Chuyển giá và quản lý thuế đối với hoạt động
chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Chu Văn Trí
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng; Mã số: 60 34 20
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Anh Tài
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống cơ sở lý luận về chuyển giá. Tổng hợp một số kinh nghiệm quốc tế
trong công tác quản lý đối với hoạt động chuyển giá để rút ra những kinh nghiệm cho
công tác quản lý ở Việt Nam. Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với
hoạt động chuyển giá tại Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2006 – 2011.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với hoạt động
chuyển giá.
Keywords: Tài chính; Chuyển giá; Thuế; Doanh Nghiệp; Lâm Đồng
Content
Mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài: Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng gia tăng,
trong đó trên 60% giao dịch về thương mại quốc tế xuất phát từ giao dịch của các công ty đa
quốc gia. Các công ty đa quốc gia thường nắm bắt và vận dụng những quy định khác biệt về thuế
giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định về thuế để xây dựng và áp dụng một chính sách về
giá giao dịch nội bộ trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số
thuế phải nộp của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu – đây chính là hành vi chuyển giá trong
giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Ngành thuế các nước, trong đó có Việt
Nam, hiện nay coi vấn đề chống chuyển giá là một trong những vấn đề trọng tâm của công tác
quản lý thuế.
Do vậy tác giả chọn đề tài “Chuyển giá và quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại
- Các giải pháp đề xuất trong luận văn xuất phát từ những nghiên cứu lý luận và đúc rút
từ thực tiễn của công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá trong thời gian qua, góp phần
nâng cao hiệu quả công tác quản lý đối với hoạt động chuyển giá, hạn chế các hành vi tránh thuế
thông qua chuyển giá, chống thất thu cho ngân sách nhà nước và tạo lập môi trường kinh doanh
cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
6- Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyển giá và quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại các doanh
nghiệp có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển
giá tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIÁ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CHUYỂN GIÁ
1.1- Chuyển giá và tác động của chuyển giá
1.1.1- Khái niệm chuyển giá
Theo thông lệ quốc tế, chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với
hàng hóa, dịch vụ được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo
giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu. Để
làm được điều này, công ty đa quốc gia thường nắm bắt và vận dụng những quy định khác biệt
về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để xây dựng và áp dụng một chính
sách về giá giao dịch nội bộ trong tập đoàn. Theo đó, giá chuyển giao giữa các thành viên trong
nội bộ tập đoàn có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch
này.
Chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể trong
nhóm liên kết (các bên liên kết). Cơ sở để xác định mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể là yếu
tố quản lý, điều hành hay góp vốn. Đây chính là những điều kiện quyết định sự ảnh hưởng, sự
giao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể. Xét theo cơ sở này thì các doanh nghiệp liên kết có thể
giả, nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng, bí quyết, thƣơng hiệu, quyền kinh doanh, chƣơng
trình/phần mềm máy tính ) giữa các bên liên kết
Tài sản vô hình được chuyển giao giữa các bên liên kết thường bao gồm các hình thức
sau:
- Chuyển giao đối với tài sản vô hình hình thành từ hoạt động nghiên cứu phát triển và
hoạt động marketing. Chuyển giá loại này thường phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm có
sử dụng đến bí quyết sản xuất kinh doanh và có sự chuyển giao bán thành phẩm giữa các bên
liên kết để tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Các công ty tính toán, so sánh lợi ích
kinh tế từ việc đầu tư vào quốc gia khác (tận dụng thị trường nhân công, nguyên liệu rẻ, tiết kiệm
thuế nhập khẩu), đã thành lập công ty con tại các quốc gia này. Công ty mẹ chuyển giao bán
thành phẩm do mình sản xuất ra cho công ty con để tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm hoàn
chỉnh, đồng thời chuyển giao bí quyết sản xuất kinh doanh và cho phép công ty con được sử
dụng quyền sáng chế sản phẩm. Tuy nhiên, để điều chuyển toàn bộ hay một phần lợi nhuận sang
công ty con với mục đích được hưởng mức thuế suất thấp hơn nhằm tối thiểu số thuế phải nộp
tính chung cho cả hai công ty, hợp đồng ký kết giữa công ty mẹ và công ty con chỉ thể hiện giá
trị bán thành phẩm chuyển giao mà không đề cập đến tài sản vô hình (quyền sáng chế, bí quyết)
chuyển giao. Như vậy, trong giai đoạn này đã xuất hiện hiện tượng chuyển giá tài sản vô hình là
quyền sáng chế và bí quyết sản xuất kinh doanh.
- Chuyển giao tài sản vô hình liên quan đến mạng lưới bán hàng toàn cầu và bí quyết
quản lý chất lượng sản phẩm. Chuyển giá loại này thường phát sinh trong quá trình sản xuất,
kinh doanh sản phẩm là dược phẩm, mỹ phẩm có sử dụng đến nhãn hiệu hàng hóa. Để có được
sự chấp nhận của người tiêu dùng trên thị trường đối với sản phẩm của mình, các công ty phải bỏ
ra chi phí để quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, đàm phán, thương lượng ký kết hợp đồng, điều tra
thị trường Toàn bộ chi phí tạo ra trong khâu này tạo thành tài sản vô hình là bí quyết bán hàng,
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Để tối đa hóa lợi nhuận thu được, các công ty đã thành lập
các công ty con tại các nước có nguồn nguyên liệu thô, chi phí nhân công rẻ và có lợi thế về thuế
(chi phí thuế thấp nhất). Các công ty con có chức năng sản xuất theo hợp đồng đã định sẵn được
ký kết với công ty mẹ (xuất khẩu 100% sản phẩm cho công ty mẹ). Như vậy, các công ty con này
không phải chịu rủi ro về hàng hóa tồn kho, không phải bỏ chi phí tìm hiểu, điều tra thị trường,
quảng cáo, tiếp thị sản phẩm Hơn nữa, công ty con có tài sản vô hình là bí quyết quản lý chất
bộ chi phí trong suốt quá trình nghiên cứu, phát triển sản phẩm kể cả những chi phí rủi ro phát
sinh trong quá trình nghiên cứu sản phẩm (bao gồm cả chi phí cho các công trình nghiên cứu
không thành công). Tùy theo mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (hoặc thuế tương đương
thuế thu nhập doanh nghiệp) tại các nước mà các tập đoàn đa quốc gia thực hiện kế hoạch tránh
thuế thông qua chuyển lợi nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp cho cả tập đoàn.
- Chuyển giao tài sản vô hình thông qua việc phái cử nhân viên. Chuyển giá dạng này
thường phát sinh đối với các ngành nghề đòi hỏi sử dụng trình độ, kỹ năng và kinh nghiệm, bí
quyết của các nhân viên như: sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn chăn
nuôi gia súc, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm Giá trị tài sản vô hình được đo bởi mức lương các
nhân viên này được hưởng, cùng với các chi phí để đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề và các
kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình làm việc thực tế, mức độ giảm chi phí sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp sau khi có sự tham gia của nhân viên này so với trước khi sử dụng
những nhân viên này; mức độ tăng chất lượng sản phẩm; sự thay đổi mẫu mã làm tăng thị hiếu
của khách hàng
1.2.3- Chuyển giá thông qua cung ứng dịch vụ
Chuyển giá dưới dạng này thường phát sinh trong các tập đoàn đa quốc gia có một số
công ty chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trong khi một số khác chịu
trách nhiệm phân phối, ngoài ra có một công ty khác (trường hợp thường gặp là công ty mẹ) chịu
trách nhiệm quản lý chung hoặc cung cấp các dịch vụ quản lý và hỗ trợ quản lý cho cả tập đoàn
(dịch vụ kế toán, tài chính, thuế, tư vấn luật, nhân sự, công nghệ thông tin và dịch vụ quản lý tài
sản…).
1.2.4- Chuyển giá thông qua hoạt động tín dụng
Chuyển giá phát sinh thông qua hoạt động vay vốn nhằm góp phần làm giảm thiểu nghĩa
vụ thuế tính chung cho cả tập đoàn cũng xảy ra khá phổ biến. Tùy thuộc vào thuế suất thuế
TNDN ở quốc cho vay hoặc đi vay cao hoặc thấp mà các Tập đoàn thực hiện hành vi chuyển giá
thông qua lãi suất để hưởng mức thuế suất thấp hơn.
1.3- Công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá
1.3.1- Vai trò của công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá
Như chúng ta đã phân tích, động cơ của hành vi chuyển giá không gì khác chính là lợi
nhuận của hoạt động kinh doanh xét trên phương diện tổng thể của các tập đoàn kinh tế, công ty
tương nhau.
- Phƣơng pháp tách lợi nhuận.Phương pháp tách lợi nhuận dựa vào lợi nhuận thu được
từ một giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều doanh nghiệp liên kết thực hiện để xác định lợi
nhuận thích hợp cho từng doanh nghiệp liên kết đó theo cách các bên độc lập thực hiện phân chia
lợi nhuận trong các giao dịch độc lập tương đương.
Giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều doanh nghiệp liên kết tham gia là giao dịch mang
tính chất đặc thù, duy nhất, bao gồm nhiều giao dịch liên có liên quan chặt chẽ với nhau về các
sản phẩm độc quyền hoặc các giao dịch liên kết khép kín giữa các bên liên kết có liên quan.
Các phƣơng pháp xác định giá chuyển nhƣợng đƣợc áp dụng trên thế giới
Ngoài các phương pháp xác định giá thị trường tương tự như 5 phương pháp Việt Nam
đang áp dụng, một số quốc gia còn áp dụng phương pháp “thỏa thuận trước về giá” để xác định
giá thị trường cho các giao dịch liên kết.
Thỏa thuận trước về giá (Advance Pricing Agreement - APA) là một thỏa thuận về việc
xác định giá của giao dịch liên kết, bao gồm một tập hợp các điều kiện, tiêu thức nhằm thống
nhất việc xác định giá giao dịch liên kết trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Một thỏa
thuận trước đó về giá APA thông thường do người nộp đề xuất trước và đòi hỏi phải có sự thỏa
mãn giữa người nộp thuế (một hoặc nhiều doanh nghiệp liên kết) với cơ quan thuế. APA nhằm
mục đích đưa ra các cơ chế hành chính, tư pháp hay cơ chế thỏa thuận để giải quyết các vấn đề
liên quan đến chuyển giá.
1.4- Kinh nghiệm chống chuyển giá của một số quốc gia trên thế giới
Tại hầu hết các quốc gia, chính sách pháp luật về giá chuyển nhượng trong giao dịch
kinh doanh giữa các bên liên kết thường được quy định tại Luật thuế TNDN hoặc Luật Quản lý
thuế nhằm tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho cơ quan thuế thực hiện ấn định/điều chỉnh mức giá
chuyển nhượng trong các giao dịch liên kết. Mặt khác, để giảm bớt chi phí quản lý cho cơ quan
thuế và chi phí tuân thủ cho người nộp thuế khi áp dụng các quy định về chuyển giá, hiện có hơn
40 trên hơn 70 quốc gia có quy định về chuyển giá đã triển khai thủ tục thỏa thuận trước về
phương pháp tính giá (APA) giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. CHƢƠNG II
kín
Theo phương thức này, phần lớn các nguyên vật liệu chính doanh nghiệp FDI tại Việt
Nam nhập khẩu từ công ty liên kết tại nước ngoài. Ví dụ: sản xuất bột ngọt có nguyên vật liệu
chính nhập khẩu gần như 100%; đối với giày thể thao, tỷ lệ nguyên vật liệu nhập khẩu là 76%;
sứ vệ sinh sử dụng nguyên vật liệu nhập khẩu chiếm tới 68,3%,… Toàn bộ sản phẩm sản xuất ra
được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Với hình thức đầu tư này, để tránh nghĩa vụ thuế tại Việt
Nam, các doanh nghiệp FDI mua máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, bí quyết sản xuất,
nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm với giá rất cao, dẫn tới kê khai thua lỗ. Bằng cách thức
chuyển giá như vậy, các doanh nghiệp FDI sẽ kê khai không phát sinh số thuế TNDN phải nộp.
Sử dụng các phương thức kinh doanh nói trên, thông qua hành vi chuyển giá để tối thiểu
hóa nghĩa vụ thuế tại Việt Nam, các doanh nghiệp FDI đã có những tác động tiêu cực tới nền
kinh tế Việt Nam như gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng tới nguồn lực tài chính
phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ; tạo ra môi trường cạnh tranh
không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh, khiến các doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh
tranh với các doanh nghiệp FDI, dần bị thôn tính dẫn tới phá sản, từ đó doanh nghiệp FDI sẽ
thống lĩnh thị trường nội địa và trở nên độc quyền.
2.1.2- Nhận diện các hành vi chuyển giá điển hình đã và đang diễn ra tại Việt Nam
2.1.2.1- Chuyển giá thông qua góp vốn đầu tƣ
Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thông qua việc góp vốn vào doanh
nghiệp Việt Nam bằng máy móc, thiết bị và công nghệ (phía Việt Nam chủ yếu góp vốn bằng
giá trị quyền sử dụng đất), nhưng định giá rất cao so với giá trị thực của nó. Bằng chiêu thức này
đã giúp cho nhà đầu tư nước ngoài ngay từ khi góp vốn đã chuyển ngược lại cho mình một phần
lớn lợi ích kinh tế thông qua việc trích khấu hao và phân chia lợi nhuận dẫn tới thất thu cho ngân
sách nhà nước và thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam.
2.1.2.2- Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ là loại hình chuyển giao tài sản vô hình, tài sản vô hình loại này
thường mang tính đặc thù, rất khó định giá và khó tìm kiếm được loại tương tự để so sánh. Lợi
dụng đặc tính này, doanh nghiệp liên kết ở nước ngoài thường tính phí bản quyền rất cao đối với
doanh nghiệp FDI tại Việt Nam khiến cho chi phí đầu vào bị đẩy lên cao, kết quả sản xuất kinh
doanh thua lỗ, liên doanh Việt Nam chịu thiệt hại.
và mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Nhìn chung, các doanh nghiệp FDI đóng góp cho ngân sách nhà
nước không đáng kể; số lao động sử dụng không nhiều, chủ yếu là lao động phổ thông
Các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu thường kê khai giá bán, đặc biệt là giá xuất
khẩu không trung thực: thấp hơn so với giá bán nội tiêu và giá thành dẫn đến kết quả kinh doanh
thường xuyên phát sinh lỗ. Với tình trạng thường xuyên báo cáo kết quả kinh doanh lỗ thì các
doanh nghiệp FDI trên địa bàn Lâm Đồng thực hiện hết cả đời dự án (từ 30 đến 50 năm) cũng
không đóng góp gì cho ngân sách nhà nước.
2.3- Công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Từ thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn, qua phân tích nhận định các
doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện hành vi chuyển giá nhằm mục đích trốn
thuế, như sau:
- Đối với thiết bị, vật tư nhập khẩu: giá trị lớn nhưng chỉ nhập khẩu từ chính công ty mẹ
hoặc khách hàng do công ty mẹ chỉ định;
- Đối với hoạt động gia công hàng hóa: thực hiện theo hợp đồng với công ty mẹ ở nước
ngoài: công ty mẹ chịu trách nhiệm cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, cán bộ kỹ thuật kiểm tra chất
lượng, chi phí vận tải và bảo hiểm quốc tế; đồng thời bao tiêu toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp tại
Việt Nam theo giá do công ty mẹ chỉ định;
- Đối với doanh thu xuất khẩu: phần lớn chỉ bán cho chính công ty mẹ hoặc cho khách hàng
có mối quan hệ liên kết với công ty mẹ. Giá bán, đặc biệt là giá xuất khẩu, thấp hơn giá thành, dẫn
đến nghịch lý: doanh thu phát sinh càng lớn thì doanh nghiệp càng lỗ nhiều;
Đứng trước thực trạng kinh doanh thua lỗ triền miên của các doanh nghiệp FDI trên địa
bàn, năm 2011 Cục thuế Lâm Đồng đã triển khai Đề án chống chuyển giá đối với các doanh
nghiệp FDI thuộc các ngành nghề: trồng, chế biến chè; sản xuất kinh doanh rau hoa và gia công
sản phẩm may mặc. Trên cơ sở kết quả triển khai thí điểm, Cục thuế sẽ tổng kết đánh giá và triển
khai nhân rộng đối với tất cả các ngành nghề thuộc lĩnh vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài trên địa bàn.
Để triển khai thực hiện thành công Đề án, Cục thuế đã triển khai các bước công việc sau:
đối với doanh nghiệp mới đầu tư, ngay năm đầu và năm thứ hai đã phát sinh lỗ hoặc có phát sinh
hoàn thuế phải tập trung giám sát, kiểm tra, yêu cầu doanh nghiệp giải trình nguyên nhân lỗ, xem
nghiệp đối với ngân sách, lãnh thổ mà các doanh nghiệp tới đầu tư.
Về mặt xã hội:
Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa
các lĩnh vực, ngành nghề, thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật.
Phát huy chức năng, quyền hạn của cơ quan thuế và các cơ quan quản lý nhà nước trên
địa bàn trong công tác phối hợp thu ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Về quản lý thuế:
Nhận diện được rõ nét hơn về các hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp FDI, từ đó
đề ra các biện pháp quản lý thuế phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế. Theo đánh
giá của Tổng cục thuế, Lâm Đồng là địa phương đi đầu trong cả nước làm tốt công tác quản lý
đối với hoạt động chuyển giá, đặc biệt công tác thanh tra chống chuyển giá, từ đó rút ra nhiều
kinh nghiệm cho các địa phương khác học tập, làm theo; đồng thời tạo tiền đề cho việc tăng
cường công tác quản lý thuế (trọng tâm là công tác thanh tra) đối với hoạt động chuyển giá trên
phạm vi cả nước.
Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước thông qua việc thực hiện nghiêm túc Luật
Quản lý thuế, các Luật thuế; Luật kế toán và thực hiện cải cách thủ tục hành chính về thuế; góp
phần quản lý sát đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chống thất
thu thuế, đảm bảo thực thi nghiêm các quy định của pháp luật.
Nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp trước pháp luật trong
việc kê khai nộp thuế; bảo đảm sự công bằng trong việc xác định nghĩa vụ nộp thuế.
Qua công tác thanh tra chống chuyển giá năm 2010 đã tác động tích cực tới việc kê khai thuế
TNDN năm 2011 của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn. Theo báo cáo tài chính và quyết toán thuế
năm 2011: có 52 doanh nghiệp/106 doanh nghiệp báo cáo lỗ, chiếm tỷ lệ 49%; như vậy đã có 54
doanh nghiệp báo cáo kết quả kinh doanh năm 2011 lãi (chiếm tỷ lệ 51%), với số thuế TNDN phải
nộp theo báo cáo là 26.752 triệu đồng, bằng 473% so với năm 2010 (năm 2010 chỉ có 20/105 doanh
nghiệp báo cáo lãi, với số thuế TNDN phải nộp theo báo cáo là 5.616 triệu đồng).
CHƢƠNG III
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC DN CÓ VỐN ĐTNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM
thuế suất thuế TNDN của Việt Nam không quá chênh lệch với thuế suất của các nước trên khu
vực và thế giới để ngăn chặn động cơ của hành vi chuyển giá; đồng thời, nghiên cứu quy định lại
chi phí khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế theo hướng rõ ràng, minh bạch, gắn liền với diễn biến
thực tế chi chi phí trên thị trường, và đặc biệt đảm bảo thời gian thực hiện các quy định của Luật
thuế ổn định tương đối lâu dài.
Tại cấp độ dưới luật
Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan với cơ quan thuế
trong công tác quản lý thuế đối với chuyển giá, đặc biệt là sự phối hợp của các cơ quan ngoại
giao của Việt Nam tại nước ngoài.
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Thông tư số 66/2010/TT-BTC của
Bộ Tài chính cho phù hợp hơn với thực tiễn
Xây dựng bảng tổng hợp tỷ suất lợi nhuận bình quân cho ngành
3.2.2- Tổ chức bộ máy ngành thuế:
Hiện nay, ngành thuế đang tổ chức thực hiện quản lý thuế theo mô hình chức năng. Bộ
máy tổ chức quản lý thuế được chia theo từng chức năng của quá trình quản lý thuế như: tuyên
truyền hỗ trợ, kê khai và kế toán thuế, quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế, kiểm tra, thanh tra.
Cơ quan thuế các cấp hiện chưa có bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển
giá. Công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá được thực hiện một cách rời rạc, phân
tán và chồng chéo ở từng bộ phận chức năng, chưa đồng bộ và tập trung trọng tâm, trọng điểm,
tính chuyên môn hóa trong công tác quản lý không cao. Khi gặp vướng mắc trong quá trình triển
khai thực hiện, cơ quan thuế còn gặp khó khăn vướng mắc trong quá trình xử lý, không có đầu
mối để liên hệ đề nghị hỗ trợ.
Giải pháp
Trong công tác quản lý đối với hoạt động chuyển giá thì nhân lực, cụ thể ở đây là công
tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ là yếu tố quan trọng, có tính quyết định đến sự thành bại
của công tác chống chuyển giá. Vì vậy cần phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ
nhân lực phục vụ cho công tác chống chuyển giá.
3.2.3- Các giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ:
3.2.3.1- Công tác tuyên truyền hỗ trợ ngƣời nộp thuế:
Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá là nội dung tuy không còn mới trên thế giới
Xây dựng bộ tiêu chí phân tích, đánh giá rủi ro, lựa chọn doanh nghiệp thanh tra giá
chuyển nhượng để áp dụng chung thống nhất trên toàn quốc;
Thường xuyên tổ chức thông báo phổ biến các hành vi vi phạm mới về chống chuyển
giá, trao đổi thông tin liên quan đến các doanh nghiệp có giao dịch liên kết trên nhiều địa bàn,
địa phương khác nhau để kịp thời hỗ trợ, phối hợp, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra chống
chuyển giá;
Đẩy mạnh ứng dụng tin học cho hoạt động thanh tra thuế: thường xuyên cập nhật dữ liệu
người nộp thuế, đặc biệt là triển khai phần mềm cho công tác lập kế hoạch thanh tra đảm bảo rõ
ràng, khách quan và hiệu quả.
3.2.3.3- Quản lý kê khai thông tin giao dịch liên kết:
Cơ quan thuế chưa thực sự chủ động trong việc rà soát, đôn đốc các doanh nghiệp kê
khai thông tin giao dịch liên kết. Công tác đôn đốc các doanh nghiệp kê khai thông tin giao dịch
liên kết thực hiện chưa tốt. Có tới gần 30% doanh nghiệp có phát sinh giao dịch liên kết đã được
rà soát, đưa vào diện theo dõi quản lý nhưng chưa thực hiện kê khai. Hầu như chưa thực hiện
kiểm soát chất lượng kê khai thông tin giao dịch liên kết của người nộp thuế và chưa thực hiện
xử phạt đối với các trường hợp chậm kê khai thông tin giao dịch liên kết.
Giải pháp
Rà soát, lên danh sách và theo dõi chặt chẽ những doanh nghiệp thuộc diện phải kê khai
thông tin giao dịch liên kết theo quy định của Thông tư số 66/2010/TT-BTC; phối hợp với các bộ
phận liên quan (thanh tra, kiểm tra) để thu thập, phân tích thông tin đánh giá rủi ro đối với các
doanh nghiệp có giao dịch liên kết;
Kịp thời đôn đốc, nhắc nhở và xử lý nghiêm khắc những doanh nghiệp không chấp hành
nghĩa vụ kê khai thông tin giao dịch liên kết; đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp kê khai theo
đúng quy định để nâng cao chất lượng kê khai nhằm đạt được hiệu quả quản lý ngay từ khâu kê
khai.
3.2.3.4- Hệ thống cơ sở dữ liệu:
Trong công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá nói
riêng, cơ sở dữ liệu về người nộp thuế đóng vai trò hết sức quan trọng, tác động đến hiệu quả
quản lý của cơ quan thuế ở tất cả các chức năng: tuyên truyền hỗ trợ, kê khai kế toán thuế, quản
lý nợ và đặc biệt là công tác thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng. Mặc dù cơ sở dữ liệu và các
lần lượt trải qua và phải từng bước tìm cách để khắc phục.
Thu hút đầu tư, đặc biệt là thông qua kênh FDI, Việt Nam đã đón nhận được các công
nghệ mới, học hỏi được trình độ quản lý kinh tế tiên tiến và xã hội được sử dụng hàng hóa ngày
càng chất lượng hơn. Không ai có thể phủ nhận được vai trò của nguồn vốn FDI đối với sự phát
triển kinh tế và xã hội của Việt Nam. Do đặc thù thiếu vốn đầu tư, Việt Nam vẫn “nới lỏng” biên
độ để thu hút vốn. Tuy nhiên việc thu hút FDI cũng có nhiều mặt trái của nó, những khiếm
khuyết trong quy chế về thu hút vốn FDI bộc lộ ngày càng nhiều. Theo nhiều chuyên gia kinh tế,
đã đến lúc Việt Nam cần có sự lựa chọn kỹ hơn, nhằm tăng chất lượng và tính bền vững của
dòng vốn FDI. Vấn đề chất lượng dự án, chất lượng dòng vốn FDI phải được đặt ra ngay từ đầu.
Vì vậy, chiến lược thu hút FDI cần có tư duy mới về tính hai mặt của dòng vốn FDI để có những
giải pháp hài hòa giữa yếu tố thúc đẩy tăng trưởng với xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, chất
lượng và phát triển bền vững. Trong chiến lược thu hút FDI sắp tới, thay vì đưa ra các ưu đãi,
phải tập trung giải quyết các vấn đề môi trường đầu tư chuẩn bị các điều kiện cơ bản như hạ
tầng, nguồn nhân lực, đội ngũ doanh nhân, nói cách khác chiến lược thu hút đầu tư trong thời
gian tới không nên đặt trọng tâm vào số lượng dự án thu hút mà đặt nhiều hơn vào chất lượng,
hiệu quả của các dự án. Từ định hướng này, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải xây dựng và điều
chỉnh một số cơ chế chính sách liên quan đến ưu đãi, khuyến khích nhà đầu tư, đặc biệt là chính
sách chống chuyển giá.
Những năm gần đây, xu hướng các tập đoàn kinh tế đầu tư vào thị trường mới nổi và hấp
dẫn như Việt Nam để tìm kiếm lợi ích kinh tế thông qua hành vi chuyển giá ngày càng trở nên
phổ biến và khó kiểm soát, gây phương hại đến lợi ích quốc gia, thất thu cho ngân sách nhà nước
và ảnh hướng sự phát triển của nền kinh tế. Trong khi đó, những hạn chế về nguồn lực cũng như
phương thức quản lý khiến cho công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá của Việt Nam
còn gặp nhiều khó khăn. Để đối phó với hành vi chuyển giá của các tập đoàn đa quốc gia mà vẫn
đảm bảo chủ trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, cơ
quan thuế Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ cả về chính sách và quản lý.
Với kinh nghiệm của bản thân là người trực tiếp thực hiện công tác quản lý thuế đối với
hoạt động chuyển giá tại Cục thuế tỉnh Lâm Đồng, thông qua Đề tài này tác giả muốn trình bày
một số kinh nghiệm thực tế của bản thân nhằm giúp ngành thuế xây dựng, tổ chức và triển khai
các kế hoạch, chương trình hành động nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động