BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Phần I. Giới thiệu chung về công ty thực tập.
- Vị trí, chức năng.
- Mô hình tổng quát về cơ cấu sản xuất, cơ cấu tổ chức quản lý.
- Mối quan hệ giữa các phòng ban, đội sản xuất.
- Phương hướng và nhiệm vụ cụ thể trong sản xuất kinh doanh của công ty.
1. Vị trí, chức năng:
Tên công ty:
- Tên tiếng Việt: Công ty cổ phần xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh;
- Tên viết tắt: HCMC.JSC;
- Tên giao dịch quốc tế:MUSEUM CONSTRUCTION JOINT STOCK COMPANY;
- Trụ sở chính: 48A – phường Láng Hạ - quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội;
- Trụ sở giao dịch: 381 phố Đội Cấn – quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội;
Cơ quan chủ quản: Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Công ty
cổ phần xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh được thành lập lại năm 1993 theo quyết định số 144A/
BXD- TCLĐ và được chuyển thành công ty cổ phần năm 2005 theo quyết định số 2055/ QĐ-
BXD.
Công ty cổ phần xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh có tư cách pháp nhân theo luật pháp Việt Nam,
thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập; có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng
theo quy định của pháp luật; được đăng kí kinh doanh theo luật định; được tổ chức và hoạt động
theo luật doanh nghiệp và Điều lệ của công ty cổ phần đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Vốn điều lệ của công ty là: 80.000.000.000 VNĐ ( Tám mươi tỷ đồng chẵn).
Các ngành nghề kinh doanh của công ty theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh gồm có:
- Đầu tư kinh doanh du lịch, du lịch sinh thái, khách sạn và lữ hành( không bao gồm kinh doanh
phòng hát karaoke, vũ trường, quán bar);
- Tư vấn xây dựng các dự án nhà ở khu đô thị, khu công nghiệp và các công trình xây dựng dân
dụng;
- Phá dỡ các công trình kiến trúc, giải tỏa mặt bằng xây dựng;
- Lắp đặt các thiết bị cơ điện, điện lạnh, trang trí nội, ngoại thất;
- Kinh doanh bất động sản;
- Sản xuất kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông, phụ kiện kim loại cho xây
2.2 Sơ đồ tổ chức của công ty :
- Công ty được tổ chức rất chặt chẽ theo cơ cấu chức năng. Các phòng ban trong công ty vừa có
mối liên hệ dọc, vừa có mối liên hệ ngang.
- Đại hội đồng cổ đông quyết định các vấn đề then chốt của công ty cũng như xác định chiến
lược phát triển.
- Chỉ đạo thực hiện cũng như giám sát chiến lược mà đại hội đồng cổ đông đã đề ra là giám đốc.
- Đơn vị sản xuất chính của công ty là các xí nghiệp xây dựng, mỗi xí nghiệp lại có tổ chức bộ
máy quản lý riêng.
- Biên chế dưới các xí nghiệp xây dựng là các đội xây dựng và các ban quản lý các tòa nhà, khu
đô thị.
- Sơ đồ tổ chức của công ty được thể hiện cụ thể theo mô hình dưới đây:
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
BAN AN TOÀN
P. CƠ ĐIỆN
PHÓ GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC
GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM
SOÁT
HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
P.KỸ THUẬT
THI CÔNG
P. TÀI CHÍNH
P.TỔ CHỨC
LAO ĐỘNG
TRUNG TÂM TƯ
VẤN XD SỐ 1
PHÒNG
DỰNG
SỐ5
XÍ
NGHIỆP
XÂY
DỰNG
SỐ 18
XÍ
NGHIỆP
XÂY
DỰNG
SỐ 17
XÍ
NGHIỆP
XÂY
DỰNG
SỐ 8
XÍ
NGHIỆP
XÂY
DỰNG
SỐ 7
XÍ
NGHIỆP
XD &
PT NHÀ
XÍ
NGHIỆP
XÂY
DỰNG
BQL
LÀNG
QUỐC
TẾ
T.LONG
3. Mối quan hệ giữa các phòng ban trong công ty :
Dựa vào sơ đồ tổ chức của công ty chúng ta có thể thấy được công ty gồm các phòng ban
chính như sau:
3.1. Phòng quản lý dự án và hồ sơ thầu:
a. Chức năng chính : Tham mưu cho ban lãnh đạo Công ty về công tác kỹ thuật thi công, đấu
thầu và quản lí dự án.
b. Mối quan hệ với các phòng ban khác :
- Phối hợp với phòng tổ chức lao động điều động nhân lực, thiết bị, vật tư đảm bảo hiệu quả
cho các dự án.
- Phối hợp với phòng kỹ thuật thi công để lập biện pháp thi công, lập dự toán, nghiệm thu
khối lượng, thanh quyết toán các dự án thi công trình Lãnh đạo công ty phê duyệt.
- Kiểm tra, theo dõi việc thực hiện tiến độ, chất lượng. thu hồi vốn, biện pháp thi công, biện
pháp an toàn lao động, hiệu quả các dự án dựa trên sự hợp tác với ban an toàn và phòng tài
chính.
- Xét duyệt danh sách đào tạo và nhu cầu đào tạo hàng năm của Phòng gửi về phòng Tổ chức
hành chính.
3.2. Trung tâm tư vấn xây dựng số I :
a. Chức năng chính: Tham mưu cho ban lãnh đạo Công ty về công tác kỹ thuật thi công, đấu
thầu và quản lí dự án.
b. Mối quan hệ với các phòng ban khác trong công ty:
- Phối hợp với phòng quản lý dự án và hồ sơ thầu để lập dự án đầu tư.
- Kết hợp với phòng kỹ thuật thi công nhằm Thiết kế xây dựng công trình và thẩm tra thiết kế
kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán và tổng dự toán.
3.3. Phòng kỹ thuật thi công:
a. Chức năng chính: Tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong lĩnh vực quản lý kỹ thuật, thi
- Phối hợp với các phòng ban trong công ty cũng như các đội sản xuất để thu thập các thông
tin về tình trạng hoạt động của các hệ thống và cập nhật các sự cố, hư hỏng của các hệ thống
thiết bị thuộc bộ phận mình quản lý.
3.6. Phòng hành chính quản trị:
a. Chức năng chính: Có chức năng tham mưu tổng hợp cho ban lãnh đạo công ty bao gồm:
Tiếp nhận, sàng lọc, tổng hợp, lưu trữ và chuyển phát thông tin cho lãnh đạo và các đơn vị,
đồng thời có chức năng hậu cần, chuẩn bị cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị, công cụ, tài
chính và quản lý, sắp xếp, phân phối kịp thời phục vụ các hoạt động của công ty.
b. Mối quan hệ với các phòng ban trong công ty:
- Có quan hệ chặt chẽ với phòng tổ chức lao động thực hiện mục đích theo dõi nội quy, chấm
công và bảo hiểm trong nội bộ công ty.
- Phối hợp với các phòng ban và các xí nghiệp xây dựng trong công ty nhằm đáp ứng đầy đủ
các nhu cầu phương tiện, thiết bị, công cụ cho các đơn vị này.
3.7. Phòng tổ chức lao động:
a. Chức năng chính:
- Tham mưu cho lãnh đạo công ty xây dựng bộ máy của công ty và các đơn vị trực thuộc.
Quy định chức năng, quyền hạn của các phòng quản lý và các đơn vị trực thuộc.
- Chuẩn bị dự thảo kế hoạch phát triển nhân lực của công ty.
- Theo dõi quản lý số lượng và chất lượng đội ngũ công nhân viên, đề xuất việc luân chuyển
và điều động cán bộ giữa các đơn vị trực thuộc, làm các thủ tục khen thưởng, kỉ luật, nâng
bậc lương.
- Quản lý hồ sơ nhân sự của công ty.
- Lập kế hoạch tiền lương hàng năm, kế hoạch đổi mới nhân sự, kế hoạch bồi dưỡng nâng cao
trình độ cán bộ công nhân viên.
b. Mối quan hệ với các phòng ban:
- Liên hệ chặt chẽ với các phòng ban và các xí nghiệp để nắm được tình hình lao động cụ thể,
từ đó đưa ra các kế hoạch theo chức năng chính.
- Phối hợp với ban an toàn để phổ biến kế hoạch an toàn cho các cán bộ công nhân viên trong
công ty.
3.8. Phòng kế hoạch kinh tế thị trường:
4. Phương hướng và nhiệm vụ cụ thể trong sản xuất kinh doanh của công ty:
4.1. Phương hướng phát triển của công ty:
- Trong năm kế hoạch tiếp theo công ty cổ phần xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh phấn
đấu hoàn thành đúng và vượt tiến độ các công trình đang thi công đồng thời đấu thầu được
các công trình mới có quy mô và tầm cỡ.
- Củng cố, phát triển các lĩnh vực công ty đang kinh doanh đồng thời mở thêm các
ngành nghề kinh doanh mới.
4.2. Nhiệm vụ cụ thể của công ty:
- Hoàn thành các công trình trọng điểm như công trình đường dẫn cầu Nhật Tân, dự
án sửa chữa viện mắt TW…
- Nâng cao dịch vụ tại các khu nhà do công ty làm chủ đầu tư và cho thuê.
- Khai thác hết diện tích cho thuê của công ty.
- Đẩy mạnh các hoạt động như đầu tư tài chính, bất động sản.
Phần II: Giá dự thầu và phương pháp lập giá dự thầu
2.1 Những vấn đề chung về đấu thầu
2.1.1 Khái niệm đấu thầu, sự cần thiết của đấu thầu
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để
thực hiện gói thầu trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả
kinh tế.
Hàng năm, các nước trên thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng, Chính phủ
đều phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật cho đất nước. Đó là sự đánh
giá của một đất nước về phát triển kinh tế trong hiện tại và tương lai.
Trong xây dựng cơ bản, theo cơ chế cũ chúng ta chủ yếu quản lý bằng phương pháp
giao nhận thầu theo kế hoạch. Hiện nay, theo cơ chế mới, chúng ta đang tiến hành áp dụng
nhiều phương thức thích hợp với cơ chế thị trường. Ngoài các hình thức giao nhận thầu xây
lắp trực tiếp như trước đây (hiện nay là chỉ định thầu cho những công trình đặc biệt), chúng ta
chủ yếu sử dụng phương thức đấu thầu.
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất cần thiết cho sự phát triển tổng thể của nền kinh tế
quốc dân. Đấu thầu đã tạo nên sức cạnh tranh mới và lành mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ
bản. Nó đã tác động lớn đến việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động xây dựng
Nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu, đứng tên dự
thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn (sau đây gọi là nhà thầu tham gia đấu
thầu). Nhà thầu tham gia đấu thầu một cách độc lập gọi là nhà thầu độc lập. Nhà thầu cùng
với một hoặc nhiều nhà thầu khác tham gia đấu thầu trong một đơn dự thầu thì gọi là nhà thầu
liên danh.
Nhà thầu tư vấn là nhà thầu tham gia đấu thầu cung cấp các sản phẩm đáp ứng yêu cầu
về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn.
Nhà thầu cung cấp là nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu cung cấp hàng hóa.
Nhà thầu xây dựng là nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu xây lắp.
Nhà thầu EPC là nhà thầu tham gia đấu thầu để thực hiện gói thầu EPC.
Nhà thầu phụ là nhà thầu thực hiện một phần công việc của gói thầu trên cơ sở thoả
thuận hoặc hợp đồng được ký với nhà thầu chính. Nhà thầu phụ không phải là nhà thầu chịu
trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu.
Gói thầu là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu là toàn bộ
dự án; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là
khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên.
Gói thầu EPC là gói thầu bao gồm toàn bộ các công việc thiết kế, cung cấp thiết bị, vật
tư và xây lắp.
Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế
bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu
và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu; là căn cứ cho
việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng.
Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và
được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu.
Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng
mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành.
Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu. Trường hợp
nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá.
Giá đề nghị trúng thầu là giá do bên mời thầu đề nghị trên cơ sở giá dự thầu của nhà
thầu được lựa chọn trúng thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh các sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời
xây dựng
Kế hoạch đấu thầu; Thông báo mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển; Thông báo mời thầu đối với
đấu thầu rộng rãi; Danh sách nhà thầu được mời tham gia đấu thầu; Kết quả lựa chọn nhà
thầu; Thông tin xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu; Văn bản quy phạm pháp luật về đấu
thầu hiện hành; Các thông tin liên quan khác. Ngoài ra, các thông tin trên còn có thể đăng
trên các phương tiện thông tin đại chúng khác để tạo thuận tiện trong việc tiếp cận của các tổ
chức và cá nhân có quan tâm.
Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu
thầu. Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia
của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không
bình đẳng.
Hình thức đấu thầu này được khuyến khích áp dụng nhằm đạt tính cạnh tranh cao trên
cơ sở tham gia của nhiều nhà thầu. Tuy nhiên, hình thức này được áp dụng tùy theo từng dự
án cụ thể trong phạm vi một địa phương, một vùng, toàn quốc hoặc quốc tế.
b) Đấu thầu hạn chế: được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
+ Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu;
+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính
chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói
thầu.
Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu 5 nhà thầu được xác định là có đủ
năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn 5 nhà thầu, chủ đầu
tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn
chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác.
c) Chỉ định thầu: được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
+ Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì chủ đầu tư
hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chỉ định ngay nhà thầu để
thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình,
tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định
trong thời hạn không quá mười lăm ngày kể từ ngày chỉ định thầu;
+ Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài;
chính.
g) Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn
nhà thầu trên thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh
tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
h) Lựa chọn nhà thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng
Việc lựa chọn nhà thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng được thực hiện đối với
các công trình sau:
+ Trụ sở cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên;
+ Các công trình văn hóa, thể thao, các công trình công cộng có quy mô lớn;
+ Các công trình khác có kiến trúc đặc thù.
2.3 Các phương thức đấu thầu
Hiện nay, để thực hiện việc đấu thầu có thể áp dụng một trong các phương thức sau
đây:
a) Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng
rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC. Nhà thầu nộp
hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời
thầu. Việc mở thầu được tiến hành một lần.
b) Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ được áp dụng đối với đấu thầu rộng rãi và đấu
thầu hạn chế trong đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn. Nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề
xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Việc mở thầu được tiến hành hai
lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất
cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để đánh
giá tổng hợp. Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chính của nhà
thầu đạt số điểm kỹ thuật cao nhất sẽ được mở để xem xét, thương thảo.
c) Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng
rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật, công
nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:
+ Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu nộp đề xuất
về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao đổi với từng nhà
: Đơn giá dự thầu công tác xây lắp thứ i do nhà thầu lập ra theo hướng dẫn chung
về lập giá xây dựng trên cơ sở điều kiện cụ thể của mình và giá cả thị trường hoặc theo mặt
bằng giá được ấn định trong hồ sơ mời thầu.
+ n: Số lượng công tác xây lắp do chủ đầu tư xác định lúc mời thầu.
2.4.1 Các thành phần chi phí trong đơn giá dự thầu
Đơn giá dự thầu (Đ) bao gồm các chi phí sau:
Đ = VL + NC + M + TT + C + TL + GTGT + G
XDNT
+ Chi phí vật liệu: VL
+ Chi phí nhân công: NC
+ Chí phí máy thi công: M
+ Trực tiếp phí khác: TT
Cộng chi phí trực tiếp: T = VL + NC + M + TT
+ Chi phí phí chung: C
+ Thu nhập chịu thuế tính trước của nhà thầu: TL
Đơn giá dự thầu trước thuế:
tt
dt
ĐG
= T + C + TL
+ Thuế giá trị gia tăng: GTGT
Đơn giá dự thầu sau thuế:
st
dt
ĐG
=
tt
dt
ĐG
+ GTGT
được sử dụng nhiều lần và giá trị của nó được chuyển dần vào giá trị sản phẩm dưới dạng
khấu trừ dần. Có thể xác định phần giá trị của vật liệu luân chuyển vào giá trị sản phẩm qua
mỗi lần lận chuyển theo công thức kinh nghiệm sau:
Trong đó:
+ K
lc
: Hệ số luân chuyển của vật liệu luân chuyển qua mỗi lần sử dụng (hệ số chuyển
giá trị).
+ n: Số lần sử dụng vật liệu luân chuyển. Trường hợp vật liệu sử dụng tại một chỗ
nhưng sử dụng lưu dài ngày thì cứ sau một khoảng thời gian nhất định (từ 3-6 tháng) lại được
tính thêm 1 lần luân chuyển.
+ h: Tỷ lệ bù hao hụt từ lần 2 trở đi tính bằng %.
Vậy chi phí vật liệu trong đơn giá dự thầu được tính bình quân theo công thức sau:
VL = (1+K
P
).
∑
=
n
i 1
ĐM
vl(i)
.g
vl(i)
+
∑
=
m
j 1
C
b/ Phương pháp xác định chi phí nhân công trong đơn giá dự thầu (NC)
Chi phí nhân công trong đơn giá dự thầu do từng nhà thầu lập để đấu thầu là giá cá biệt.
Cơ sở xác định là cấp bậc thợ bình quân cho từng loại công việc dựa theo sự biên chế của các
tổ, nhóm đã được kiểm nghiệm qua nhiều công trình xây dựng và giá nhân công trên thị
trường lao động.
Chi phí nhân công có thể được xác định theo công thức:
NC = B x g
NC
Trong đó:
+ B: Lượng hao phí lao động tính bằng ngày công trực tiếp theo cấp bậc bình quân
cho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng.
+ g
NC
: Mức đơn giá tiền lương ngày công trực tiếp xây dựng bình quân tương ứng với
cấp bậc quy định.
Đơn giá tiền lương ngày công có thể được xác định như sau:
g
NC
= (LTTxH
cb
+ LTTxf
1
+ LCBxf
2
)/26
Trong đó:
+ LTT: Mức lương tối thiểu theo quy định. (đồng/tháng)
+ H
cb
+ K
MTC
: hệ số tính chi phí máy khác (nếu có) so với tổng chi phí máy, thiết bị thi công
chủ yếu;
+ M
i
: lượng hao phí ca máy của loại máy, thiết bị thi công chính thứ i (i=1÷n) tính cho
một đơn vị khối lượng công tác xây dựng trong định mức dự toán xây dựng công trình;
+ g
i
MTC
: giá ca máy của loại máy, thiết bị thi công chính thứ i (i=1÷n) theo bảng giá ca
máy và thiết bị thi công của công trình hoặc giá thuê máy xác định theo hướng dẫn của Bộ
Xây dựng.
1
Giá ca máy có thể được xác định theo công thức sau:
g
i
MTC
= C
KH
+ C
SC
+ C
NL
+ C
TL
+ C
CPK
(đồng/ca)
1
+ Thông thường tỷ lệ chi phí chung của các doanh nghiệp được xác định dựa vào số
liệu thống kê bình quân qua các năm mà doanh nghiệp thực tế chi.
Chi phí chung trong đơn giá dự thầu được xác định như sau:
C = Tỷ lệ % x (VL + NC + M + TT)
Tỷ lệ % do nhà thầu tự chọn với mức tối đa là 5,5%.
f/ Thu nhập chịu thuế tính trước trong đơn giá dự thầu (TL)
Đây chính là khoản lợi nhuận được tính trước của nhà thầu, thu nhập chịu thuế tính
trước trong đơn giá dự thầu được xác định như sau:
TL = Tỷ lệ % x (VL + NC + M + TT + C)
Tỷ lệ % do nhà thầu tự chọn với mức tối đa là 6% và đảm bảo 3 nguyên tắc:
+ Thực hiện được nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước;
+ Đảm bảo cho nhà thầu có tích lũy để phát triển và mở rộng sản xuất;
+ Đảm bảo xác suất trúng thầu là cao nhất.
g/ Thuế giá trị gia tăng trong đơn giá dự thầu (GTGT)
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu người mua hàng phải chịu thông qua thuế gộp
vào giá bán. Thuế VAT về xây dựng là 10%. Thuế giá trị gia tăng đầu ra được sử dụng để trả
số thuế giá trị gia tăng đầu vào mà doanh nghiệp xây dựng đã trả trước khi mua các loại vật
tư, vật liệu, năng lượng
Thuế giá trị gia tăng trong đơn giá dự thầu được xác định như sau:
GTGT = T
GTGT-XD
x (VL + NC + M + TT + C +TL)
+ T
GTGT-XD
: Mức thuế suất thuế GTGT quy định cho công tác xây dựng. Theo quy định
hiện hành thì T
GTGT-XD
= 10%.
h/ Chi phí xây dựng nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công (G
Về khối lượng vật liệu có thể sử dụng định mức sử dụng vật liệu của Việt Nam nhưng
cần kiểm tra lại để loại trừ những chỗ tính trùng lặp. Theo cơ chế thị trường, vật liệu có thể
được cung ứng theo nhiều cách khác nhau và được tính theo giá tại chân công trình. Các hao
hụt ngoài công trường đã được người bán tính vào giá bán, hao hụt trong thi công được tính
bằng hiện vật và gộp vào số lượng gốc tạo thành định mức chi phí vật liệu. Nếu những công
việc yêu cầu theo tiêu chuẩn kỹ thuật nước ngoài thì cần điều chỉnh cho phù hợp.
- Với vật liệu nhập ngoại: Tính đầy đủ theo hướng dẫn về tính giá xây dựng của Nhà
nước.
Giá VL tại
chân công
trình
=
Giá nhập VL
tại kho, cảng
nhận
+
Chi phí lưu
thông
+
Chi phí tại hiện
trường
Giá nhập vật liệu tại kho, cảng nhận: Tính theo giá ngoại tệ chuyển đổi sang tiền Việt
Nam tại thời điểm nhập và tỷ giá của ngân hàng ngoại thương công bố.
- Với vật liệu sản xuất trong nước:
+ Với vật liệu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (ximăng, gỗ, ) thì tính với giá xuất khẩu tại
chỗ hoặc tính theo giá tương đương trong khu vực Đông Nam Á.
+ Với vật liệu thông thường như đá, cát, sỏi thì cần tính đầy đủ chi phí, thuế, lãi như
giá bán của các cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng.
b/ Xác định chi phí nhân công trong đơn giá dự thầu quốc tế
Chi phí
+ Mua giấy bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
+ Mua giấy bảo lãnh khoản tiền tạm ứng trước.
+ Mua các loại bảo hiểm theo yêu cầu của dự án (bảo hiểm công trình, bảo hiểm tai
nạn cho người lao động ).
Chi phí dự phòng: Với một số dự án xây dựng, gói thầu có địa chất yếu hoặc tài liệu về
địa chất thuỷ văn chưa đủ tin cậy, nền móng phức tạp mà thực hiện đấu thầu trọn gói (giá
thanh toán đúng bằng giá trúng thầu) thì cần phải đưa khoản chi phí dự phòng vào đơn giá dự
thầu.
e/ Xác định thu nhập chịu thuế tính trước trong đơn giá dự thầu quốc tế
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng cơ bản là sản xuất ra theo sự đặt hàng trước, có
nghĩa là quá trình hoàn thành sản phẩm theo đúng tiến độ và chất lượng cũng là quá trình tiêu
thụ sản phẩm và người xây dựng có thể tính trước khoản lãi vào giá bán sản phẩm. Khoản lãi
được tính trước vào giá bán sản phẩm cao hay thấp nó ảnh hưởng đến khả năng thắng thầu
nhiều hay ít.
f/ Xác định thuế giá trị gia tăng trong đơn giá dự thầu quốc tế
Thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu, tức là nhà thầu phải nộp thuế nhưng chủ đầu tư
phải gánh chịu. Hiện nay nhiều nước đang áp dụng luật thuế VAT, Việt Nam cũng đã ký với
một số nước thoả ước tránh đánh thuế hai lần và Quốc hội cũng đã thông qua luật thuế này.
Vì vậy khi thành lập giá dự thầu phải đưa khoản mục thuế này vào.
Phần II I : GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TRÌNH THỰC TẬP
I. Giới thiệu chung về dự án
*Quy mô và đặc điểm dự án:
Gói thầu số 3 – xây dựng đường dẫn phía Bắc cầu Nhật Tân
Thầu chính: Tokyu Construction
Chủ đầu tư: PMU85 – Bộ giao thông vận tải
Tư vấn: Cho dai – NE and Tedi
Điểm đầu dự án là Km4+331 trên Đê tả hồng, thuộc xã Vĩnh Ngọc, điểm cuối dự án là
Km8+950 thuộc khu chợ rau Vân Trì thuộc xã Vân Nội
Dự án nằm trên đồng ruộng, công tác giải phóng mặt bằng cơ bản đã hoàn thành
Gói thầu phụ số 3: Thuộc đoạn đường cuối tuyến Km 7+080 – 8+950
+ Đào khuôn đường bằng máy san và lu nèn lại đảm bảo độ chặt yêu cầu.
- Đối với nền đường đắp:
+ Đào đất hữu cơ và đánh bậc cấp.
+ Khai thác đất và vận chuyển về công trường, đổ thành từng đống theo khoảng cách
tính toán.
+ San ủi đất từng thành lớp và lu lèn đạt độ chặt K95, riêng lớp đất là 30cm ngay
bên dưới lớp kết cấu áo đường K98.
1.Công tác lên khuôn đường
Công tác lên khuôn đường (lên ga phóng dạng) nhằm cố định những vị trí chủ yếu của mặt
cắt ngang nền đường trên thực địa để đảm bảo thi công nền đường đúng với hồ sơ thiết kế.
Tài liệu dùng để lên khuôn đường là bản vẽ mặt cắt dọc, bình đồ, mặt cắt ngang nền đường
và thực địa trên tuyến đường.
Khi thi công cơ giới, các cọc lên khuôn đường có thể bị mất đi trong quá trình thi công, vì
vậy cần phải dời ra khỏi phạm vi thi công, và gửi các cọc đó lên vách đá hoặc đóng những