LỜI NÓI ĐẦU
Từ sau khi thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước thì nền kinh tế nước ta
đã có được những thành quả đáng kể. Doanh nghiệp được thực hiện sản xuất
kinh doanh theo năng lực và được hưởng theo cơ chế lãi doanh nghiệp được
hưởng lỗ doanh nghiệp chịu. Vì vậy mà dẫn đến sự cạnh tranh găy gắt giữa
các doanh nghiệp nhằm mục đích lợi nhuận. Việc tổ chưc sản xuất kinh
doanh được tổ chức một cách có hệ thống nhất nhằm giảm chi phí cho công
ty từ đó có thể nâng cao khả năng của công ty.
Ngày nay, với vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành vấn đề quan
tâm của hầu hết các nước trong đó có Việt Nam. Chìa khoá của hội nhập
kinh tế quốc tế là việc thực hiện xuất khẩu hàng hoá, lao động, vốn sang
những thị trường bạn nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vì vậy, xuất khẩu là một nghiệp vụ rất quan trọng cho quá trình phát triển
kinh doanh của các doanh nghiệp và các quốc gia.
Thấy được vai trò quan trọng của xuất khẩu, cùng với yêu cầu của chương
trình học tập tại trường, em đã tham gia tìm hiểu thực tế công tác sản xuất
kinh doanh, xuất khẩu tại công ty cổ phần chè Kim Anh. Nhờ sự giúp đỡ của
ban lãnh đạo và các cán bộ nhân viên phòng kế hoạch- tài chính, cùng sự
hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn THS. Ngô Thị Tuyết Mai em đã
hoàn thành báo cáo thực tập tổng hợp về tình hình sản xuất kinh doanh tại
công ty.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo gồm các mục sau:
I. Tổ quan chung về công ty.
II. Đặc điểm về tổ chức sản xuất
III. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
I, TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ KIM ANH
1, Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần chè Kim Anh
Công ty cổ phần chè Kim Anh có tiền thân là công ty chè Kim Anh,
có bề dày lịch sử phát triển hơn 40 năm và luôn được bầu là công ty đi đầu
trong quá trình phát triển của nghành chè Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa
và các nước XHCN ở Đông Âu. Đối với nhà máy chè xuất khẩu Kim Anh
không những bị ảnh hưởng do những nguyên nhân khách quan trên mà còn
ảnh hưởng do sự di dời công ty và sự sắp xếp lại bộ máy tổ chức, cơ cấu.
Nhưng với sự nỗ lực của các cán bộ và công nhân của nhà máy cùng với sự
giúp đỡ của liên hiệp chè thì những khó khăn cũng dần được khắc phục và
sản xuất của nhà máy càng ngày càng phát triển.
Tháng 2/1990 nhà máy chè xuất khẩu Kim Anh được đổi tên thành
nhà máy chè Kim Anh. Nhưng một lần nữa nhà máy lại gặp phải khó khăn
do sự chuyển đổi cơ chế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, những thị trường truyền
thống như Liên Xô và các nước Đông Âu bị tan rã. Đứng trước thử thách lớn
như vậy các cán bộ và công nhân nhà máy thấy rằng cần phải có sự cải tiến
công nghệ để có thể duy trì được thị trường cũ và xâm nhập được thị trường
mới. Sự nỗ lực của họ không những làm cho nhà máy vượt qua khó khăn mà
còn khăng định được vị trí của mình trong qúa trình phát triển kinh tế đất
nước.
Ngày 18/12/1995 nhà máy chè Kim Anh lại được đổi tên thành công
ty chè Kim Anh trực thuộc tổng công ty chè Việt Nam. Từ năm 1995 – 1999
công ty đã có bước tiến đáng kể như việc nắm bắt được thị hiếu của người
tiêu dùng nên công ty đã cho ra nhiều loại chè như: chè đen, chè xanh, chè
hương liệu, chè túi lọc: chè sen, chè nhài, chè xanh các sản phẩm của công
ty không những trở nên quen thuộc với người tiêu dùng trong nước mà còn
được người tiêu dùng nước ngoài ưa thích. Thị trường tiêu thụ của công ty
đã được mở rộng như :thị trường Hồng Kông, Pháp, Đông Âu chính sự đa
dạng về các loại chè cũng như chất lượng chè được đảm bảo đã làm cho các
bạn hàng trở nên tin cậy hơn và công ty ngày càng có uy tín hơn trên thị
trường quốc tế. Sản lượng chè xuất khẩu của công ty đạt 60% sản lượng sản
xuất của công ty. Tính đến cuối năm 1998, tổng vốn kinh doanh của công ty
là 8.838.350.000 VND, tăng 70% so với năm 1996 ( 5.201.883.000 VND)
trong đó vốn lưu động là 3.732.208.000 VND, tăng 17,7% và vốn cố định là
của công ty. Hiện nay, số lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm 410
người trong đó, lao động trực tiếp là 210 người, lao động gián tiếp là 200
người. Với tỷ lệ nữ chiếm 47%, tỷ lệ nam chiếm 53%. Trình độ của người
lao động cũng được nâng cao như trên 30 người có trình độ đại học và cao
đẳng, trên 50 người có trình độ trung cấp và một đội ngũ công nhân lành
nghề.
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được tổ chức như sau :
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
PHÒNG KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
P-TÀI
CHÍNH
KẾ
TOÁN
P-HÀNH
CHÍNH
TỔNG
HỢP
PHÒNG
KCS
PHÒNG
CƠ ĐIỆN
PX
THÀNH
PHẨM
PX CHẾ
BIẾN
Phó giám đốc
nguyên liệu
trực tiếp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo các nghị
quyết của HĐQT và phương án của công ty, được uỷ quyền là đại
diện hợp pháp của công ty.
• Phó giám đốc kinh doanh: phụ trách về việc tiêu thụ sản phẩm, trực
tiếp quản lý phòng kinh tế thị trường.
• Phó giám đốc nguyên liệu: phụ trách thu mua các yếu tố đầu vào cho
sản xuất ở 2 xí nghiệp thành viên là nhà máy chè Đại Từ và nhà máy
chè Định Hoá và phân xưởng chè Ngọc Thanh.
• Phòng kinh tế thị trường (KTTT): có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường,
giới thiệu sản phẩm, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch sản xuất
và tiêu thụ, xác định các định mức kinh tế kĩ thuật.
• Phòng tài chính kế toán: có nhiệm vụ tổ chức các vấn đề liên quan đến
công tác kế toán của công ty theo đúng chế độ kế toán hiện hành, cung
cấp các thông tin kế toán cho các bộ phận có liên quan, cố vấn cho
giám đốc trong quản trị doanh nghiệp.
• Phòng hành chình tổng hợp: giải quyết các vấn đề có liên quan đến
người lao động như tuyển lao động, đào tạo lao động khen thưởng kỷ
luật công nhân viên và giải quyết các vấn đề liên quan đến tiền lương
của đơn vị.
• Phòng KCS: Theo dõi quy trình công nghệ, đảm bảo về mặt kỹ thuật
cho quy trình sản xuất, xây dựng định mức nguyên vật liệu.
• Phòng cơ điện: có nhiệm vụ bảo đảm cho máy móc hoạt động thông
suốt trong cả quá trình vận hành.
• Phân xưởng thành phẩm có nhiệm vụ đóng gói chè và vận chuyển đến
kho thành phẩm.
• Phân xưởng chế biến: thực hiện toàn bộ quy trình tinh chế từ chè búp
khô thành chè thành phẩm.
• Xí nghiệp thành viên: là nhà máy chè Đại Từ và Định Hoávà xưởng
chế biến chè Ngọc Thanh có nhiệm vụ thu mua chè, sơ chế thành chè
búp khô làm nguyên liệu cho sản xuất.
thu mua và sơ chế chè là của nông trường thành chè búp khô làm
nguyên liệu cho sản xuất.
Phân xưởng chế biến: từ chè búp khô do các xí nghiệp chuyển về, PX
phải tái chế lại cùng với các hương liệu để tạo thành các loại chè rồi
chuyển sang phân xưởng thành phẩm để đóng gói. Nhiệm vụ cụ thể
của từng tổ như sau:
Công ty
XN thành viên PX chế biến PX thành phẩm
XN
Đại
Từ
XN
Định
Hoá
Xưởng
Ngọc
Thanh
Tổ
sàng
Tổ
đấu
trộn
Tổ sao
hương
Tổ
ủ
chè
Tổ
phục
vụ
Công ty đã đưa ra thị trường trên 30 loại sản phẩm khác nhau với đủ mẫu mã
bao bì, hương liệu với đủ cách đóng gói: chè Tân Cương, chè Hương Nhài,
chè sen chè thảo mộc, nhưng tựu chung lai mỗi loại chè thuộc 1 trong 3
nhóm mặt hàng chè: chè đen xuất khẩu, chè đen xuất khẩu và chè hương tiêu
dùng nội địa. Nhóm mặt hàng khác nhau, nên quy trình công nghệ cho mỗi
nhóm cũng có sự khác nhau thể hiện qua sơ đồ sau.
Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất chè.
Chè sơ chế
Sấy
Sàng
Tách râu sơ
Cắt cán
Xuất khẩu
Nhập kho thành phẩm
Đóng gói
Đấu trộn
Quạt
Sấy
Sàng
Tách râu sơ
Cắt cán
Đấu trộn
Quạt
Sao hướng
Ủ chè
Sàng tách
Tiêu thụ trong
nước
Đóng gói
với nhau theo một tỷ lệ thích hợp để tạo lên vị riêng cho chè Kim Anh. Nếu
là chè xanh, đen xuất khẩu, sau khi đấu trộn chè được đưa sang phân xưởng
thành phẩm để đóng gói thành chè thành phẩm và nhập kho. Nếu là chè
hương tiêu dùng nội địa thì chuyển qua các công đoạn sau:
- Sao tẩm hương: Việc sao hương được chia làm 3 giai đoạn: thắt ẩm,
sao khô và cho hương. Qua 2 giai đoạn đầu làm chè khô đi và các vị lạ đã
mất, việc sao hương chuyển qua giai đoạn 3. ở giai đoạn này, tuỳ theo kế
hoạch sản xuất loại chè nào mà cho hương liệu phù hợp như: sen, nhài,
chanh, cam, thảo mộc, nhân sâm, nhiệt độ trong chảo lên cao 90 – 100
o
C.
Sau khi cho hương khoảng 15 phút thì cho chè ra.
- Sàng tách hương: Sau khi tẩm hương, chè được ủ từ 1 đến 3 tháng
cho ngấm, rồi qua sàng tách hương để loại bỏ hương liệu.
- Đóng gói: Các loại chè đều được chuyển sang phân xưởng thành
phẩm để đóng gói chè vào hộp, túi, gói theo đúng kích cỡ, trọng lượng rồi
chuyển vào kho thành phẩm.
Quy trình công nghệ sản xuất chè tại công ty cổ phần chè Kim Anh là
quy trình công nghệ ( phức tạp) kiểu liên tục, chu kì sản xuất ngắn ngày,
thuộc loại hình sản xuất với khối lượng lớn, khép kín từ khâu nguyên liệu
đến thành phẩm đóng gói và nhập kho. Sản phẩm của quy trình công nghệ
này là chè thành phẩm các loại, giá trị phẩm cấp của các loại chè phụ thuộc
vào kỹ thuật sản xuất và công thức phân phối, chế nguyên liệu, hương liệu.
Điều này đỏi hỏi công nhân sản xuất phải có tay nghề cao và sự chặt chẽ của
bộ phận quản lý.
III, THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY
1, Tình hình sản xuất kinh doanh của công :
Quá trình sản xuất chè của công ty cổ phần chè kim anh bao gồm hai
giai đoạn đó là giai đoạn sơ chế ở hai xí nghiệp thành viên là nhà máy chè
Nguồn : phòng tài chính công ty cổ phần chè Kim Anh
Tình hình thu mua nguyên liệu chè tươi của công ty năm 2001 tăng
hơn so với những năm trước và năm 2002 sản lượng thu mua tăng so với
năm 2001 là 13.9%. Tuy nhiên sản lượng thu mua năm 2003 lại bị giảm do
nhiều nguyên nhân nhưng đặc biệt là nguyên nhân do thời tiết không được
thuận lợi cho việc phát triển của cây chè do vậy sản lượng chè bị giảm và do
sự biến động của thị trường chè trong nước cũng như thị trường chè quốc tế
cũng làm ảnh hưởng không những đến sản xuất chè của nhà máy chè Kim
Anh mà còn ảnh hưởng đến sản xuất của nghành chè Việt Nam.
Do lượng chè thu mua ở hai xí nghiệp thành viên không đáp ứng đủ cho quá
trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ của công ty nên công ty đã đặt mua sản
phẩm bán thành phẩm ở ngoài. Tuy nhiên vấn đề thu mua sản phẩm bán
thành phẩm của công ty cũng được kiểm tra kỹ lưỡng từ khâu trồng và chăm
sóc cho đến chất lượng chè bán thành phẩm. sản lượng chè thu mua ở ngoài
chiếm 30% tổng sản lượng của công ty.
1.2. giai đoạn 2: chế biến tại công ty chè Kim Anh:
Chè búp tươi được chế biến thành sản phẩm bán thành phẩm tại các
nhà máy thành viên được đưa về công ty chè Kim Anh để thực hiện công
đoạn chế biến thành phẩm, đóng gói và tiêu thụ sản phẩm.
sản phẩm bán thành phẩm được đưa đến phân xưởng chếa biến để thực hiện:
sàng - đấu trộn – sao hương – ủ chè
những sản phâm sau khi chế biến được đưa sang phân xưởng thành phẩm.
Tại đây phân xưởng có nhiệm vụ đóng gói và nhập kho thành phẩm.
Sản lượng chè thành phẩm của công ty
Chỉ tiêu ĐVT 2001 2002 2003
Tổng Sản
lượng kg 2025000 2286700 1726200
Sản
lượng gia
công
như chất lượng thực sự được tự do chưa mang lại lợi ích kinh tế cao như
việc sản xuất chưa thực sự tận dụng được hết các nguồn lực một cách tốt
nhất, chất lượng sản phẩm chưa thực sự được kiểm tra đúng kỹ thuật, quy
cách điều này đã làm cho sức cạnh tranh của công ty bị giảm so với các
doanh nghiệp khác trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài.
Trong khi đó thị trường tiêu thụ của công ty lại bị thu hẹp do thị trường cũ bị
biến động: Liên Xô bị tan rã, các nước XHCN ở đông Âu cũng bị tan rã
theo, cùng với việc thực hiện cấm vận của Mỹ đã làm cho việc tìm hiểu và
xâm nhập vào các thị trường mới trở nên khó khăn. Và chỉ sau khi Mỹ thực
hiện xoá bỏ cấm vận đối với nước ta vào năm 1994 đã làm cho quan hệ của
nước ta đối với các nước trong khu vực cũng như đối với các nước khác trên
thế giới được cải thiện. Việc buôn bán của nước ta với các nước cũng trở
nên dễ dàng hơn, kim nghạch xuất khẩu của nước ta đối với các nước khác
tăng nên rất nhanh và việc thâm nhập vào thị trường mới của các doanh
nghiệp Việt Nam cũng trở nên dễ dàng hơn. Trước sự thay đổi của tình hình
trong nước cũng như tình hình quốc tế, công ty chè Kim Anh cũng đã không
ngừng cải tiến và nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty không những
đối với thị trường trong nước mà còn đối với thị trường nước ngoài. Bằng sự
nỗ lực của mình công ty chè Kim Anh đã có những thành tựu đáng kể đặc
biệt là công ty đã thâm nhập được vào thị trường mới và khó tính như thị
trường Pháp, Canada và khôi phục được thị trường truyền thống như thị
trường Nga, Đông Âu.
Năm 1999 nhà nước có chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước, công ty chè Kim Anh là công ty đầu tiên thuộc nghành chè được chọn
thực hiện cổ phần hoá. chính nhờ sự kịp thời chuyển đổi này công ty đã có
được những thành công cho quá trình kinh doanh sản xuất. Sản lượng xuất
khẩu cũng được tăng lên
Sản lượng xuất khẩu 2001 – 2003
chỉ tiêu ĐVT 2001 2002 2003
Sản lượng
những loại chè lọc như chè lọc nhài, chè lọc xanh, chè lọc đen, chè
Atiso, chè cà phê đen nhúng TANVIEN hay chè thảo mộc nhiều loại
chè của công ty đã trở nên quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam.
Công ty cũng đã xây dựng được một mạng lưới tiêu thụ trong khắp cả
nước với 43 đại lý từ Nam ra Bắc như đại lý ở TPHCM, Sài Gòn,
Huế, Nha Trang, Thanh Hoá, Nghệ An, Bắc Ninh, Hà Nội tuỳ mức
độ phát triển của các tỉnh mà công ty đặt một hay nhiều đại lý. Việc
xây dựng được hệ thống đại lý đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp tới người tiêu dùng được thực hiện một cách tốt nhất
cũng như việc tiếp cận và tìm hiểu nhu cầu khách hàng cũng được
thực hiện thông qua các đại lý. Vì vậy mà sản phẩm của công ty đã trở
thành sản phẩm quen thuộc không những đối với các gia đình Việt
Nam mà còn được người tiêu dùng nước ngoài ưa thích. Công ty cũng
đã đạt được những thành tựu trong việc tìm kiếm và thâm nhập vào
những thị trường mới như thị trường Pháp, Canada và duy trì được
thị trường truyền thống như thị trường Nga và một số nước ở Đông
Âu.
• Hiện nay, công ty chè đã nghiên cứu và cho vào trồng một số loại chè
giống mới cho chất lượng cao như: đại bạch trà, LDP1, 777 nhằm đáp
ứng được thị hiếu của khách hàng ngày càng tốt hơn.
3.2, Những khó khăn, vướng mắc
• Công ty cô phần chè Kim Anh có trụ sở tại xã Mai Đình huyện Sóc
Sơn nhưng đây lại không phải là nơi cung cấp nguyên liệu cho công
ty. Vì ở Sóc Sơn diện tích trông chè của rất ít và việc thực hiện thâm
canh cây chè ở đây thực hiện không đúng quy trình cũng làm cho chất
lượng chè không được đảm bảo. vì vậy công ty phải chi phí thêm cho
quá trình vận chuyển và khai thác vùng nguyên liệu ở xa như vùng
chè Thái Nguyên, Vĩnh Phúc.
• Vẫn có sự nghi ngờ về chất lượng chè về vấn đề chất kháng sinh có
trong chè vượt quá lượng cho phép. Dịch vụ giám định chất lượng chè