thực tế của ngân hàng thương mại nói chung là không bằng hạn
mức tín dụng mà ngân hàng trung ương quy định từ trước vì có nhiều ngân hàng
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:14
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
thương mại không sử dụng hết hạn mức tín dụng mà ngân hàng thương mại quy định
cho nó.
+ Làm giảm bớt động lực cạnh tranh giữa ngân hàng thương mại vì các ngân
hàng thương mại hoạt động tốt khi sử dụng hết hạn mức tín dụng cũng không thể huy
động vốn được thêm trong khi các ngân hàng thương mại hoạt động kém vẫn được huy
động vốn vì chưa hết hạn mức.
+ Có thể làm phát sinh các hình thức tín dụng không chính thức nằm ngoài tự
kiểm soát của Ngân hàng trung ương.
+ Gây ra rất nhiều khó khăn về vốn cho doanh nghiệp chỉ vì với những giới hạn
cho phép ngân hàng thương mại chỉ tìm kiếm những khoản đầu tư lớn.
Ngoài những công cụ được trình bày trên đây con có các công cụ khác cũng được
áp dụng trong việc thực thi chính sách tiền tệ như: chính sách tỷ giá, ấn định một biên
vực bắt buộc trong việc cho vay, chính sách ngoại hối, dự trữ ngoại hối
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:15
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ Ở VIỆT NAM
2.1. Chính sách tiền tệ ở Việt Nam
2.1.1 Tình hình kinh tế tiền tệ
2.1.1.1.Tình hình tỷ giá
Tháng 9/2007, thị trường ngoại tệ liên ngân hang được thiết lập ,NHNN thực
hiện vai trò người mua bán cuối cùng trong ngày. tỷ giá chính thức vẫn được ngân
giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của đồng việt nam so
với đồng USD
Từ đó đến nay tỷ giá USD/VNĐ dao động ở mức 14000VNĐ/USD mức tăng đến
hết tháng 12/2013 so với 12 /2011 chỉ có 1%
2.1.1.2 Tình hình lạm phát
Trong vòng 5 năm gần đây tỷ lệ lạm phát trung bình là 6% và biến động không
đều.
Tỷ lệ lạm phát thời kỳ 09-13(%)
Năm 2009 2010 2011 2012 2013
Tỷ lệ lạm phát 12.7 4.5 3.7 9.2 0.1
Thời gian gần đây tỷ lệ lạm phát ở nước ta thấp ở mức kỷ lục và có thể rơi vào
vòng xoáy lạm phát.
Chỉ số lạm phát tháng 1 là 1.7 tháng 2 là1.9 vầ liên tục âm trong tám tháng từ
tháng 3 đến tháng 10. Hiện tượng giảm phát trong năm 2013 được coilà chấm dứt với
việc chỉ số giá hàng tiều dùng tăng trở lại mức dương là 0.4% và 0.5% vào tháng 11 và
tháng 12 năm 2013 và tính chung cho cả năm là 0.1% và vẫn có nguy cơ còn giảm
phát trong năm tới khi mà tổng cầu còn đang giảm mạnh(giảm nhanh hơn tổng cung)
2.1.1.3.Tình hình thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã lên mức báo động. Theo
tính toán không chính thức của NHTG, thì giai đoạn hiện nay tỷ lệ thất nghiệp của
Việt Nam xấp xỉ 7%, lao động qua dạy nghề chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số
lao động , theo tính toán của Bộ lao động và thương binh xã hội thì tỷ trọng này chỉ đạt
là 12.2% (thời báo kinh tế Việt Nam số 67 trang7). Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành
thị trong những năm gần đây còn ở mức cao nhất là trong những năm 2013 (7.4%),
Năm 2009 là 6.01% /2011 là 6.85% (bài thị trường lao động số 1/2000)
2.1.1.4 Tăng trưởng kinh tế
Trong công cuộc đổi mới kinh tế trong những năm vừa qua,chúng ta đã thu được
kết quả bước đầu rất khả quan, tạo được niềm tin trong dân chúng cũng như các nhà
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:17
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
NHTM từ 1.1%/tháng thời điểm ngày 21/1/2011 xuống 1%/tháng vào thời điểm
1/2/2013 rồi 0.85%/tháng vào tháng 6/2013 và 0.7%/tháng vào tháng 9/2013. Và hiện
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:18
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
nay (từ tháng 11/2013)chỉ còn 0.5%/tháng đồng thời NHNN công bố lãi suất chiết
khấu là 0.45%/tháng.
2.2.3 Nghiệp vụ thị trường mở
Ở Việt Nam hiện nay nghiệp vụ thị trường mở chưa thực sự trở thành công cụ
đóng vai trò quan trọng để NHNN điều tiết mức cung ứng tiền. Nguyên nhân cơ bản
nhất là chúng ta mới chỉ có thị trường sơ cấp còn thị trường thứ cấp mới được hình
thành và manh nha hoạt động. Hàng hoá trên thị trường chủ yếu là tín phiếu kho bạc,
nhưng khối lượng được phát hành còn ít lại chưa thường xuyên. trong năm 2013 tính
đén giữa tháng 11, kho bạc nhà nước phối hợp vói NHNN tổ chức được 40 phiếu đấu
thầu tín phiếu kho bạc kỳ hạn một năm. tổng giá trị đấu thầu trong 40 phiếu này là
4000 tỷ đồng (100tỷ/phiếu) tổng khối lượng tín phiếu đã đấu thầu là 2.863,6 tỷ đồng ,
bằng 78.59% tổng khối lượng tín phiếu đấu thầu.
Đây là một công cụ hết sức linh hoạt. chính xác, chủ động và dễ dàng mua bán.
nhằm tiến hành chuyển hướng điều hành tiền tệ từ các công cụ trực tiếp sang công cụ
gián tiếp năm 2013, NHNN đã gấp rút các điều kiện chuẩn bị về pháp lý cũng như
công cụ cho hoạt động thị trường mở,dự kiến sẽ hoạt động vào quý I năm 2000.
2.2.4 Quản lý lãi suất của NHTM từ năm 2009 đến nay.
Quốc hội khoá IX trong kỳ họp thứ 8, tháng 8/2009 cùng với nghị quyết bỏ thuế
doanh thu trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đã yêu cầu ngân hàng tiết kiệm chi phí
hoạt động kinh doanh và khống chế mức lãi suất huy động và cho vay bình quân là
0.35%/tháng.
Việc quy định trần lãi suất và quy định sàn lãi suất. Vì thế từ 1/1/09, NHNN đã
quy định trần lãi suất cho vay tối đa và mức chênh lệch 0.35% thay cho việc điều hành
lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi chi tiết và lãi suất thoả thuận quy định trước đó
Do quy mô và địa bàn hoạt động khác nhau, nhu cầu vốn khác nhau,chi phí hoạt
động khác nhau,nên NHNN đã quy định trần lãi suất có phân biệt như sau:
Tháng 10/2013 trần lãi suất cho vay áp dụng cho khu vực thành thị là
0.85%/tháng.Khu vực nông thôn là 1%/tháng riêng NHTN cổ phần nông thôn vẫn là
1.15%/tháng ,quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và hợp tác xã tín dụng cho vay đối với
thành viên vẫn là 1.15%/tháng
2.2.5 Quản lý ngoại hối
Thực hiện chính sách quản lý ngoại hối chặt chẽ, năm 2013 NHNN đã tăng
cường theo dõi , giam sát các tổ chức tín dụng thực hiện các quy dịnhcủa thủ tướng
chính phủ về kết hối ngoại tệ, thương xuyên có đánh giá tình hình thực hiện và kịp
thời trình chính phủ sửa đổi cơ chế cho phù hợp với thức tế(giảm tỷ lệ kết hối bắt buộc
đối với các tổ chức kinh tế có nguồn thu ngoại tệ vãng lãi từ 80% xuống còn 50% số
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:20
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
ngoại tệ thu được); xây dựng và trình thủ tướng chính phủ ban hành quy định về việc
quy định người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nưóc nhăm thu hút nguồn
ngoại tệ phục vụ công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.
Cung với việc đổi mới trong quản lý các giao dịch vãng lai, NHNN đã tăng
cường các biện pháp trong quản lý vảy trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, quản lý
đồi tư nước ngoài, quản lý hoạt động kinh doanh vàng.
2.3.Đánh giá quá trình điều hành chính sách tiền tệ.
2.3.1 Những mặt tích cực
Việc cho ra đời và vận hành một chính sách tiền tệ theo các nguyên tắc cơ bản
của hoạt động tiền trong nền kinh tế thị trường là một bước ngoặt trong lịch sử điũu
hành và thể hiện tập nhất của quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ NH thời gian qua.
-Thứ nhất về hoạt động cung ứng tiền
Thời điểm thay đổi có tính chất quyết định đối với cơ chế cung ứng tiền là năm
2001, khi cơ chế xác định lượng tiền cung ứng một cách hành chính bị xoá bỏ, thay và
đó là lượng tiền cung ứng hang năm được xác dịnh trên các căn cứ tương đối hợp lý đó
là tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát dự tính xác định các căn cứ cung ứng tiền
trên đây cũng đồng nghĩa với việc xoá bỏ một kênh cung cấp tiền truyền thống in tiền
để bù đắp thiếu hụt ngân sách (năm 1991). Cơ chế điều hành việc cung ứng tiền cũng
-Thứ 3: về tài chính chính sách quản lý ngoại hối
Quan điểm chủ đạo trong chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam trong giai
đoạn đổi mới là: từng bước đảm bảo nhà nước nắm được ngoại tệ phục vụ cho nhập
khẩu và ổn định giá tri đồng nội tệ. định hướng lâu dài của chính sách ngoại hối là
tăng cương dự trữ ngoại hối củng cố nâng cao gia trị VND và đưa VND thành đông
tiền tự do chuyển đổi, các giao dịch ngoại hối mang tính thị trương như giao dịch kỳ
hạn ,giao dịch hoán đổi đã được chú ý phát triển. đây có thể coi là những bước đột
phá trên thị trường ngoại hối và có tác dụng hỗ trợ tích cực cho việc thực thi các quy
chế ngoại hối, phần nào giảm bớt những khó khăn cho nền kinh tế đang trong qua trình
tự do hoa thương mại
Thứ 4: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHNN đã liên tục giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng đây là
một giải pháp kịp thời, linh hoạt và đồng bộ của NHNN,góp phần làm diụ đi những
khó khăn của các tổ chức tín dụng do lãi suất giảm tạo điều kiện cho các tổ chức tín
dụng giảm lãi suất cho vay tăng khả năng cung ứng vốn đối với nền kinh tê và góp
phần thúc đẩy phát triển tăng trưởng kinh tế
2.3.2 Những kết quả đạt được
Trong những năm qua NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ kích hoạt có kiểm
SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:22
Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường
soát chính sách hoá lỏng tiền tệ lên luôn đảm bảo khối lượng tiền cung ứng tăng từ
20% đến 26%/năm tổng phương tiên thanh toán trên XH tăng từ 22.6% đến 28%. Cụ
thể là tăng trưởng những năm gần đây như sau :
2009 2010 2011 2012
22.6(%) 22.7 26.1 23.9
Đây là mức tăng trưởng rất cao so với các nước trên thế giơi. Hiệu quả của nó đã
góp phần quan trọng thúc đầy nền kinh tê tằng trưởng lien tục với tốc độ cao chúng ta
đạt tóc độ tăng trưởng bình quân 8.6% trong vong 10 năm qua năm năm 2009 đạt
9,5% đứng thứ 2 trên thế giới (sau singapo)
Giữ được ổn định vĩ mô ổn định tỷ giá điều chỉnh lãi suất phù hợp để đáp ứng