phân tích ảnh hưởng của 5 nhóm yếu tố môi trường vĩ mô đến hoạt động của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn hải phòng - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, hội
nhập toàn thế giới. Vì vậy đời sống con người ngày càng được nâng cao,
theo đó nhu cầu của con người càng ngày càng đa dạng, phong phú. Thỏa
mãn những nhu cầu và mong muốn đó là các sản phẩm( hàng hóa và dịch
vụ). Vì vậy các sản phẩm cũng ngày càng đa dạng và phong phú, thị
trường càng rộng rãi, số lượng, chất lượng đa dạng, có sự chênh lệch
nhau, các mẫu mã cũng phong phú đa dạng nhằm phục vụ cho cuộc sống
của con người.
Những sản phẩm được tung ra thị trường đã phải trải qua rất nhiều khó
khăn, thách thức mới đến được người tiêu dùng, mới được người tiêu
dùng chấp nhận và tin cậy.
Vì vậy, các nhà sản xuất luôn tìm hiểu nghiên cứu nhu cầu của người
tiêu dùng ở các thời điểm để đưa ra các chiến lược, chiến thuật, phương
án đối với sản phẩm. Nhà sản xuất cũng phải tìm hiểu các vấn đề về kinh tế, văn hóa -
xã hội, chính trị - pháp luật, tự nhiên – công nghệ
để đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh sản phẩm. Đó chính là
những nhân tố trong môi trường marketing vĩ mô. Để có thể hiểu rõ hơn
về sự ảnh hưởng của những nhân tố này em xin chọn đề tài nghiên cứu: “ Phân tích
ảnh hưởng của 5 nhóm yếu tố môi trường vĩ mô đến hoạt động của các doanh nghiệp
chế biến thủy sản trên địa bàn Hải Phòng”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu, phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố môi trường vĩ mô đến
hoạt động của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn Hải Phòng để
từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Một số doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn Hải Phòng giai đoạn
hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

-Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng kinh tế. Vì vậy,
hoạt động sản suất kinh doanh của các doanh ngiệp sẽ tăng lên đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng và mua sắm của dân cư.
- Thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay do các nguồn sau đem
lại: tiền lương, thu nhập ngoài lương, thu nhập từ lãi suất tiền tiết kiệm,
thu nhập từ bán sản phẩm… Trong đó sự tác động của tiền lương tới quy
mô nhu cầu và cơ cấu hàng hóa mua sắm là rất yếu ớt. Trái lại nguồn thu
nhập ngoài lương lại tạo nên sức mua rất lớn về quy mô và gây nên sự
phân tầng dữ dội trong thu nhập cùng như cơ cấu tiêu dùng và mua sắm.
- Bên cạnh sự chênh lệch về sức mua giữa các tầng lớp dân cư. Sự chênh
lệch về sức mua còn diễn ra giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và
miền núi, vùng sâu vùng xa.
- Tỉ lệ lạm phát, thất nghiệp có sự thay đổi liên tục và ảnh hưởng lớn đến
hoạt động sản suất kinh doanh.
- Cơ cấu ngành: nền kinh tế đang ngày càng phát triển do đó mà doanh
nghiệp đều hướng tới phát triển thương mại, dịch vụ và thu hẹp ngành
nông nghiệp. Như vậy sẽ giúp cho các doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm
phù hợp với người tiêu dùng, phát triển doanh nghiệp
- Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà trực tiếp là các hệ thống giao thông,
bưu chính và các ngành dịch vụ khác. Cơ sở hạ tầng phát triển từ thành
phố đến tỉnh, huyện, xã tạo điều kiện cho doanh nghiệp cung cấp sản
phẩm đến tay người tiêu dung nhiều hơn.
- Lãi suất thị trường: là nhân tố quan trọng trong việc phát triển quy mô
nền kinh tế. Nếu lãi suất thấp, khả năng vay vốn để đưa ra các sản phẩm
nhiều hơn. Ngược lại, lãi suất cao cơ hội mở rộng sản suất các sản phẩm
sẽ ít hơn.
- Sự thay đổi cơ cấu chi tiêu của dân cư: thời kỳ trước dân cư chỉ quan
tâm ăn no, mặc ấm, tức là những thứ cần thiết phục vụ cuộc sống, thì hiện
nay không chỉ phục vụ thứ cơ bản mà còn quan tâm đến sức khỏe, tinh
thần, nhiều hơn, tiến lên là ăn ngon mặc đẹp.

ngày càng cạn kiệt, nếu không sử dụng hợp lý nó sẽ tác động tới đầu vào
của sản xuất.
- Tăng giá năng lượng: Vấn đề nóng hổi nhất trên thị trường hiện nay là
tình trạng tăng giá của xăng dầu. Nền kinh tế của những nước công
nghiệp phát triển phụ thuộc rất nhiều vào việc cung cấp dầu mỏ trong khi
chưa tìm được nguồn nguyên liệu thích hợp để thay thế. Trong khi đó giá
dầu mỏ thì tăng vọt thất thường, gây nhiều trở ngại cho việc sản xuất.
- môi trường ngày càng ô nhiễm do các hoạt động sản xuất của các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại lâu dài cần phải chú ý cải thiện
khắc phục hạn chế này
- Tình hình thiên tai bão lũ, khí hậu cũng là một nhân tố ảnh hưởng không
nhỏ đến quá trình sản xuất sản phẩm. Làm thiệt hại đến nguồn nguyên
liệu đầu vào của hoạt động sản xuất
- Ngoài ra, nó cũng mở một khả năng marketing tốt đẹp cho các công ty
nhạy bén với tình hình, bằng việc đưa ra các sản phẩm thân thiện với môi
trường, tái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm được sản
xuất trên dây truyền công nghệ tiên tiến, giảm thiểu ảnh hưởng đến môi
trường, phù hợp với khí hậu, thời tiết.
4. Môi trường công nghệ
Việc áp dụng khoa học công nghệ vào việc sản suất sẽ làm giảm chi phí
sản xuất, nâng cao sản lượng, tạo sức cạnh tranh với các công ty khác.
Nhờ việc áp dụng các khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất mà một
số công ty đã từng bước chiếm lĩnh thị trường, nâng cao chất lượng sản
phẩm.
-Trình độ công nghệ sản xuất và kinh doanh những hàng hóa ngày càng
được nâng cao, áp dụng nhiều thành tựu khoa học vào hoạt động sản xuất
giúp sản phẩm ngày càng đa dạng
-Tình hình bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được quan tâm và nâng
cao bằng hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
- Không chỉ dừng ở việc áp dụng các thành tựu đã có, mà còn gia tăng

rồi quyệt định các biện pháp marketing của người bán. Tác động của văn
hoá đến người mua không chỉ tập trung ở nhu cầu mong muốn của họ mà
còn được thể hiện qua thái độ của con người đối với bản thân mình, đối
với người khác, đối với các chủ thể tồn tại trong xã hội, đối với tự nhiên
và vũ trụ Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng đến các biện pháp
marketing.
b. môi trường xã hội
Bên cạnh yếu tố văn hoá, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh
nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia
cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm
tâm lý, thu nhập …. khác nhau:
-
tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, ăn uống.
- thu nhập trung bình, phân phối thu nhập
-
lối sống, học thức, các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống
-
điều kiện sống
Chương 2. Các yếu tố môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh
nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn Hải Phòng.
I. Thực trạng
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị
trường xuất khẩu bị thu hẹp là những trở ngại mà doanh nghiệp chế biến thủy sản Hải
Phòng đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này. Khó khăn
đã khiến nhiều doanh nghiệp ngừng sản xuất, chuyển từ chế biến xuất khẩu sang nhập
khẩu thủy sản giá rẻ về phục vụ tiêu thụ nội địa.
Theo ông Đào Viết Thuận - Phó Giám đốc Sở NNPTNT Hải Phòng, ngành chế biến
thuỷ sản ở Hải Phòng từng có một thời “hoàng kim”. Khi đó, địa bàn có tới 13 cơ sở
chế biến thuỷ sản quy mô công nghiệp (5 DN trung ương, 8 DN địa phương). Chưa kể,
còn hàng trăm tổ chức, cá nhân chế biến thuỷ sản quy mô nhỏ, hộ gia đình. Các loại

Theo ông Chung, sở dĩ có nghịch lý trên là bởi các DN chế biến thuỷ sản trong khu
vực chưa có sự gắn kết mật thiết, lâu dài với ngư dân (bao gồm cả hộ nuôi trồng thuỷ
sản lẫn người khai thác ngoài biển). Chính vì thiếu sự gắn kết nên các nhà máy luôn bị
động về nguồn nguyên liệu “đầu vào”. Trong khi, cơ sở chế biến mỏi mắt chờ… tôm,
cá đưa về bán cho nhà máy thì ở ngoài khơi, kể cả các đầm ao, thuỷ hải sản do ngư
dân đánh bắt và nuôi trồng được đều do các tư thương thu mua, thậm chí cả tư thương
nước ngoài.
Bà Nguyễn Thị Lệ - Giám đốc Trung tâm Dịch vụ hậu cần thuỷ sản Hải Phòng cho
hay, tình trạng tàu thuyền đánh bắt cá không đưa về cảng, mà bán ngay tại ngư trường
cho tư thương, đã diễn ra từ lâu. Các tư thương đều sắm tàu to, bám theo ngư dân để
mua gom cá sau khi bà con đánh bắt được, với giá cả lên xuống thoả thuận. Có tư
thương không ngại ngần, còn tung tiền ra để “đặt cọc” từ trước hoặc hỗ trợ đóng mới
tàu thuyền, khiến ngư dân, nhất là hộ khó khăn khó có thể từ chối mà không bán cá
cho họ.
Những năm gần đây, hầu hết DN chế biến thuỷ sản ở Hải Phòng đều hoạt động cầm
chừng, các dây chuyền sản xuất chỉ chạy 30-40% công suất nhà máy.
I.1 Ảnh hưởng của lãi suất
Giai đoạn 6 tháng đầu năm 2012 là giai đoạn khó chung cho các doanh nghiệp
thủy
hải sản khi việc tiếp cận vốn và hạn mức vay bị thắt chặt khiến doanh nghiệp
lâm vào khó
khăn hoặc phải điều chỉnh lại cơ bản hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.Với
mức lãi suất
cao trong 3 tháng đầu năm, cả nông, ngư dân và doanh nghiệp đều thực sự khó
khăn để
duy trì sản xuất và chế biến khi mà các chi phí đầu vào khác đang tăng mạnh
(5-10%). Vốn
vay định mức thấp, cùng với việc siết chặt tín dụng của các ngân hàng đối với
ngành thủy
sản sau vụ vỡ nợ của một số doanh nghiệp khiến cho nhiều doanh nghiệp

ăn, phát triển vùng nuôi, cải tạo và nâng cấp nhà xưởng, thiết bị. Đối với ngư
dân, vấn đề
tiếp cận vốn cũng rất khó khăn vì họ cần vốn cho cả việc mua sắm tàu cá và
thiết bị để bảo
quản cá sau thu hoạch.
1.2 Ảnh hưởng của kinh tế quốc tế tới ngành thủy sản
XK thủy sản sang EU giảm do khủng hoảng Châu Âu
Như chúng ta đã biết EU là một trong những bạn hàng quan trọng của Việt
Nam trong
lĩnh vực xuất khẩu thủy sản thời gian qua. Khủng hoảng kinh tế tại Châu Âu
với nhiều bất
ổn vĩ mô như: Thâm hụt ngân sách làm gia tăng tỷ lệ nợ và đe dọa khả năng
thanh toán
quốc gia, thâm hụt tài khoản vãng lai do suy giảm năng lực cạnh tranh và việc
đồng tiền
được định giá quá cao, những trục trặc của hệ thống ngân hàng làm tăng chi phí
đầu tư và
các khoản vay trở nên thiếu hiệu quả… được đánh giá là nguyên nhân chính
khiến nhu cầu
tiêu thụ giảm và XK thủy sản của Việt Nam sang EU cũng liên tục sụt giảm từ
đầu năm đến
hết Quý II này. Quý I, XK thủy sản sang EU giảm 7,9% so với cùng kỳ, sang
quý II tiếp tục
giảm sâu hơn (-15,5%). Riêng tháng 6, XK sang thị trường này giảm gần 20%.
Trong quý
II, EU đã từ vị trí thứ nhất rơi xuống thứ 2 trong các thị trường chính NK thủy
sản Việt Nam.
XK sang Hàn Quốc và Trung Quốc chững lại
Quý I, XK thủy sản Việt Nam sang Trung Quốc vẫn tăng gần 20% so với cùng
kỳ, nhưng

tôm từ giữa
tháng 5/2012 với mức MRL quá thấp 0,01ppm, trong khi lại không áp dụng với
các nước XK
khác như Thái Lan, Ấn Độ…
Quý I, XK thủy sản Việt Nam sang Nhật tăng gần 19%. Sang quý II, với nhu
cầu tiêu
thụ cao của thị trường và khả năng cung cấp của Việt Nam, XK thủy sản VN
sang Nhật tăng
đến 36,6%, đạt 283,7 triệu USD. Hai quý đầu năm, mức tăng trung bình 35,5%
đạt 512,3
triệu USD.
1.3.Ảnh hưởng của tỷ giá tới ngành thủy sản
Diễn biến giá trị đồng đô la Mỹ 6 tháng đầu năm 2012 đã cho thấy một số dấu
hiệu
khả quan. Sau khi sụt giảm giá trị trong 4 tháng đầu năm 2012, diễn biến chỉ số
đô la Mỹ
(USD Index)đã đổi chiều, duy trì xu hướng tăng giá trong tháng 5 và 6/2012.
Kết thúc tháng
6/2012, chỉ số đô la Mỹ tăng 1,4% so với đầu năm 2012.
Sự khởi sắc của đồng đô la Mỹ có được nhờ những dấu hiệu khả quan của nền
kinh tế
Mỹ, những bất ổn kinh tế kéo dài tại khu vực đồng tiền chung Châu Âu liên
quan đến vấn đề
nợ công, khó khăn chưa được giải quyết của nền kinh tế Nhật Bản
Là các doanh nghiệp xuất khẩu, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ giúp các doanh nghiệp
có cơ
hội nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong hoàn cảnh hiện nay. Đầu vào nhập khẩu
của ngành chỉ
có nguyên liệu chế biến thức ăn thuỷ sản (ngô, bột mỳ, đậu nành) và với việc
bản thân giá

Nam trên thị trường thế giới. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận
của ngành
thủy sản. Bên cạnh đó, việc tăng các loại phí, thuế, như thuế bảo vệ môi trường
đối với bao
bì nhựa PE để bao gói hàng, trích 2% kinh phí cho công đoàn lấy từ quỹ lương,
phí kiểm soát
chất lượng thủy sản xuất khẩu, phí kiểm dịch thú y tăng 300% cũng góp phần
làm gia tăng
chi phí và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong
bối cảnh
kinh tế thế giới có nhiều suy giảm, cạnh tranh thị phần khá khốc liệt.
II. Giải pháp
Không thể đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản mà không quan tâm bài toán nguyên liệu.
Dù các doanh nghiệp có khả năng nhập khẩu thì đó cũng không phải là biện pháp
ổn định lâu dài, nhất là trong điều kiện chúng ta vẫn có thể phát triển vùng nguyên
liệu đáp ứng nhu cầu chế biến. Vấn đề vẫn là cần có sự chung tay giữa Nhà nước,
doanh nghiệp và người dân trong cả khai thác, nuôi trồng, mở rộng ngư trường và
thu mua sản phẩm
Theo đó, doanh nghiệp hỗ trợ vốn cho người nuôi, thanh toán đúng hạn theo hợp
đồng đã ký. Các cơ sở nuôi được phổ biến về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm,
về danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng hoặc hạn chế sử dụng tại
Việt Nam để bảo đảm chất lượng sản phẩm. Khi có rủi ro, doanh nghiệp cam kết
chia sẻ cùng người nuôi. Nhờ mạng lưới liên kết này, hằng năm, doanh nghiệp có
một nguồn nguyên liệu ổn định, bảo đảm chất lượng. Năm 2011, mạng lưới liên kết
này đã cung cấp cho Agifish gần 60 nghìn tấn cá tra chất lượng tốt. Ðể đối phó tình
trạng khan hiếm nguyên liệu, trên thực tế thì việc đẩy mạnh sản xuất hàng tinh chế
cũng là giải pháp được nhiều công ty chọn lựa
Ngoài vấn đề nguyên liệu, để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu,
nhất thiết các cơ quan chức năng phải sớm có những điều chỉnh về cơ chế, chính sách
phục vụ xuất khẩu thủy sản. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status