Lời nói đầu
Hiện nay tình hình kinh tế thế giới đã và đang có nhiều biến đổi phức tạp trong
nhiều thập kỷ qua cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong công nghệ hiện đại đã
tạo tiền đề về kinh tế cho nhiều nớc phát triển. Họ đã ra sức điều chỉnh thích nghi
và đa lại sự tăng trởng kinh tế cao.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp lạc hậu, đã nhiều năm chịu sự tàn phá của
chiến tranh. Vì vậy mà nền Kinh tế phát triển thụt lùi so với những nớc phát triển
hàng trăm năm. Để hội nhập với xu hớng hiện nay Đảng và nhà nớc ta đã thực
hiện chủ trơng đổi mới nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của nhà nớc theo định hớng XHCN. Cuộc cải cách này đã xó nhiều tác động to lớn
tới toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của nớc ta và tạo ra nhiều chuyển biến tích cực
trong nền kinh tế. Chính từ đây đã xuất hiện nhiều cơ sở vững chắc và ngày càng
lớn mạnh để hình thành thị trờng tài chính mà quan trọng nhất là thị trờng chứng
khoán Việt Nam.
Thị trờng chứng khoán là những thực thể phức tạp và là hình thức phát triển cao
của nền kinh tế thị trờng. Đối với nớc ta vấn đề này còn khá mới mẻ và đang thu
hút rộng rãi sự chú ý quan tâm của các nhà kinh tế trong nớc cũng nh nớc ngoài.
Chính vì lý do thiết thực đó, trong khuôn khổ bài tiểu luận môn học này, em xin
trình bầy những vấn đề lý luận cơ bản nhất về thị trờng chứng khoán và sự hình
thành một thị trờng chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam. Em mong muốn đợc góp 2
phần tri thức nhỏ bé của mình trong việc tìm hiểu và đánh giá hiện trạng thị trờng
chứng khoán trong nền kinh tế nớc ta hiện nay.
Dù đã hết sức cố gắng, nhng trong bài tiểu luận này không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Vì thế em rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của thầy cô và các
bạn.
Chơng I: Cơ sở lý luận chung về thị trờng
chứng khoán
I. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trờng chứng
khoán trên thế giới.
Lịch sử phát triển các thị trờng chứng khoán thế giới trải qua một sự
phát triển thăng trầm. Vào nhiều năm 1075 1913, thị trơng chứng khoán thế
nên sự thịnh vợng.
Theo định nghĩa trên, thị trờng chứng khoán không phải cơ quan mua vào hoặc
bán ra các chứng khoán. Thị trờng chứng khoán cũng không sở hữu các loại chứng
khoán. Thị truờng chứng khoán là nơi giao dịch, ở đó việc mua bán chứng khoán.
Nh vậy thị trờng chứng khoán không phải là nơi giao dịch (mua bán) chứng
khoán của nhiều ngời muốn mua hay bán chứng khoán mà của những nhà môi
giới. Gía cả chứng khoán đợc hình thành một cách khách quan theo hệ thống bán
đấu giá hai chiều: ngời môi giới mua cạnh tranh với những ngời môi giới khác để
mua với những ngời môi giới khác để mua đợc với giá thấp nhất, ngời môi giới
bán cạnh tranh với nhiều ngời môi giới bán khác để bán đợc với giá cao nhất. Vì
thế mà thị trờng chứng khoán là thị trờng có tính tự do cao nhất trong các loại thị
trờng.
2) Phân loại thị trờng chứng khoán:
a) Thị trờng chính khoán chính thức:
Hầu hết các nớc công nghiệp phát triển đều có thị trờng chứng khoán chính
thức, điều chỉnh là các thị trờng chứng khoán tại New York, Paris, London, Tokyo
....
Thị trờng chứng khoán chính thức là 1 tổ chức có trung tâm giao dịch, có hội
đồng quản trị, có hội viên và có trụ sở riêng. Hội đồng quản trị thảo ra điều lệ
riêng cho thị trờng chứng khoán đặt trụ sở. Điều lệ thị trờng có tính pháp lý đối
với các thành viên và chịu sự giám sát của hội đồng giám sát tại thị trờng chứng
khoán. Thị trờng chứng khoán mở cửa hàng ngày, hội viên họp tại hội trờng trụ sở
với những trang thiết bị hiện đại. Các nhà môi giới có thể liên lạc với những khách
hàng của họ ở khắp mọi nơi hoặc với một nhà môi giới chứng khoán khác. Chứng
khoán cạnh tranh nhau để mua bán theo hình thức đấu giá. Ngời ta cạnh tranh để
mua bán chứng khoán sao cho có lợi nhất cho họ. Ngày nay luật chứng khoán ở
các nớc quy định chặt chẽ và tỉ mỉ đối với các hoạt động giao dịch trên thị trờng
chứng khoán, tránh khủng hoảng cho thị trờng khi mà ta có vốn lớn thực hiện đầu
cơ để đẩy giá lên hoặc dìm gía xuống 1 cách giả tạo, gây tổn hại cho ngời ít vốn ít
cổ phần.
tính hấp dẫn của chứng khoán đối với ngời đầu t. Đây là yếu tố cho thấy tính linh
hoạt, an toàn của vốn đầu t. Thị trờng chứng khoán hoạt động càng năng động và
có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán
giao dịch trên thị trờng.
- Đánh hoạt động của các doanh nghiệp: Thông qua giá chứng khoán hoạt
động của các doanh nghiệp đợc phản ánh 1 cách tổng hợp và chính xác, giúp cho
việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp đợc nhanh chóng và
thuận tiện, từ đó cũng tạo hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ
mới, cải tiến sản phẩm.
- Tạo môi trờng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vi mô. Các
chỉ bảo của thị trờng chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cách
nhạy bén trong chính sách. Gía các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu cơ đang
mở rộng, nền kinh tế tăng trởng và ngợc lại chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu
hiệu tiêu cực của nền kinh tế và là một công cụ quan trong giúp chính phủ thực
hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trờng chứng khoán, chính phủ
cũng có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt
ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số
chính sách, biện pháp tác động vào thị trờng chứng khoán nhằm định hớng đầu t
đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
2) Nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán.
- Nguyên tắc cạnh tranh theo nguyên tắc này giá cả trên thị trờng chứng
khoán phản ánh quan hệ cung cầu vè chứng khoán và thể hiện tơng quan cạnh
tranh giữa các công ty. Trên thị trờng và cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với
nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu t, các nhà đầu t đợc tự do lựa
chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trờng thứ cấp, các nhà
đầu t cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá
cả đợc hình thành theo phơng thức đấu giá
- Nguyên tắc công bằng: Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả
những ngời tham gia thị trờng. Công bằng có nghĩa là mọi ngời tham gia thị trờng
đều phải tuân thủ nhiều quy định chung, đợc bình đẳng trong việc chia sẻ thông