Chuyển giá trong hoạt động đầu tư quốc tế - Pdf 23

GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
1 Tiểu luận CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
2

I. TỔNG QUAN CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

1. Khái niệm “chuyển giá” (transfering pricing)
1.1 Quan điểm 1
Chuyển giá là thuật ngữ ám chỉ hành vi đặt giá của các công ty đa quốc gia khác với giá
cả theo nguyên tắc thị trường nhằm thực hiện mục đích nào đó.
Công ty đa quốc gia có thể chuyển giá nhằm tránh thuế, chiếm lĩnh thị phần, biến liên
doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài…
1.2 Quan điểm 2
Là hoạt động mang tính chủ quan, cố ý của các tập đoàn đa quốc gia nhằm tối thiểu hóa

đều có mối quan hệ đặc biệt với nhau, như quan hệ giữa công ty mẹ - công ty con, giữa
các công ty liên kết,…. Có thể nói đây là mối quan hệ cộng sinh về quyền lợi tài chính và
tổ chức.
3. Phân biệt các hoạt động: giá chuyển giao - gian lận giá - chuyển giá
Chuyển giao, hay cụ thể là chuyển giao nội bộ là những hoạt động mua bán qua lại
giữa công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con của MNCs với nhau. Các công
ty con của MNCs hoạt động trên phạm vi của nhiều quốc gia khác nhau do đó các giao
dịch nội bộ của các MNCs diễn ra rất đa dạng và phức tạp với số lượng ngày càng nhiều
và giá trị ngày càng lớn. Các hoạt động này được thực hiện thông qua các giao dịch như:
giao dịch chuyển giao nội bộ tài sản cố định hữu hình hay tài sản cố định vô hình; chuyển
giao nguyên vật liệu, thành phẩm, thông qua sự dịch chuyển nguồn vốn như cho vay và đi
vay nội bộ; qua việc tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực, qua
sự cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn quản lý; qua các chi phí cho việc quảng
cáo và chi phí nghiên cứu phát triển.
Giá chuyển giao là giá của các loại hàng hóa hữu hình và vô hình hay giá của việc
cung cấp dịch vụ của một công ty chuyển giao cho một công ty liên kết. Giá chuyển giao
của các hàng hóa hữu hình và dịch vụ là các khoản thanh toán về phí dịch vụ và tiền bản quyền
cho công ty mẹ, hay là tiền lãi trả cho công ty mẹ.
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
4

Gian lận giá là hành vi doanh nghiệp khai giá thấp hơn giá thực tế để trốn thuế
hoặc thực bán hàng giá cao nhưng lập hoá đơn, hạch toán theo mức giá thấp hơn để trốn
thuế giá trị gia tăng (GTGT), trốn thế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)…. Tình trạng khá
phổ biến hiện nay trong kinh doanh ô tô, xe máy là người mua phải trả theo mức giá thực
tế cao hơn rất nhiều so với giá ghi trên hóa đơn, phần chênh lệch ngoài hóa đơn được
nhiều người giải thích rằng sẽ dùng để rải cho nhiều khâu gian lận từ nhập khẩu, khai hải

4.2 Quyền tự do định đoạt trong kinh doanh thương mại và đầu tư: đã tạo cơ hội cho các
DN được quyền quyết định giá trong các giao dịch. Do đó, trong quan hệ với các bên liên
kết, các DN được toàn quyền định mua, bán, trao đổi những hàng hoá hoặc dịch vụ theo
mức giá họ mong muốn và được thể hiện trong các văn kiện, hợp đồng được luật pháp
quốc tế bảo hộ.
4.3 Mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa các nhóm liên kết: vừa thuận lợi trong điều
hành trong phạm vi rộng lớn, vừa có được lợi ích kinh tế nhiều hơn. Sự khác biệt về mức
giá giao dịch được thực hiện giữa các bên so với giá chung của thị trường sẽ đưa đến kết
quả là một bên có thể được lợi ít hơn hoặc thiệt hại, trong khi bên kia được lợi nhiều hơn
nhưng xét về tổng thể lợi ích của toàn cục họ sẽ được nhiều. Chuyển giá mang lại lợi ích
toàn cục được nhiều hơn do “né thuế”, do đó, các DN có mối quan hệ liên kết không thể
bỏ qua hành vi này.
4.4 Sự khác biệt về môi trường đầu tư, kinh doanh; sự khác biệt về chính sách, pháp luật,
thể chế giữa các quốc gia,… cũng vừa tạo ra động cơ, đồng thời cũng tạo ra những điều
kiện để các tập đoàn đa quốc gia xây dựng và triển khai thực hiện được chiến lược
chuyển giá của họ. Sự khác biệt trong chính sách thuế, đặc biệt là các ưu đãi thuế là bức
tranh phổ biến và rõ nét trong thời gian vừa qua, có thể nói rất nhiều, gần như đại đa số
các nước đang phát triển đều sử dụng các chính sách ưu đãi thuế là một trong những công
cụ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Bên cạnh đó, các yếu tố về chính trị, về chính sách đối ngoại của những nơi,
những khu vực bị “lép vế” hơn so với các khu vực khác cũng làm nảy sinh hành vi
chuyển giá và nó được triển khai thực hiện vòng vèo hơn, qua các nước trung gian khác.

GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
6

5. Các hình thức chuyển giá


Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
7

thanh toán tiền hàng nhập khẩu, vô hình chung đã chuyển một phần lợi nhuận ra nước
ngoài. Hai là, khi mua hàng nhập khẩu với giá đắt, chi phí được hạch toán tăng lên, thu
nhập chịu thuế của doanh nghiệp giảm xuống, làm cho tổng lợi nhuận sau thuế tăng.
 Làm quảng cáo ở nước ngoài với chi phí cao: tương tự, việc thuê các công ty nước
ngoài (hầu hết các trường hợp, công ty này là công ty con con trong cùng một tập đoàn)
với chi phí quảng cáo rất cao, thậm chí là cao ở mức bất thường cũng là một hình thức
chuyển lợi nhuận sang cho tập đoàn mẹ. Việc này đồng thời gây thất thu nguồn thuế đáng
kể cho quốc gia tiếp nhận đầu tư, do chi phí quảng cáo nằm trong khoản mục chi phí kinh
doanh, chi phí tăng cao kéo theo lợi nhuận chịu thuế giảm.
 Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý:
thông qua các hợp đồng tư vấn, thuê chuyên gia, thuê quản lý từ công ty mẹ hoặc công ty
con khác trong cùng một tập đoàn; hoặc cử chuyên viên, công nhân sang thực tập, tham
gia các khóa huấn luyện tại công ty mẹ với chi phí cao, các công ty có vốn FDI đã thực
hiện hành vi chuyển giá để chuyển lợi nhuận về nước.

5.2 Định giá các yếu tố đầu ra thấp hơn giá thị trường
Một số doanh nghiệp FDI (chủ yếu là các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) khi
xuất hàng ra khỏi lãnh thổ nước tiếp nhận đầu tư thường xuất về công ty mẹ hoặc công ty
con khác tại các nước có thuế suất thuế thu nhập công ty thấp, với hóa đơn xuất bán thấp
hơn nhiều so với giá thành; hoặc có tình trạng một số dịch vụ thu tiền ở nước ngoài
không được phản ánh đúng doanh thu để giảm số thuế phải nộp tại các nước này. Việc
này nhằm mục đích giảm đi lợi tức phải kê khai ở nước tiếp nhận đầu tư, trong khi số lợi
tức này trên sổ sách của đơn vị được hiểu ngầm rằng đã được bù trừ bởi số “lãi đầu vào”
thu được từ việc khai khống các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI được thành lập từ một công ty mẹ ở chính
quốc, hoạt động trên thị trường nội địa cũng có chính sách tương tự như trên: tiêu thụ

6.1 Đối với quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư
a. Vai trò
Thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó góp phần cải thiện cán cân thương mại, cán cân
thanh toán quốc tế. Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn về hình thức cũng tác động
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
9

tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều thuế hơn cho nhà nước, tác động tốt
tới tăng trưởng GNP của nước xuất khẩu vốn đầu tư.
b. Hậu quả
Thất thu một khoản thuế nhất định: khoản thuế thất thu này bắt nguồn từ việc
chênh lệch thuế suất giữa nước xuất khẩu vốn và nước tiếp nhận vốn. Khi các khoản thuế
này ở nước xuất khẩu vốn cao hơn nước tiếp nhận thì các khoản lợi nhuận núp bóng dưới
nhiều hình thức sẽ chạy từ công ty mẹ ra nước ngoài sang các công ty con, để công ty mẹ
có thể tối thiểu hóa số thuế phải nộp. Từ đó, quốc gia xuất khẩu vốn thất thu một khoản
thuế do hoạt động chuyển giá của các tập đoàn có trụ sở tại nước mình gây ra.

6.2 Đối với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư
a. Vai trò
Quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư thường có mức thuế thu nhập thấp để thu hút đầu
tư, do đó xảy ra hoạt động chuyển giá ngược, tức là thông qua hình thức trả các chi phí
cao, như chi phí mua hàng, chi phí tư vấn…lợi nhuận sẽ được chuyển từ công ty mẹ sang
công ty con. Việc làm này giúp cho công ty mẹ tránh được các mức thuế thu nhập cao tại
nước mình, đồng thời làm cho quốc gia tiếp nhận đầu tư tăng thu nhập ngoại tệ.
b. Hậu quả
 Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột thay đổi do
việc thực hiện hành vi chuyển giá của các MNCs làm các luồng vốn chảy vào nhanh

a. Tác động tích cực
Được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế suất, lĩnh vực đầu tư…) tạo
điều kiện cho các MNC dễ dàng trong việc thực hiện giảm thiểu trách nhiệm ở quốc gia
MNC đang đầu tư. Thực hiện chuyển giá, các MNC sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư,
nhanh chóng cóđược dòng ngân lưu cho các cơ hội đầu tư khác.Thực hiện chuyển giá sẽ
giúp các MNC nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở các nước đang đầu tư.
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
11

b. Tác động tiêu cực
Nếu bị các quốc gia phát hiện và thực hiện chế tài thì các MNC phải chịu một
khoản phạt rất lớn, bị rút giấy phép kinh doanh tại quốc gia đó hoặc ảnh hưởng nghiêm
trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ hơn của các cơ quan
thuế ở những nước MNC đi đầu tư sau đó.

7. Vai trò và hậu quả của chống chuyển giá
7.1 Vai trò
Nếu việc hoạt động chống chuyển giá được kiểm soát chặt chẽ, cả quốc gia tiếp
nhận và quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư đều có thể hạn chế tối đa sự thất thu vế thuế do
các MNC gây ra.
Đối với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư, chống chuyển giá sẽ giúp quốc gia này ít
khó khăn hơn trong việc kiểm soát được luồng vốn chảy vào trong nước và trong việc
thực hiện hoạch định chính sách để điều tiết nên kinh tế vĩ mô. Từ đó, quốc gia tiếp nhận
vốn có thể chủ động hơn trong các kế hoạch kinh tế của ḿnh. Môi trường cạnh tranh trở

việc lơ là hoạt động chống chuyển giá còn mang lại lợi ích gì cho các quốc gia thiên
đường về thuế? Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia có được nguồn thu đáng kể trong việc
thu các loại phí liên quan tới hoạt động đăng ký, cấp giấy phép kinh doanh, phí ngân
hàng, và phát triển một số ngành công nghiệp ăn theo khi đông đảo các nhà đầu tư nước
ngoài thành lập doanh nghiệp tại quốc gia đó.
Tuy nhiên, Chính phủ nhiều nước trên thế giới bắt đầu tập trung nhiều nỗ lực công
kích với mục đích dần loại bỏ những “thiên đường thuế” trên khắp trái đất. Hiện cả Mỹ
và châu Âu đều cho biết, đã đến lúc không cho phép làm ngơ trong quan hệ với những
quốc gia cung cấp offshore (chính sách miễn thuế hoặc có ưu đãi đặc biệt về thuế với các
công ty nước ngoài). Trong khi bản thân những nước trên cũng không dễ dàng từ bỏ một
nguồn lợi béo bở của mình.
Một số quốc gia/vùng lãnh thổ được coi là thiên đường về thuế: Antigua và
Barbuda, Bahamas, Bermuda, BVI, Cyprus, Hồng Kông, Isle of Man, Jersey,
Liechtenstein, Macau, Mauritius, Monaco, Panama, quần đảo Cayman, Singapore, tiểu
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
13

bang Delaware Hoa Kỳ, Thụy Sỹ, United States Virgin Islands. Giờ đây, danh sách đen
chỉ còn lại 4 quốc gia, đó là Liechtenstein, Monaco, Andorra và Switzerland.

9. Các biện pháp chung chống chuyển giá trong hoạt động đầu tư quốc tế
9.1 Các biện pháp mang tính học thuật
Nguyên tắc cơ bản của việc chống chuyển giá: bản chất của chuyển giá là việc xác
định giá không theo nguyên tắc giá thị trường, nên một trong những biện pháp chống
chuyển giá là quy định các cách thức định giá thị trường trong giao dịch giữa các bên liên
kết.
 Các cơ quan Thuế cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra liệu có hiện tượng chuyển

4 tiêu thức được xem là những yếu tố có thể gây ra sự khác biệt, đó là đặc tính của
sản phẩm, chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh, điều kiện của hợp đồng giao dịch
và điều kiện kinh tế khi diễn ra giao dịch. Quá trình phân tính, đánh giá sẽ chỉ ra phương
thức xác định giá thị trường nào là phù hợp nhất.
- Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập: dựa vào đơn giá sản phẩm được
vận dụng trong trường hợp giao dịch độc lập có điều kiện tương đương với giao dịch liên
kết. Chẳng hạn như việc so sánh 2 hợp đồng được ký kết với 2 công ty khác nhau, 1 công
ty có quan hệ liên kết và 1 công ty không có liên hệ gì. Sau khi trừ các khác biệt trọng
yếu để hai hợp đồng trên tương đương về điều kiện giao dịch. Lúc đó sẽ có thể nhận thấy
được sự chênh lệch giữa mức giá thị trường và mức giá khống được kê cao/ thấp để thực
hiện chuyển giá.
Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập thường được áp dụng cho các trường hợp:
 Các giao dịch riêng lẻ về từng chủng loại hàng hóa lưu thông trên thị trường.
 Các giao dịch riêng lẻ về từng loại hình dịch vụ, bản quyền, khế ước vay nợ.
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
15

 Cơ sở kinh doanh thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết về cùng một
chủng loại sản phẩm.
- Phương pháp giá bán lại: dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của s ản
phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm đó từ
bên liên kết.
Phương pháp giá bán lại thường được áp dụng cho các trường hợp giao dịch đối với các
sản phẩm thuộc khâu cung cấp dịch vụ đơn giản và thương mại phân phối có thời gian
quay vòng từ khi mua vào đến khi bán ra ngắn, ít chịu biến động về tính thời vụ. Đồng
thời, sản phẩm trước khi được bán ra không qua khâu gia công, chế biến, lắp ráp, thay đổi
tính chất sản phẩm hoặc gắn với nhãn hiệu thương mại để làm gia tăng đáng kể giá trị sản

sản phẩm mới, hoặc sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền, kinh doanh chuyển tiếp từ
khâu đầu đến khâu cuối gắn với quyền sở hữu trí tuệ.
Trường hợp do tính đặc thù hoặc duy

nhất của giao dịch liên kết mà không có có
giao dịch độc lập tương đương để chọn một trong các phương pháp trên so sánh thì có thể
sử dụng biện pháp tổng hợp (như mở rộng phạm vi lựa chọn sang phân ngành khác, xác
định biên độ giá thị trường thích hợp bằng các phương pháp tổng hợp ) hoặc vận dụng
các số liệu giữa kỳ (để tính mức giá sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận ).

10. Kinh nghiệm của các nước trong vấn đề chống chuyển giá
Hiện nay, trên thế giới có hai hệ thống quan điểm chủ yếu về chuyển giá là của Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và của Mỹ. Hai hệ thống này tương tự như
nhau ở những nội dung chính như khái niệm, phương pháp xác định giá, yêu cầu về thông
tin, chứng từ lưu giữ của đối tượng nộp thuế… Mỹ có xu hướng sáng tạo ra các phương
pháp xác định giá mới, đưa ra hướng dẫn riêng cho hàng hoá hữu hình và vô hình bởi Mỹ
là nước tiên phong trong phát triển sản phẩm sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, hầu hết các nước
hiện nay đều thừa nhận quan điểm của OECD trong xử lý về giá chuyển giao vì nó có
tính trung lập và tương đồng trong khả năng quản lý.

GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
17

10.1 Mỹ
Các quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ từ
thời điểm chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Khởi đầu là phần 482 của Luật Thu nhập nội
bộ (IRC) ban hành năm 1968. Điều khoản 482 này được xây dựng nhằm cải thiện tình

phương pháp khác không định rõ. Về hình thức xử phạt, số tiền phạt vi phạm về giá
chuyển giao dao dộng từ 20-40% số thuế khai thiếu.
10.2 OECD
Ngày 8/7/1994, OECD đưa ra dự thảo “Hướng dẫn giá chuyển giao đối với các
công ty đa quốc gia và các cơ quan quản lý thuế ”. OECD hướng dẫn cho các công ty đa
quốc gia và các cơ quan quản lý thuế dựa trên nguyên tắc “định giá công bằng”. Trong
việc kiểm soát giao dịch giữa hai công ty ở hai nước khác nhau, hai cơ quan thuế có thể
thống nhất cách áp giá giao dịch để tránh bị đánh thuế hai lần. Khi đó, mỗi bên sẽ được
chia một phần lợi nhuận, chứ không có chuyện một nước gánh toàn bộ chi phí, còn nước
kia được hưởng toàn bộ lợi nhuận.
Hướng dẫn cũng đề ra các phương pháp tính giá chuyển giao, trong đó phương
pháp phân chia lợi nhuận được coi là tốt nhất trong phần lớn các trường hợp, và là
phương pháp tương đối trực tiếp. Phương pháp này xác định lãi gộp để phân chia giữa
các công ty liên kết dựa trên cơ sở giá trị kinh tế để phân chia phần lợi nhuận dự kiến và
được phản ánh trong hợp đồng ký kết giữa các bên.
Tháng 7/1995 OECD bản hướng dẫn chính thức được ban hành. Trong đó
chương 6 của bản hướng dẫn là “Những xem xét đặc biệt đối với quyền sở hữu tài sản vô
hình” được ban hành vào tháng 3/1996.
10.3 Một số nước khác
a. Anh
Luật về chuyển giá đã ban hành vào tháng 08/98 tại Anh, các văn bản hướng dẫn
và xử phạt cũng được ban hành sau đó 2 tháng. Luật của Anh cũng thống nhất với các
nguyên tắc của OECD, chỉ ra rằng các giao dịch nội bộ phải theo nguyên tắc tiêu chuẩn
thị trường. Phương pháp áp dụng: Không quy định phương pháp cụ thể để xác định giá
chuyển giao phù hợp, mặc dù yêu cầu nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng được áp dụng
phù hợp với hướng dẫn của OECD. Trong thực tế, Cục Thu nội địa Anh ưu tiên phương
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang

Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
20

Hình thức phạt: Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bị phát hiện kê khai giảm
thu nhập thì sẽ bị phạt đến 3 lần số thuế trốn (5 lần trong trường hợp nghiêm trọng). Thời
hiệu truy thu thuế thông thường là 3 năm trở về trước, và từ 5 đến 10 năm đối với những
trường hợp trốn thuế lớn gây hậu quả nghiêm trọng. Lãi suất tính lãi đối với số thuế nợ:
0,05%/ngày, tương đương với 20%/năm.

Luật chống chuyển giá của Trung Quốc là một trong những bộ luật được đầu tư kỹ
lưỡng, đáng để các nước tham khảo và học hỏi. Bằng cách nghiên cứu luật chống chuyển
giá của Mỹ và OECD, cùng với sự tư vấn của nhiều chuyên gia Châu Âu và Mỹ, Cơ quan
Thuế của Trung Quốc đã phát triển luật chống chuyển giá khá chặt chẽ để phát hiện kịp
thời các hành vi chuyển giá của các công ty đa quốc gia, thậm chí là của các tập đoàn
kinh tế nội địa. Tuy nhiên, hoạt động chuyển giá của các MNC rất đa dạng và ngày càng
tinh vi, chính vì vậy, dù luật chống chuyển giá có phát triển như thế nào thì cũng khó
lòng ngăn chặn tuyệt đối, mà chỉ có thể hạn chế được một phần nào đó.

c. Singapore
Không có luật riêng để quản lí hoạt động chuyển giá. Các quy định liên quan đến
hoạt động chuyển giá nằm trong luật chung về thuế:
IRA S (Inland Revenue Authority of Singapore) phát hành hướng dẫn về
hoạt động chuyển giá ngày 23/2/2006.
Singapore Tranfer Pricing Guidelines: Hướng dẫn về chuyển giá của Singapore
dựa trên và thống nhất với hướng dẫn của OECD.
Những hướng ph ương pháp định giá được đưa ra bởi OECD được chấp
nhận ở Singapore. IRA S hầu như không ưu tiên cho phương pháp nào trong số 5
phương ph áp được liệt kê trong hướng dẫn của OECD. Phương pháp xác định giá
chuyển giao nào tạo ra kết quả tin cậy nhất sẽ được lựa chọn và áp dụng tùy từng trường
hợp cụthể. Singapore không quy định mức phạt cụ thể dành riêng cho hành vi chuyển

hành hướng dẫn về chuyển giá của Singap ore chủyếu nhằm nâng cao nhận thức
và hiểu biết của doanh nghiệp về vấn đề chuyển giá. Các thỏa thuận APA đơn phương,
song phương hay đa phương đều được chấp nhận ở Singapore. Tuy nhiên, đối với
các thỏa th uận song phương và đa phương thì phải có thỏa thuận thuế đôi (double
tax agreement) giữa Singapore và quốc gia liên quan.
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
22

10.4 Bài học rút ra
Càng phát triển, các nền kinh tế càng có sự phụ thuộc và vấn đề chuyển giá càng
trở nên dễ dàng hơn. Cùng với đó, khó khăn trong việc điều tra chuyển giá cũng ngày
càng lớn hơn, cách thức tiến hành điều tra để đi tới một kết luận thỏa đáng đòi hỏi có sự
chuẩn bị nghiêm túc và sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia.
Việt Nam đang kêu gọi đầu tư nước ngoài, nhiều công ty nước ngoài đã và đang
mở chi nhánh hoạt động tại nước ta. Ngược lại, nhiều công ty Việt Nam đã và sẽ mở chi
nhánh hoạt động tại nước ngoài. Các doanh nghiệp này lựa chọn giá chuyển giao dựa trên
cơ sở nào là vấn đề đáng quan tâm, vì chúng không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của doanh
nghiệp, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi quốc gia .
Vì vậy, chúng ta cần nhận thức đầy đủ về giá chuyển giao trong kinh doanh quốc
tế để có đối sách phù hợp, vừa tạo động lực khuyến khích đầu tư nước ngoài, vừa giảm
thiểu thất thoát thuế do tác động của giá chuyển giao. Do đó, cần xây dựng một khuôn
khổ pháp lý về giá chuyển giao, hoàn chỉnh hệ th ống luật pháp các ch ế tài dự th eo
OECD. Đồng thời linh ho ạt sử dụng các phương ph áp xác định giá ph ù hợp và
cho kết quả ch ính xác nhất với từngtrường hợp cụ thế và tình hình, tập quán cũng

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn đầu tư nước ngoài đã tăng và có tác động tích cực
đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ”
ĐTNN tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với
1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3
tỷ USD. Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ
USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của
Chính phủ, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung trong 5
năm 2001-2005, vốn đầu tư nước ngoài cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm
GS.TS Võ Thanh Thu Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài Cao học Thương Mại – Nhóm 2 - K20 Trang
24

trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và
nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đã
tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu
trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch
vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.), đỉnh cao
thu hút là năm 2008 với hơn 70 tỷ USD. Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng
ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam. Tuy nhiên sự khủng hoảng kinh tế năm 2008 bắt đầu có
tác động và biểu hiện rõ nét qua việc thu hút đầu tư nước ngoài giảm đột biến trong
những năm sau đó, năm 2009 thu hút 23,1 tỷ USD, năm 2010 19,8 tỷ USD với vốn thục
hiện đạt 11 tỷ USD.

Về vốn đăng ký năm 2011: tính đến 15/12/2011, vốn đăng ký mới và tăng thêm tại
Việt Nam đạt 14,7 tỷ USD, bằng 74% so với năm 2010. Riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6
tỷ USD, bằng 65% năm 2010 nhưng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực. Vốn
đăng ký năm 2011 tập trung 76,4% vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, cao hơn hẳn

Biểu đồ 2: Đầu tư nước ngoài phân theo ngành kinh tế (1988 – 2010)

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng. Cơ cấu đầu tư có chuyển
biến tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và
công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới:
Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v. Xu thế đó vẫn duy trì trong năm 2011, lĩnh vực
công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư
nước ngoài với 382 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 6,24

Trích đoạn lợi nhuận 1000USD (tại Thái Lan) Một số nhận xét về tình hình chuyểngiá ở Việt Nam xuất nhóm giải pháp về luật xuất nhóm giải pháp về công nghệ-thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status