GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành báo cáo này, em đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn. Với
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệutrường Đại Học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh tạo
mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bài báo
cáo này.
Giáo sư-Tiến sĩ Võ Thanh Thu,người cô đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo,
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Các cô, các anh chị trong công ty Cổ phần Giao dịch Bất động sản Nam
Việt , đặc biệt là chị Phạm Thị Thu Hằng, giám đốc đào tạo đã nhiệt tình giúp
đỡ em trong quá trình học tập và làm việc tại công ty Nam Việt.
IV1
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
NHẬN XÉT THỰC TẬP
Họ và tên sinh viên : …Huỳnh Trọng Nguyên…………………………………
MSSV :…1054011173……………………………………………………….………
Khoá :…2010-2014…………………………………………………………………
1. Thời gian thực tập : …… 24/03/201 đến…20/04/2014………………
2. Bộ phận thực tập :……….Phòng Kinh doanh…………………………………
3. Nhận xét chung
……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
MỤC LỤC
Danh sách các hình:
Hình 1.1 Logo Công Ty
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức Công ty Cổ phần BĐS Nam Việt
Danh sách các bảng:
Bảng 1.1: Doanh thu Công ty
Bảng 1.2: Tình hình thực hiện chi phí tại công ty Nam Việt
Bảng 1.3 Lợi nhuận công ty Nam Việt
Bảng 1.4 Tình hình tỷ suất tài chính của công ty
Danh sách các biểu đồ :
Biểu đồ 1.1: Tình hình doanh thu công ty Nam Việt
Biểu đồ 1.2: Tình hình chi phí công ty
Biểu đồ 1.3: Tình hình lợi nhuận công ty BĐS Nam Việt
IV4
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
IV5
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài: Bất động sản (BĐS) là một nguồn tài sản lớn của
mọi quốc gia, mọi nền kinh tế, của mọi gia đình và cá nhân. Nó có vai trò vô cùng
quan trọng, là điều kiện cơ bản tối thiểu của đời sống xã hội, đảm bảo cho quá trình tái
sản xuất tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá thì BĐS
cũng được mua bán và trở thành hàng hoá, từng bước được phát triển từ thấp đến cao,
qui mô mở rộng dần từ cá biệt trở nên phổ biến, từ đó thị trường BĐS được hình thành
và phát triển. Trong thị trường này, kinh doanh (KD) BĐS là hoạt động giữ vai trò chủ
đạo và được rất nhiều người quan tâm.
Trong thời gian vừa qua, dưới tác động của hệ thống pháp luật và chính sách của
nhà nước (NN), hoạt động KD BĐS ở nước ta đó có những bước tiến đáng kể. Tuy
nhiên, do đây là một lĩnh vực còn rất non trẻ nên cũng tồn tại rất nhiều bất cập, gây cản
trở cho sự phát triển của KD BĐS. Và trong tiến trình hội nhập kinh tế hiện nay, nhiều
bản của BĐS, qua đó hiểu được vai trò và tầm quan trọng của BĐS đối với nền kinh tế
Việt Nam, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Chương 2: Hoạt động kinh doanh bất động sản tại công ty Nam Việt
Chương này giới thiệu công ty BĐS Nam Việt, cách thức tổ chức bộ máy làm
việc của công ty.Chúng ta có thể thấy tình hình hoạt động của công ty, từ đó đánh giá
sơ bộ về công ty và thấy được các hạn chế mà cô đang mắc phải để có thể đề ra giải
pháp.
Chương 3: Đề xuất kiến nghị một số giải pháp phát triển hoạt động đầu tư kinh
doanh BĐS tại Công ty Nam Việt
Từ những tồn tại của công ty ở chương 2, ta có thể hình dung ra giải pháp để có
thể khắc phục được những tồn tại đó. Chương 3 sẽ cho chúng ta các giải pháp , cách
ứng dụng. Từ đó có thể áp dụng cho công ty đến công ty có hướng phát triển tốt hơn.
7
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN
1.1.Những vấn đề cơ bản về bất động sản
1.1.1. Khái niệm BĐS
Tài sản bao gồm nhiều loại, tuỳ theo mục đích quản lý và sử dụng,người ta có các
tiêu thức phân chia thành các loại khác nhau. Một cách phân chia khái quát nhất mà tất
cả các nước đều sử dụng là phân chia tài sản làm hai loại:Bất động sản và động sản.
Bất động sản là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế
giới. ở nước ta theo điều 181 bộ luật dân sự quy định:
Bất động sản là các tài sản không thể di dời được bao gồm:
Đất đai;
Nhà ở, các công trình xây dựng gắn liền với đất đai kể cả các tài sản gắn liền
nhà ở, công trình xây dựng đó;
Các tài sản khác gắn liền với đất;
Các tài sản khác do pháp luật quy định.
Một cách hiểu phổ biến về bất động sản là: Bất động sản là những tài sản vật chất
không thể di dời, tồn tại và ổn định lâu dài. Như vậy,được coi là bất động sản khi có
điểm là có vị trí cố định và có giới hạn về diện tích và không gian. Chính vì vậy, giá trị
và lợi ích của BĐS gắn liền với từng vị trí cụ thể. Yếu tố vị trí sẽ quyết định giá trị và
lợi ích mang lại của BĐS.
Thứ hai, BĐS là loại hàng hoá có tính lâu bền. Tính lâu bền của hàng hoá BĐS
gắn liền với sự trường tồn của đất đai, loại tài sản do thiên nhiên ban tặng không thể bị
tiêu huỷ.
Thứ ba, hàng hoá BĐS mang tính khan hiếm. Sở dĩ có tính khan hiếm là do đất
đai là yếu tố có giới hạn, đất đai dùng cho đầu tư phát triển lại càng giới hạn hơn.
Thứ tư, tính dị biệt của BĐS. Sự khác biệt của BĐS trước hết là do khác nhau
về vị trí, khác nhau về kết cấu, kiến trúc, hướng, cảnh quan. Do vậy, trong đầu tư phát
9
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
triển phải chú ý khai thác tính dị biệt để làm tăng giá trị BĐS và đáp ứng nhu cầu về
tính dị biệt của người tiêu dùng.
Thứ năm, hàng hoá BĐS mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội.
Vì nhu cầu về BĐS ở mỗi khu vực, mỗi dân tộc đều chịu ảnh hưởng của yếu tố tập
quán, thị hiếu, tâm lý xã hội thậm chí còn bao gồm cả yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo, tâm
lý.
Thứ sáu, hàng hoá BĐS chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Giữa các hàng hoá BĐS có
sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau khá mạnh mẽ. Sự ra đời hay hoàn thiện của hàng
hoá BĐS này là điều kiện ra đời hoặc mất đi, tăng hoặc giảm giá trị của BĐS kia.
Thứ bảy, BĐS là tài sản có giá trị cao do giá trị của đất đai cao, chi phí đầu tư
xây dựng lớn, khả năng sinh lợi cao đồng thời có thể tạo vốn mới. Vì vậy, đầu tư kinh
doanh BĐS phải có vốn lớn và vốn dài hạn, phải biết khai thác đặc tính có thể tái tạo
vốn để quay trở lại đầu tư kinh doanh.
Thứ tám, hàng hoá BĐS chịu sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố pháp luật và
chính sách của Nhà nước. BĐS là loại tài sản quan trọng. Do vậy, để tăng cường vai
trò của mình, quản lý các hoạt động của thị trường BĐS, nhà nước ban hành các văn
bản pháp luật, chủ trương, chính sách nhằm thực hiện vai trò quản lý và khai thác có
hiệu quả nguồn nội lực.
bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất
hiếm, đất chưa sử dụng v.v
Bất động sản đặc biệt: là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di
sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang v.v Đặc điểm của
loại BĐS này là khả năng tham gia thị trường rất thấp.
11
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
1.2. Những vấn đề chung về BĐS
1.2.1. Khái niệm đầu tư kinh doanh BĐS
Đầu tư kinh doanh BĐS: là dùng lượng tiền, vàng để mua BĐS và bán ra thị
trường vào thời điểm khác với giá chênh lệch gọi là đầu tư mua bán. Hình thức đầu tư:
xây dựng cao ốc hay căn hộ cho thuê, bán; đầu tư dự án bất động sản để bán, cho thuê
như xây dựng tổ hợp biệt thự, khu dân cư…
Đầu tư kinh doanh BĐS là một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm phụ thuộc rất lớn
vào quyết định của nhà đầu tư. Vì vậy để thành công nhà đầu tư cần phải nắm bắt
thông tin, am hiểu thị trường một cách sâu sắc và sự hỗ trợ tốt nhất là nhà đầu tư nên
liên kết với các trung tâm môi giới BĐS nhất là những trung tâm có uy tín có kinh
nghiệm và quy mô hoạt động tương đối lớn, hiện đại.
1.2.2.Đặc điểm của đầu tư kinh doanh BĐS.
Hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản có những đặc điểm mang tính chất
riêng biệt sau:
+ Hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản phải phù hợp với kế hoạch và quy
hoạch phát triển của Nhà nước và địa phương về địa lý và hạ tầng cơ sở, sự đồng bộ
trong kiến trúc và đảm bảo về chất lượng công trình.
+ Hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản chứa đựng nhiều yếu tố kinh tế xã
hội đan xen, theo đó nó không chỉ phụ thuộc vào chính sách quản lý đầu tư của Nhà
nước mà còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố xã hội, tâm lý, tập quán của người dân.
+ Hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản nhiều vào yếu tố thời tiết, khí hậu.
+ Hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS cũng mang những yếu tố bất thuận lợi như:
phải cần một khoản vốn đầu tư lớn, không dễ dàng mua bán (tính thanh khoản thấp),
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, vùng lãnh thổ, quy hoạch xây
dựng đô thị và nông thôn.
13
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
Nguồn khác: bao gồm phát hành trái phiếu, vốn góp liên doanh liên
kết, vốn cổ phần (hiện nay nguồn vốn này chủ yếu được huy động từ
cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp).
1.2.4. Các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS
1.2.4.1. Nhóm các nhân tố tự nhiên
Nhóm này bao gồm các yếu tố về địa hình, thổ nhưỡng, vị trí địa lý và điều kiện
khai thác. Nhìn chung, nếu lãnh thổ của một quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về địa
hình (như đồng bằng, thuận tiện cho đi lại, xây dựng,…) thì sẽ có một lượng lớn đất
đai tham gia vào thị trường BĐS, do đó quy mô của BĐS sẽ lớn. Ngược lại, nếu đa
phần lãnh thổ là đồi núi cao hoặc sa mạc khó khai thác thì lượng đất đai tham gia thị
trường BĐS sẽ không nhiều. Đất đai ở các trung tâm kinh tế, thương mại dễ trở thành
hàng hoá hơn đất đai ở các vùng xa xôi, hẻo lánh. Sự giàu có trong lòng đất như: sự
màu mỡ đất đai, các mỏ khoáng sản trong lòng đất,… cũng làm cho đất đai dễ trở
thành hàng hoá có giá cao hơn. Như vậy, đất đai và các tài sản cố định trên đất đai, đều
có thể trở thành đối tượng giao dịch trên thị trường BĐS. Ở đây sự ảnh hưởng của các
điều kiện tự nhiên đến hàng hoá BĐS là rất lớn.
1.2.4.2. Nhóm các nhân tố kinh tế:
Trình độ phát triển kinh tế quyết định trình độ, quy mô và mức độ hoàn thiện
của thị trường BĐS. Khi nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, mục đích và kỹ năng sử
dụng đất đai hết sức đa dạng thì chủng loại hàng hoá BĐS sẽ rất phong phú và nhu cầu
chuyển dịch BĐS giữa các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng lớn. Sự xuất hiện các
ngành mới, các doanh nghiệp mới, các kỹ thuật xây dựng mới cũng đòi hỏi phải
chuyển đổi và chuyển giao BĐS giữa các chủ thể và giữa các ngành kinh tế. Do đó,
cùng với xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, thị trường BĐS cũng có
động lực và dư địa để phát triển. Mặt khác, bản thân các thị trường khác, nhất là thị
trường tài chính, cũng đòi hỏi thị trường BĐS phát triển. Như vậy, sự phát triển của thị
thị trường quyền sử dụng đất, đó là giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân và
15
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
hộ gia đình sử dụng theo luật. Quá trình giao quyền sử dụng đất này ở Việt Nam hiện
nay còn nhiều điểm chưa hợp lý và chưa chuẩn tắc do cơ chế và chính sách quản lý đất
đai của Nhà nước vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm để tìm hướng đi đúng. Vì
thế, thị trường bất động sản, đặc biệt là thị trường quyền sử dụng đất ở Việt Nam có
hình thành nhanh hay không phụ thuộc vào quyết tâm và hành động nhất quán của Nhà
nước.
Thứ hai, Nhằm mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, Nhà nước Việt Nam thực thi một chính sách đất đai có phân biệt thành
phần kinh tế, trong đó ít nhiều có ưu đãi hơn cho thành phần kinh tế hợp tác và thành
phần kinh tế quốc doanh. Do vậy, thị trường BĐS ở Việt Nam có thể thấy ngay từ đầu
không phải là thị trường như nhau cho tất cả các thành phần kinh tế. Để đẩy mạnh tăng
trưởng kinh tế, Nhà nước buộc phải khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế
khác, kể cả khuyến khích chuyển giao đất cho họ. Như vậy, một chính sách chứa nhiều
mục tiêu và cả mâu thuẫn như trên nếu như không được hoạch định một cách khôn
ngoan sẽ có ảnh hưởng rất lớn làm biến động không bình thường thị trường BĐS.
Thứ ba, Việt Nam đã trải qua một thời kỳ dài với nhiều xáo trộn, do thay đổi
chế độ, do chiến tranh, do thay đổi chính sách, nên thực trạng BĐS cả nước đang rất
lộn xộn. Nếu trong thời gian tới đây Nhà nước không có quyết sách kiên quyết và nỗ
lực cải thiện tình hình này thì thị trường BĐS Việt Nam khó có thể đi vào hoạt động
một cách quy củ và chuẩn tắc. Trái lại, nạn đầu cơ vào thị trường BĐS không chính
thức sẽ càng làm cho công việc của Nhà nước thêm nặng nề.
Như vậy, Nhà nước Việt Nam không những có vai trò quản lý, hỗ trợ thị trường
BĐS, mà còn có vai trò hình thành và định hướng thị trường này phục vụ công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
1.3. Luật kinh doanh BĐS tại Việt Nam.
16
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
Luật sư trong lĩnh vực bất động sản: tham gia đàm phán các hợp đồng
thuê,các hợp đồng mua bán, hợp đồng bảo hiểm bất động sản, kiểm tra tính hợp pháp
của các giấy tờ sở hữu của bất động sản theo yêu cầu của các nhà đầu tư, tham gia giải
quyết các tranh chấp trong việc sử dụng và sở hữu bất động sản.
1.3.2. Nguyên tắc hoạt động kinh doanh BĐS
Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản bình đẳng trước pháp luật,
tự do thỏa thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia
hoạt động kinh doanh bất động sản thông qua hợp đồng, không trái với quy định của
pháp luật.
Bất động sản đưa vào kinh doanh phải có đủ điều kiện theo quy định của Luật
Kinh Doanh Bất Động Sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Hoạt động kinh doanh bất động sản phải công khai, minh bạch.
1.3.3. Các loại BĐS được đưa vào kinh doanh
Đất trống : do nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng, trong khi quĩ đất đai là có
hạn, cho nên kinh doanh đất thường có lợi nhuận cao hơn cả. Tuy nhiên, kinh doanh
đất thường có độ rủi ro cao hơn các bất động sản khác.
Nhà ở cho thuê hoặc để bán: so với các bất động sản khác, kinh doanh nhà ở có
nhiều lợi thế hơn : nhu cầu xã hội về nhà ở tăng lên không ngừng do sự tăng dân số,
công việc kinh doanh không đòi hỏi quá nhiều công sức và tính chuyên nghiệp, công
chúng có một sự hiểu biết tương đối về loại bất động sản này, tính thanh khoản của nó
cao hơn.
Các toà nhà cho thuê văn phòng: đáp ứng nhu cầu về văn phòng làm việc cho
các doanh nghiệp, các cá nhân tham gia kinh doanh trong xã hội.
Kho chứa hàng cho thuê: kinh doanh loại bất động sản này chịu ảnh hưởng lớn
từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và thương mại ở khu vực, do vậy nó cũng có rủi
18
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
ro. Yêu cầu của loại bất động sản này là phải gần các trục giao thông chính, có lối ra
vào cho các xe vận tải.
Các trung tâm thương mại: yêu cầu chung là phải gần các trục giao thông chính,
Uỷ ban nhân dân nơi có dự án đầu tư kinh doanh bất động sản có trách nhiệm
tạo điều kiện cho chủ đầu tư dự án thực hiện giải phóng mặt bằng.
Nhà nước miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất xây
dựng công trình hạ tầng có chuyển giao cho Nhà nước, công trình hạ tầng không kinh
doanh, nhà chung cư phục vụ cho các đối tượng chính sách.
Tổ chức tín dụng nhà nước cho vay ưu đãi đầu tư đối với các dự án xây dựng
nhà ở để cho thuê, cho thuê mua, bán cho người có công, người nghèo, người có thu
nhập thấp, sinh viên, công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế
xuất.
Nhà nước có cơ chế, chính sách bình ổn thị trường bất động sản khi có biến
động, bảo đảm lợi ích cho nhà đầu tư và khách hàng.
1.3.5. Các hình thức đầu tư kinh doanh BĐS
Với một nhà đầu tư mới, bạn nên xem xét đầu tư vào bất động sản như là một
lựa chọn đầu tiên. Có nhiều hình thức đầu tư phong phú hơn là chỉ mua một căn nhà,
sửa sang lại và cho thuê Có nhiều dạng đầu tư kinh doanh bất động sản :
Đầu tư các khu dân cư: ví dụ như nhà ở, chung cư, khu nghỉ dưỡng nơi mà các
cá nhân hay gia đình sẽ trả tiền cho bạn để được sống trong căn bất động sản đó.
Thời gian sống trong căn bất động sản dựa vào thỏa thuận thuê, mua của bạn và
khách hàng.
Đầu tư bất động sản thương mại: đầu tư vào các tòa nhà văn phòng. Bạn xây
dựng một tòa nhà (quy mô phụ thuộc vài vốn của bạn) với các phòng riêng biệt
thì bạn có thể cho các công ty thuê để sử dụng làm văn phòng.
Đầu tư theo ngành: bạn có thể sử dụng bất động sản làm mặt bằng để mở các
nhà kho, nơi rửa xe hay bất kì loại ngành nào khác Doanh thu có được từ các
20
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
ngành này hoặc đơn giản chỉ là phí thuê mặt bằng khi bạn sở hữu bất động sản
và cho người khác thuê để kinh doanh.
Đầu tư mặt bằng bán lẻ: bao gồm các trung tâm mua sắm, các cửa hàng bán
lẻ Bạn sở hữu chúng và cho người khác thuê để kinh doanh bán lẻ. Ngoài việc
Chính phủ và Bộ xây dựng cũng đang triển khai ra soát, điều chỉnh, sửa đổi lại
ba luật là Luật Xây Dựng, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng
tăng cường công khai minh bạch, quản lý nhà nước hơn, đồng thời giúp thị trường phát
triển bền vững hơn.
Ngoài ra, để tăng thanh khoản cho thị trường, Bộ Xây Dựng cũng đề xuất
phương án sửa đổi chính sách theo hướng mở rộng đối tượng và điều kiện mua, sở hữu
nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại
Việt Nam, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Trong Quý I, bốn dự án đã đưa ra chào bán với tổng số 784 căn hộ, tăng 21% so
với cùng kỳ năm trước, trong đó căn hộ cao cấp chiếm 70% và 30% là phân khúc bình
dân. Điều này cho thấy, các chủ đầu tư đã phần nào lấy lại niềm tin vào thị trường tung
hàng ra chào bán và sự đáp ứng của thị trường khá tích cực, với tỷ lệ bán hết lên đến
72-85%. Các chuyên gia địa ốc nhận định rằng, giá trên thị trường sơ cấp khó có thể
giảm thêm thay cho giảm giá, các chủ đầu tư thường áp dụng chính sách thanh toán
linh hoạt, quà tặng và chiết khấu. Ngoài ra, nhiều chủ đầu tư còn linh động thay đổi
phương thức bàn giao, chuyển sang giao nhà thô thay vì bán và giao nhà hoàn thiện,
nhằm xoay vòng nhanh đồng vốn, trong khi người mua nhà có thể tự thiết kế căn hộ
của mình. Các nhà đầu tư đang có xu hướng mua để làm mới danh mục đầu tư, và các
chủ dự án nay đã biết định vị dự án của mình trên thị trường để đảm báo cho giá trị của
sản phẩm,
Để thấy rõ hơn nữa vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động đầu tư kinh doanh
bất động sản cũng như tính thiết yếu của hoạt động đầu tư này chúng ta đi vào phần 2
22
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản của công ty BĐS Nam
Việt.
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TẠI CÔNG TY
NAM VIỆT
2.1. Giới thiệu về công ty BĐS Nam Việt
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
- Nghiên cứu Tư vấn
- Tiếp thị
- Quản lý bất động sản
2.1.2. Sứ mệnh, tầm nhìn sứ mệnh
Từng bước chuyển hóa cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ bất động sản
theo một phong cách chuyên nghiệp nhất.
Không ngừng sáng tạo, nâng cao tính chuyên nghiệp, không ngừng cung cấp
các giải pháp tối ưu, tạo sự thuận lợi tối đa cho khách hàng theo mô hình một cửa khép
kín.
24
GVHD: Võ Thanh Thu SVTH: Huỳnh Trọng Nguyên
Là cầu nối tin cậy, uy tín giữa người mua và người bán trong giao dịch bất động
sản.
Tầm nhìn
Trở thành doanh nghiệp hàng đầu về đầu tư – kinh doanh bất động sản chuyên
nghiệp tại Việt Nam.
Liên kết, phát triển mạnh trong lĩnh vực đầu tư dự án, đầu tư tài chính.
Đào tạo – xây dựng đội ngũ nhân viên năng động, có trình độ chuyên môn giỏi,
thích ứng nhanh nhạy thị trường và tâm huyết với nghề bất động sản.
2.1.3. Giá trị cốt lõi
Góp phần đưa hoạt động lĩnh vực BĐS Việt Nam lên một tầm mới.
2.1.4. Văn hóa công ty
Công ty Cổ phần Giao dịch Bất động sản Nam Việt (NAVIREAL) phát huy tốt
giá trị văn hóa. Ngay khi mới thành lập, Ban lãnh đạo Công ty đã nhận thức rằng:
“Muốn việc kinh doanh ngày càng phát triển vững mạnh, một tổ chức quản trị tốt chưa
đủ mà phải nhanh chóng hòa nhập và gắn kết mọi nhân viên lại với nhau tạo nên một
môi trường văn hóa, thân thiện là điều không thể thiếu”.
Công ty Cổ phần Giao dịch Bất động sản Nam Việt (NAVIREAL), một môi
trường làm việc văn hóa, hiện đại nơi các nhân viên phát huy tối đa năng lực bản thân
và phát triển kỹ năng làm việc một cách chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo. Ban lãnh