Đề án môn học GVHD:Trần Đình Khôi Nguyên
LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn tài nguyên khoáng sản của một nước tương ứng với cơ sở nguyên liệu khoáng
mà nước đó dùng làm căn cứ để vừa phát triển nền kinh tế trong nước vừa tham gia vào thị
trường nguyên liệu quốc tế. Để có những số liệu đáng tin cậy làm cơ sở cho sự phát triển
bền vững nền kinh tế xã hội mỗi một nước phải có sự đánh giá tài nguyên khoáng sản của
nước mình. Trong nhiều năm qua các chương trình quốc gia về thăm dò và đánh giá tài
nguyên khoáng sản đã được thực hiện ở hầu hết các nước phát triển và đang được triển
khai ở các nước đang phát triển.
Như vậy, phương pháp luận về thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản vẫn đang
trong bước đường không ngừng đổi mới để hoàn thiện.
Nước ta có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng. Mặc dù trong điều kiện lịch sử
của nước ta có nhiều khó khăn, Nhà nước đã đầu tư không nhỏ cho các ngành địa chất và
mỏ phát triển. Năm mươi năm qua công tác điều tra địa chất đã phát hiện và đánh giá nhiều
loại khoáng sản, trong đó có nhiều mỏ có giá trị đã được thăm dò và đưa vào khai thác ,
từng bước tạo ra cơ sở nguyên liệu khoáng để xây dựng và phát triển một số ngành công
nghiệp nặng then chốt của đất nước. Nguồn tư liệu hết sức to lớn về địa chất và tài nguyên
khoáng sản của đất nước được thu thập và tích lũy trong nhiều năm qua đã và sẽ được khai
thác đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế trước mắt và lâu dài.
Tuy nhiên so với yêu cầu của thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì mức
độ điều tra địa chất và tài nguyên khoáng sản của nước ta còn thấp nguồn tài nguyên
khoáng sản chưa được đánh giá đầy đủ.
Để có đủ dữ liệu cho việc xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp khai khoáng và
hoạch định chính sách bảo vệ, khai thác sử dụng hợp lí tài nguyên khoáng sản và bảo vệ
môi trường trong hoạt động khai khoáng, cần phải có chương trình thăm dò và đánh giá tài
nguyên khoáng sản dựa trên những quan điểm và phương pháp luận được đổi mới theo
hướng hòa nhập vào môi trường địa chất-mỏ quốc tế và khu vực.
Kế toán thực hành trong các ngành công nghiệp khai khoáng đầu tiên trên chương trình
nghị sự của kế toán quốc tế Ủy ban Tiêu chuẩn (tiền thân của ban tiêu chuẩn kiểm toán
quốc tế, hoặc IASB) năm 1998. Chấp nhận tầm quan trọng của từng lĩnh vực đến nền kinh
tế, IASB đã đề xuất phát triển một dự án toàn diện liên quan đến các vấn đề báo cáo tài
Thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản có nghĩa là việc tìm kiếm các nguồn tài
nguyên khoáng sản, kể cả khoáng sản, dầu, khí đốt tự nhiên và tài nguyên không tái sinh
tương tự sau khi tổ chức đã thu được các quyền hợp pháp để khám phá trong một khu vực
cụ thể, cũng như xác định tính khả thi kỹ thuật thương mại và khả năng tồn tại từ việc khai
thác tài nguyên khoáng sản.
Thăm dò và đánh giá chi phí là chi phí phát sinh liên quan đến việc thăm dò và đánh
giá tài nguyên khoáng sản trước khi tính khả thi kỹ thuật và khả năng thương mại của các
chiết xuất một tài nguyên khoáng sản là có thể chứng minh.
Đánh giá tài nguyên khoáng sản được hiểu là sự xác định giá trị các nguồng khoáng
sản và năng lượng đã biết hoặc dự đoán tồn tại, có giá trị kinh tế vào thời điểm hiện tại
hoặc tương lai. Chính vì vậy việc thăm dò và đánh giá không chỉ riêng cho các đối tượng
khoáng sản đã được tìm kiếm thăm dò, đã được tính trữ lượng hoặc đã được xem là khai
thác có lãi tại thời điểm đánh giá, mà còn bao gồm cả những đối tượng có khả năng phát
hiện bằng phương hpáp nhận dạng và lí giải địa chất ở trình độ cao cũng như các đối tượng
đã được phát hiện nhưng vì các lí do kinh tế, công nghiệp nên chưa có kế hoạch sử dụng.
Để đạt được mục đích này cần xác định giá trị và phân loại tài nguyên trên nguyên tắc
kết hợp hai yếu tố về sự gia tăng độ tin cậy địa chất (mức độ chi tiết về tìm kiếm thăm dò)
và tính khả thi về công nghệ (sản xuất có lãi tại thời điểm đánh giá).
Tài nguyên tổng thể hay tài nguyên nguyên trạng (original) là tài nguyên tồn tại trong
lòng đất bao gồm tài nguyên đã được khai thác, đã phát hiện hoặc được dự báo, trong đó
phân ra:
Tài nguyên được xác định (Identifìed) là tài nguyên mà vị trí, chất lượng, và số lượng
đã được biết hoặc đã được đánh giá. Tài nguyên được xác định bao gồm các mức kinh tế
(economic) và dưới mức kinh tế (subeconomic). Thuật ngữ kinh tế ở đây nói đến việc khai
thác có lãi với số vốn đầu tư nhất định. Phần tài nguyên kinh tế mà có mức độ điều tra địa
chất theo các mạng lưới xác định cho các loại hình mỏ khác nhau thì được gọi là trữ lượng.
Để phản ánh mức độ khác nhau về điều tra địa chất, trữ lượng có thể phân ra các cấp chắc
chắn (measured), tin cậy (indicated), dự tính (inferred).
Tài nguyên chưa xác định (undiscovered) là tài nguyên về cơ bản chưa được xác định
cụ thể nhưng có khả năng trở thành có giá trị kinh tế hoặc dưới mức kinh tế. Để phản ánh
nó rất hữu ích cho việc hình thành chi phí cho từng khoản mục là tài sản hữu hình mà bản
thân nó sẽ được sử dụng hoặc sự hiểu biết về vị trí của chi phí vô hình, về cơ bản chỉ để
xây dựng tài sản hữu hình.Ví dụ, giếng dầu sẽ được sử dụng để hút ra dự trữ có thể là tài
sản hữu hình.Tuy nhiên, việc thăm dò giếng dầu có thể là kết quả của sự am hiểu. Những
chi phí liên quan đến việc xây dựng để thăm dò giếng hoặc hoạt động địa chất và hoạt
động địa lý được phân loại như E&E tài sản vô hình.
Việc phân loại E&E tài sản thành vô hình hoặc hữu hình dựa trên nền tảng là việc lựa
chọn chính sách kế toán,đo lường tài sản sau khi ghi nhận và mục đích trình bày.
Sự phân chia thành E&E tài sản thành vô hình và hữu hình được áp dụng một cách
nhất quán:
2.1.1. Tài sản vô hình
Tài sản vô hình được định nghĩa trong IFRSs có thể xem như là những tài sản phi tiền
tệ không gồm chất hữu hình.Không có yêu cầu tài sản được tổ chức cho mục đích chi tiết.
Ví dụ về E&E tài sản có thể được phân loại thành chi phí vô hình phù hợp với định
nghĩa này gồm:
• Quyền khoan
• Quyền được thăm dò
• Chi phí cho việc quản lí các nghiên cứu đo vẽ,địa chất,hóa học,địa lý.
SVTH: Hồ Nguyễn Quỳnh Trang Trang 4
Đề án môn học GVHD:Trần Đình Khôi Nguyên
• Chi phí thăm dò các dàn khoan
• Chi phí đào hầm
• Chi phí lấy mẫu
Những chi phí liên quan đến đánh giá tính khả thi và khả năng sinh lời kinh tế của tài
nguyên khoáng sản.
2.1.2. Tài sản hữu hình
IFRSs không có định nghĩa “hữu hình”. Tuy nhiên hầu hết tài sản hữu hình có thể
được định nghĩa là những khoản mục bất động sản, nhà máy, phân xưởng và máy móc
thiết bị. Theo định nghĩa này thì những khoản mục được tổ chức để dùng cho sản xuất
hoặc cung cấp hàng hóa và dịch vụ,để cho thuê hoặc để phục vụ cho mục đích quản lí; và
SVTH: Hồ Nguyễn Quỳnh Trang Trang 5
Đề án môn học GVHD:Trần Đình Khôi Nguyên
E&E hữu hình và vô hình và mở rộng chính sách phân loại lại những tài sản này khi tính
khả thi và khả năng sinh lời kinh tế có thể được giải thích.
Thăm dò và đánh giá tài sản sẽ không được phân loại như vậy nữa khi tính khả thi cao
và khả năng độc lập thương mại của tài nguyên khoáng sản có thể được giải thích. Thăm
dò và đánh giá tài sản sẽ được ước lượng thông qua sự yếu kém của chuẩn mực và sự thiếu
sót trong ghi nhận trước khi phân loại lại thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản.
2.2. Phân loại lại tài sản E&E:
Theo IFRS 6, khi ngừng các hoạt động thăm dò và đánh giá trong một khu vực, doanh
nghiệp phải (a) dừng việc cung cấp các chi phí vốn ở khu vực đó; (b) kiểm tra việc ghi
nhận E & E cho tài sản tổn thất, và (c) dừng việc phân loại tài sản E&E không mang lại
tổn thất (hữu hình và vô hình) khi thăm dò và đánh giá.
Tài sản E & E có thể được phân loại lại hoặc là phát triển từ tài sản hữu hình hoặc vô
hình. Việc phân loại lại tài sản E & E để phát triển tài sản là một sự lựa chọn chính sách kế
toán phải được áp dụng thống nhất.
2.2.1. Nhận dạng E& E tài sản:
Nhìn chung nhận dạng tài sản hữu hình E & E chẳng hạn như một giàn khoan thăm dò
sẽ tiếp tục được sử dụng bởi một tổ chức thực hiện E & E hoạt động cho các dự án khác,
phân loại lại các tài sản này sẽ không được thích hợp. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các
doanh nghiệp cần phải đánh giá lại sự phù hợp của thời gian khấu hao và phân bổ các tài
sản này để CGUs hoặc các nhóm của các đơn vị tại thời điểm tài sản được phân bổ cho các
dự án thăm dò và đánh giá khác.
Nhận dạng tài sản hữu hình phải ngừng sự phân loại lại khi tài sản E&E nói chung
được phân loại như việc phát triển tài sản hữu hình theo quy định của IAS 16, ví dụ, một
chiếc xe sử dụng cho sản xuất. Trong khi nhận dạng, E& Etài sản vô hình sẽ tiếp tục được
phân loại như tài sản vô hình, ví dụ một giấy phép thăm dò.
2.2.2. Không thể nhận dạng tài sản E&E:
Nói chung, khitính khả thi của hoạt động thương mại và kỹ thuật có thể được chứng
minh, một trữ lượng khoáng sản cụ thể sẽ được xác định để phát triển. Trong thực tế, trữ
E&E chi phí được định nghĩa trong IFRS6: một khoản mục xác định mà chi phí thỏa
mãn các định nghĩa đó. Chi phí E&E hiếm khi bao gồm chi phí thăm dò lại,và không bao
gồm chi phí phát sinh.
Trong mỗi loại chi phí E & E, mỗi khoản mục thông qua một chính sách chi phí trực
tiếp hoặc chi phí vốn hóa có chức năng một E&E tài sản. Nhà quản lí phải dựa vào phán
đoán của mình để bày tỏ luận điểm và áp dụng chính sách thích hợp với các thông tin phù
hợp và đáng tin cậy.
Chính sách chi phí hoặc vốn nên phản ánh quy mô của các loại chi phí E&E liên quan
đến những nguồn tài nguyên khoáng sản nhất định.
Để thừa nhận tính linh hoạt của IFRS 6 nên xem xét yêu cầu của IFRSs liên quan đến
việc lựa chọn chính sách kế toán đối với chi phí E&E. Trong thực tế, để phát triển một
chính sách quản lí không cần xem xét đến IFRSs khác (về sự tương đồng) và không cần đề
cập đến định nghĩa có trong IASB Framework (nói riêng về tài sản và chi phí).
IFRS 6 chứa các yêu cầu xác định gắn liền với những thay đổi của chính sách KT đối
với chi phí E&E
Chi phí E&E:
Chi phí E&E không được ghi nhận là E&E tài sản mà được xem là chi phí phải chịu
Các loại chi phí E&E không có họ gần với nhau thỏa mãn là tài nguyên khoáng sản
nhất định để hỗ trợ vốn được xem là chi phí phải chịu.Ví dụ, chi phí thu thập dữ liệu về
SVTH: Hồ Nguyễn Quỳnh Trang Trang 7
Đề án môn học GVHD:Trần Đình Khôi Nguyên
động đất nói chung không có họ gần với nhau, thỏa mãn là một tài nguyên khoáng sản xác
định, được vốn hóa như là E&E tài sản.
1. Ghi nhận và đo lường ban đầu:
Trong một chừng mực nào đó,một đơn vị quy định vốn hóa chi phí E&E như một E&E
tài sản, tài sản đó được đo lường theo chi phí ban đầu.
1.1. Ghi nhận giá gốc:
Để phù hợp với các chính sách kế toán, một doanh nghiệp có thể ghi nhận giấy phép
thăm dò như là E&E tài sản. Theo chúng tôi chi phí cho giấy phép đó bao gồm chi phí mua
trực tiếp. Theo sự hướng dẫn về chi phí trực tiếp được trình bày trong IAS 38. Ví dụ như
phí trực tiếp.
SVTH: Hồ Nguyễn Quỳnh Trang Trang 8
Đề án môn học GVHD:Trần Đình Khôi Nguyên
Chính sách về chi phí hành chính và chi phí chung khác được áp dụng nhất quán để so
sánh chi phí và báo cáo giữa các giai đoạn.Những thay đổi xảy ra sau báo cáo được đề cập
trong các chính sách kế toán.
1.3. Các chi phí đi vay:
Theo tôi chi phí đi vay không phải là chi phí E&E mà có thể được ghi nhận như E&E
tài sản phù hợp với chính sách kế toán. Thay vào đó ta có thể xem xét sự hướng dẫn trong
IAS 23 chi phí đi vay nên được áp dụng như thế nào.
Một đơn vị có thể lựa chọn chính sách kế toán về chi phí vốn vay để phù hợp với một
phần chi phí tài sản. Nếu một doanh nghiệp chọn cách sử dụng vốn đi vay thì tất cả các chi
phí đi vay đủ tiêu chuẩn về tài sản hạch toán phải được vốn hóa.
Tài sản hạch toán là tài sàn có chu kì trọng yếu cần thiết được chuẩn bị cho mục đích
sử dụng hoặc bán. Nói chung, tài sản hạch toán là những thứ chịu ảnh hưởng của việc mở
rộng và xây dựng các dự án trọng yếu. Không có sự chỉ dẫn chính xác nào về chu kì trọng
yếu là bao lâu, tuy nhiên theo chúng tôi một chu kì tốt nên kéo dài hơn 6 tháng.
Chi phí đi vay là chi phí trực tiếp phục vụ cho hoạt động mua bán,xây dựng hoặc sản
xuất của tài sản hạch toán được vốn hóa, chỉ khi chúng mang lại lợi ích kinh tế trong tương
lai.
Chi phí đi vay cũng như E&E tài sản đủ tiêu chuẩn có thể bao gồm một phần chi phí
phù hợp với chính sách kế toán tại đơn vị nếu chúng có đầy đủ tiêu chuẩn về vốn.
Nói chung không dễ dàng để trình bày các lợi ích kinh tế trong tương lai khi áp dụng
chi phí thăm dò và đánh giá cũng như chi phí đi vay. Nếu theo yêu cầu của IAS 23, trong
trường hợp E&E tài sản hạch toán, thì các tiêu chuẩn về vốn có thể gặp khó khăn trong
trình bày các lợi ích kinh tế trong tương lai.
Chi phí đi vay được vốn hóa là chi phí phải trả. Bao gồm lãi trên số tền vay sử dụng
cho mục đích dành được việc thăm dò và đánh giá tài sản theo tiêu chuẩn và những chi phí
khác liên quan đến khoản tiền vay sẽ được hoàn trả lại nếu các khoản chi phí trên phần tài
sản không phải chịu.