BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2014
Tên công trình:
MỘT SỐ CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRÊN
THẾ GIỚI VÀ TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM
Nhóm ngành: KD2 Hà Nội tháng 5 năm 2014
1
2.1.3. Mobile Computing 53
2.2. Kinh nghiệm áp dụng các công nghệ hiện đại vào hoạt động logistics trên thế giới
62
2.2.1. Các yếu tố giúp thực hiện phân tích Big Data 62
2.2.2. Ba yếu tố để ứng dụng thành công giải pháp Cloud Computing vào hoạt động
logistics 65
2.2.3. Cân nhắc sự cần thiết của việc triển khai Mobile Computing vào hoạt động
logistics 66
CHƯƠNG 3: TIỀM NĂNG ÁP DỤNG CỦA MỘT SỐ CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN
VÀO HOẠTĐỘNG LOGISTICS Ở VIỆT NAM 69
3.1 Thực trạng phát triển ngành Logisctics ở Việt Nam 69
3.1.1. Tình hình phát triển 69
3.1.2. Đánh giá thuận lợi, khó khăn 74
3.1.3. Sự phát triển của các công nghệ Big Data, Cloud Computing và Mobile
Computing tại Việt Nam 82
3.2. Tiềm năng ứng dụng các công nghệ hiện đại vào hoạt động logistics ở Việt Nam . 87
3.2.1. Công nghệ trong các hoạt động logistics liên quan tới vận tải và quản lý thông
tin vận tải 87
3.2.2. Công nghệ trong các hoạt động logistics liên quan tới quản lý kho hàng 88
3.2.3. Công nghệ trong việc cung cấp dịch vụ gia tăng cho khách hàng 89
3.3. Một số đề xuất để đẩy nhanh việc áp dụng các CNTT hiện đại vào hoạt động
logistics ở Việt Nam 89
3
3.3.1. Về phía nhà nước 89
3.3.2. Về phía doanh nghiệp 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
WMS
Hệ thống quản lý kho vận 5
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH ẢNH
Hình ảnh 1-1: Mô hình hệ thống thông tin logistics 15
Hình ảnh 1-2: Đặc điểm của Big Data 23
Hình ảnh 2-1: Lập kế hoạch chuyển hàng trước và sau khi tích hợp SkyBitz 47
Hình ảnh 2-2: Kiểm tra & Báo cáo tình trạng hàng hóa 47
Hình ảnh 2-3: Môi trường điện toán đám mây SaaS của hệ thống LOMOS/TM SaaS 50
Hình ảnh 2-4: Cách thức vận hành của hệ thống LOMOS/TM SaaS 51
Bảng 2-1: Đánh giá sự phù hợp của các hoạt động logistics với Mobile Computing 68
Biểu đồ 3-1: Tỷ lệ chi phí logistics trên tổng doanh số của doanh nghiệp 72
Hình ảnh 3-1: Thời gian dự trữ trung bình đối với nguyên vật liệu đầu vào của doanh
nghiệp 73
Hình ảnh 3-2: Thời gian dự trữ trung bình đối với sản phẩm đầu ra chính của doanh
nghiệp 73 6
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những xu hướng tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa kinh tế. Mọi
quốc gia dù lớn hay nhỏ nếu muốn tồn tại và phát triển đều phải tích cực tham gia vào xu
thế mới này. Một ưu điểm không thể phủ nhận của toàn cầu hóa là việc giúp cho nền kinh
những nghiên cứu và báo cáo của các chuyên gia cũng như các công ty hoạt động trong
lĩnh vực CNTT cũng như logistics về từng công nghệ riêng lẻ
Về Big Data, có thể kể đến các nghiên cứu và đánh giá tiềm năng cũng như tình hình phát
triển của công nghệ này tại bản thân công ty từ (DHL, 2013), theo đó cho rằng trong thập
kỷ tới, Big Data sẽ có chỗ đứng chủ chốt trong lĩnh vực logistics và mọi hoạt động của
các công ty logistics đều sẽ liên quan đến nó để vẫn hành thông minh hơn, nhanh hơn và
hiệu quả hơn.
Về Cloud Computing, và Mobile Computing là những bài viết của (Aviles, et al., 2012)
đánh giá mô hình Cloud Computing phù hợp nhất với hoạt động Logitics, hay của
(Okhrin & Richter, 2007) về những lĩnh vực của hoạt động logistics có thể hưởng lợi từ
công nghệ Mobile Computing; cùng với đó là những trường hợp ứng dụng cụ thể của các
công nghệ này được giới thiệu bởi các công ty hàng đầu trong mỗi lĩnh vực như IBM hay
Motorola.
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hiệu quả của việc ứng dụng các công nghệ hiện đại vào hoạt động logistics,
mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá được tiềm năng ứng dụng của các công
nghệ này ở Việt Nam trong điều kiện phát triển tương ứng của hoạt động logistics trong
nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Một số công nghệ tiên tiến trong hoạt động logistics.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng các công nghệ hiện đại trong
hoạt động logistics của các doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam
8
Phương pháp nghiên cứu
Phân tích tài liệu: nghiên cứu các nguồn thông tin, dữ liệu đã có trong sách vở, các bài
báo, công trình khoa học trước đó và thông tin trên mạng Internet làm cơ sở cho lý luận
và chứng minh các lập luận.
Kết quả nghiên cứu dự kiến
Làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản của các công nghệ tiên tiến trong hoạt động
phân phối của doanh nghiệp.
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần
đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ
logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều
công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các
thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc
các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù
lao”.
Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch
và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng…, các mặt trong chiến dịch quân sự
liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung,
sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị.
Theo định nghĩa rộng: logistics được xem xét như một công cụ phục vụ việc quản lý
chuỗi cung ứng, hay nói cách khác là các hoạt động kiểm soát các dòng hàng hóa, thông,
tiền tệ từ quá trình tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, quan điểm này thể hiện được sự gắn kết của hoạt động logistics với các khâu
của quá trình sản xuất và phân phối (nhập nguyên vật liệu, sản xuất hàng hóa, đưa hàng
10
hóa vào các kênh phân phối ), cho thấy tầm quan trọng của logistics xuyên suốt quá trình
hoạt động của doanh nghiệp, theo đó:
Liên Hợp Quốc: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu
qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của
khách hàng.
Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn
phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu
quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành
phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa
đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
GS. David Simchi-Levi, MIT: Hệ thống logistics là một nhóm các cách tiếp cận được
định tới khách hàng. Việc quản lý một chuỗi như vậy gọi là Quản trị chuỗi cung ứng
(Supply Chain Managemet – SCM) (Mentzer, et al., 2001). Về bản chất, quản lý chuỗi
cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành
viên của chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà doanh nghiệp phục vụ sự kết
hợp tiện ích và hiệu quả tốt nhất (Hugos, 2011).
Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy mục tiêu của SCM và logistics gần như tương đồng,
nhưng không thể vì thế mà đồng nhất hai khái niệm này. Khác biệt giữa logistics và SCM
bao gồm bốn điểm chính sau:
Phạm vi hoạt động: logistics liên quan tới hoạt động của những tổ chức riêng lẻ (những
nhà cung cấp dịch vụ logistics), trong khi đó SCM lại là mạng lưới liên kết giữa nhiều tổ
chức (người cung cấp nguyên liệu, các đối tác trong sản xuất và phân phối, người chuyên
chở ).
Lĩnh vực hoạt động: Hoạt động logistics thường thiên về lĩnh vực quản lý hàng hóa
(thu mua, quản lý hàng tồn kho, phân phối ) còn SCM bao gồm cả logistics và các hoạt
động marketing như chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách xúc tiến thương
mại và hoạt động chăm sóc khách hàng.
12
Các thành phần bộ phận: Trong SCM, chuỗi cung ứng và các tổ chức trong đó được
coi như những thực thể độc lập hoạt động trên từng khâu riêng biệt như thua mua, sản
xuất, phân phối. Trong khi đó, logistics được xem xét như một tổng thể thống nhất của
các hoạt động hỗ trợ cho việc quản lý các khâu riêng biệt đó.
Tính chất chiến lược: SCM là một quá trình lập kế hoạch mang tính chiến lược, căn cứ
vào các quyết định chiến lược lâu dài nhiều hơn là quyết định hành động ngắn hạn. Mặt
khác, logistics thường phục vụ cho các mục tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp như tối thiểu
hóa chi phí, giảm thời gian lưu kho của hàng hóa
1.1.1.2. Vai trò của hoạt động logistics
Logistics là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC-Global
Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các
hoạt động kinh tế.
Logistics bên thứ hai (2PL) chỉ hoạt động logistics do người cung cấp dịch vụ logistics
cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng.
Logistics bên thứ ba (3PL) là người thay mặt chủ hàng tổ chức hiện và quản lý các dịch
vụ logistics cho từng bộ phận chức năng.
Logistics bên thứ tư (4PL) là hình thức mà mọi hoạt động logistics được thực hiện bởi
các nhà cung ứng logistics thứ 3, và các tổ chức này bị kiểm soát bởi nhà cung ứng thứ 4,
có quyển như một tổng giám sát.
c. Theo hướng vận động vật chất:
Logistics đầu vào (Inbound Logistics) là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng nguyên liệu
đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp tới công ty.
14
Logistics trong kho hàng (Materials Management) là toàn bộ các hoạt động liên quan
đến lưu kho và dòng các sản phẩm lưu chuyển trong nội bộ doanh nghiệp.
Logistics đầu ra (Outbound Logistics) là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng sản phẩm
đầu ra cho tới tay khách hàng của công ty.
Logistics ngược (Reverse Logistics) bao gồm các dòng sản phẩm, hàng hóa hư hỏng,
kém chất lượng, dòng chu chuyển ngược của bao bì đi ngược chiều trong kênh logistics.
1.1.2. Hệ thống thông tin trong logistics
1.1.2.1. Khái niệm Hệ thống thông tin logistics
Nhiệm vụ của logistics là quản lý các dòng vật chất, tiền tệ và thông tin trong doanh
nghiệp. Trong ba dòng chảy trên, dòng thông tin đóng vai trò quyết định trong việc giúp
nhà quản trị nhìn nhận, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thực tiễn, từ đó kịp thời ra
quyết định nhằm điều chỉnh những hạn chế của bộ máy hoạt động, góp phần sửa chữa
những ảnh hưởng tiêu cực đối với dòng chảy vật chất và tiền tệ của doanh nghiệp, đồng
thời cho phép người tiêu dùng và các đối tượng ngoài doanh nghiệp tiếp cận được với
hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp một cách dễ dàng hơn. Để đảm bảo cung
cấp được những thông tin quan trọng này, doanh nghiệp cần tới Hệ thống thông tin
logistics (Logistics Information System - LIS).
Hệ thống thông tin logistics được định nghĩa là tổng hòa các hệ thống thông tin làm
Hệ thống nghiên cứu và thu thập thông tin: Để thích nghi với các nhân tố môi trường
vĩ mô, môi trường kênh và nguồn lực bên trong công ty. Hệ thông nghiêng cứu và thu
thập thông tin có vai trò quan sát môi trường, thu thập thông tin bên ngoài, thông tin có
sẵn trong lĩnh vực logistics và trong nội bộ công ty.
Hệ thống báo cáo kết quả: Hệ thống báo cáo là thành phần cuối cùng trong LIS. Nếu các
báo cáo và kết quả không được truyền đạt hiệu quả thì các tư tưởng, nghiên cứu hữu ích
và giải pháp quản lý sẽ không thể đạt được. Các báo cáo hỗ trợ quyết định quản trị
logistics tập trung vào 3 loại: Báo cáo để lập kế hoạch, báo cáo hoạt động, và báo cáo
kiểm soát cụ thể.
1.1.2.3. Vai trò của LIS trong hoạt động logistics của doanh nghiệp
Hệ thống thông tin logistics đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới việc ra quyết định của
nhà quản trị. Nó đóng vai trò là nguồn cung cấp thông tin chi tiết và cụ thể về thực trạng
hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp qua nhiều thời kỳ, nhờ đó doanh nghiệp
có sự tổng hợp và theo dõi các luồng thông tin quá khứ và hiện tại, giúp việc dự báo sớm
những vấn đề tồn và phân tích nguồn gốc vấn đề chính xác hơn.
Hơn nữa, những thông tin đa chiều về nhiều đối tượng liên quan tới hoạt động sản xuất
kinh doanh (nguồn hàng, tình hình tài chính, marketing, hệ thống sản xuất, tình hình thị
trường khi tung ra sản phẩm ) của LIS cho phép thông tin được nhìn nhận từ bất cứ góc
độ nào (marketing, tài chính, hệ thống thông tin sản xuất ), với mức độ chi tiết tùy vào
nhu cầu mong muốn của nhà quản trị, từ đó giúp nhà quản trị đánh giá được tiềm năng, vị
thế của doanh nghiệp và xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp.
Ngoài ra, LIS cung cấp những thông tin liên quan tới khách hàng như tình trạng đặt hàng,
lịch giao hàng, thông tin khuyến mại, khách hàng thân thiết , góp phần đơn giản hóa việc
lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động logistics nhằm hoàn thành đơn đặt hàng. Nói cách
khác, LIS biến quy trình hoạt động logistics thành quá trình theo đuổi việc thoản mãn
khách hàng với mức chi phí thấp nhất, từ đó tạo cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh trên
thị trường.
1.1.3. Các công nghệ phổ biến trong hoạt động logistics
17
cách khác, e-logistics là quá trình ứng dụng các hệ thống, công cụ thông tin và Internet
như một trung gian trao đổi thông tin phục vụ quy trình hậu cần.
1.1.3.2. EDI
Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là một kỹ thuật trong đó các thông tin điện tử liên quan đến
giao dịch được định dạng thống nhất và được truyền từ máy tính của một tổ chức này
sang máy tính của tổ chức khác. Trong một quy trình EDI, các giao dịch được gửi và nhận
dưới dạng điện tử thay vì bằng lời nói hay bằng giấy tờ.
Việc sử dụng EDI trong giao dịch cho phép giảm thiểu các công đoạn thủ công (gọi điện,
gửi fax ), thay vào đó là các quy trình được thực hiện tự động bởi hệ thống. Điều này
giúp gia tăng tốc độ phản ứng đối với yêu cầu của khách hàng, tính chính xác trong việc
trao đổi thông tin giữa các bên và tiết kiệm được chi phí phát sinh do lỗi nhập sai hoặc
nhập trùng dữ liệu. Hơn nữa, EDI còn cho phép cập nhật thông tin từ các điểm thanh toán
trong toàn bộ chuỗi cung ứng, qua đó cung cấp nguồn dữ liệu tốt nhất cho các hệ thống
thông tin trong doanh nghiệp (bao gồm LIS) phục vụ cho việc ra quyết định và an toàn
trong kinh doanh. Bởi vậy, vai trò của EDI trong các công ty cung cấp dịch vụ logistics là
vô cùng quan trọng. Nhờ có hệ thống EDI, tính chính xác và hiệu quả của các nghiệp vụ
logistics (thường mang tính lặp đi lặp lại) được đảm bảo, đồng thời tiết kiệm được chi phí
và thời gian giao dịch do loại bỏ được các khâu giao dịch trung gian (ví dụ: Khi lượng
hàng trong kho của nhà bán lẻ được thống kê thấp hơn một mức tối thiểu xác định, đơn
đặt hàng sẽ được tự động gửi tới hệ thống của nhà sản xuất, và tiếp tục được chuyển tới
nhà cung cấp dịch vụ logistics để tiến hành giao hàng mà không cần các thủ tục như gọi
điện, gửi fax hay email để đặt hàng và xác nhận đơn đặt hàng).
Tuy nhiên, tại thời điểm EDI bắt đầu được sử dụng, do sự hạn chế về trình độ phát triển
của CNTT, cơ sở hạ tầng và trình độ của nguồn nhân lực, việc tổ chức một hệ thống EDI
đòi hỏi lượng vốn đầu tư quá lớn so với quy mô của đa phần các doanh nghiệp, thậm chí
lớn hơn nhiều lần khoản lợi nhuận mà nó có thể đem lại. Thay vì bỏ chi phí đào tạo nhân
viên và đầu tư nâng cấp hệ thống giao nhận hàng hóa tương thích với tốc độ trao đổi
thông tin, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chấp nhận sử dụng các hình thức truyền thống,
điều này làm hạn chế khả năng phổ cập của EDI. Sau này, khi Internet ra đời, việc trao
20
Công nghệ định vị bằng sóng radio RFID (Radio Frequency Identification) là một kỹ
thuật nhận dạng tự động dựa trên khả năng lưu trữ và nhận tín hiệu từ xa bằng hệ thống
thẻ thông minh. Trải qua gần 50 năm tồn tại, RFID được ứng dụng rất đa dạng trong
nhiều lĩnh vực. Ban đầu, công nghệ RFID chỉ được sử dụng trong công nghiệp hoặc trong
các hệ thống bảo mật (ứng dụng đóng), tuy nhiên hiện nay công nghệ RFID đã được sử
dụng trong cả các hệ thống phục vụ nhu cầu xã hội như hệ thống thư viện, hệ thống quản
lý hàng hóa trong kho hàng, và bây giờ lan sang cả hệ thống quản lý logistics (ứng dụng
mở). Việc áp dụng dụng RFID trong logistics được mong đợi sẽ có những bước tăng
trưởng mạnh mẽ trong những năm tới.
Thường được đề cập như là bước phát triển tiếp theo của mã vạch, RFID đang ngày càng
được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tự động thu thập dữ liệu và thông tin của hàng hóa.
Công nghệ này giúp tự động xác định, theo dõi và định vị vật thể, từ đó nâng cao khả
năng quản lý hàng lưu kho, giảm vốn quay vòng của sản phẩm, cải thiện khả năng dự
đoán xu hướng tiêu thụ sản phẩm để hoạch định chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn. So
với công nghệ mã vạch, RFID đạt được hai lợi ích cơ bản là: không cần lấy thông tin trực
tiếp tại thẻ và việc lấy dữ liệu được tự động hóa, không cần phải chụp bằng tay. Tuy nhiên
nhược điểm của RFID nằm ở chi phí cho hệ thống tương đối lớn. Chi phí cho thẻ thụ
động (loại thẻ sử dụng tín hiệu từ bộ đọc để truyền dữ liệu) từ khoảng 0,20 đến 0,50
đôla/chiếc. Thẻ chủ động (thẻ có nguồn điện riêng cho phép chúng liên tục truyền tín
hiệu) có giá vài đôla một chiếc. Chi phí lắp đặt tại cửa kho có thể lên đến 10.000 đôla với
giá một bộ đọc đầu đĩa là 5.000 đôla, cầm tay là 1.000 đôla (giá đầu năm 2006).
1.2. Big Data
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm
1.2.1.1. Khái niệm
Thời đại bùng nổ CNTT ngày nay với sư phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông
tin đại chúng đã đem lại nhiều tiện ích đối với người dùng. Trong đó chúng ta không thể
không nhắc đến Internet. Với những ưu thế vượt trội, Internet từ khi ra đời đến nay luôn
đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bất kì một lĩnh vực nào cũng đều sử
số này được thực hiện chỉ trong vòng 2 ngày và đến năm 2013, khoảng cách đã được rút
xuống chỉ còn 10 phút.
b. Variety
Theo O'Reilly Radar Team (2011), dữ liệu hiếm khi có cấu trúc hoàn thành để có thể khai
thác ngay lập tức. Đặc điểm chung về Big Data là các nguồn dữ liệu rất đa dạng và không
có sự thông nhất về mặt cấu trúc, đó có thể là văn bản từ mạng xã hội, hình ảnh, dữ liệu
thô từ nguồn cảm biến. Tất cả các nguồn này đều rất khó để có thể tích hợp vào một ứng
dụng cụ thể.
c. Velocity
Cũng theo (O'Reilly Radar Team, 2011), có hai khía cạnh tốc độ, một là thông lượng của
dữ liệu và cái còn lại là độ trễ. Với thông lượng của dữ liệu, số lượng dữ liệu di động toàn
cầu đang tăng trưởng với 78% phù hợp tốc độ tăng trưởng và dự kiến sẽ đạt 10,8 exabyte
mỗi tháng trong năm 2016 do người tiêu dùng chia sẻ thêm hình ảnh và video. Để phân
tích dữ liệu này, các công ty đang tìm kiếm cơ sở hạ tầng tốt hơn có khả năng xử lí đồng
bộ. Độ trễ là thước đo khác của vận tốc. Phân tích trước đây từng là môi trường để báo
cáo và lưu trữ cho các dữ liệu nén – gọi là “D-1”.
d. Veracity
Không giống như các dữ liệu nội bộ quản lý một cách cẩn thận, Big Data đến từ các
nguồn ngoài tầm kiểm soát của chúng ta và do đó độ chính xác là một vấn đề rất quan
trọng. Tính xác thực đại diện cho cả độ tin cậy của các nguồn dữ liệu cũng như sự phù
hợp của dữ liệu cho các đối tượng mục tiêu (Sathi, 2012).
23
Hình ảnh 1-2: Đặc điểm của Big Data
Nguồn: http://www.karmasphere.com/
1.2.2. Quản lý và phân tích Big Data (Thành phần Big Data)
1.2.2.1. Thành phần Big Data
Big Data bao gồm ba thành phần chính
khác, đồng thời tăng tốc thời gian chu kỳ thông tin và làm giảm tổng chi phí sở hữu.
d. Hadoop.
Hadoop là hữu ích cho dữ liệu trước xử lý để nhận dạng xu hướng vĩ mô hoặc tìm
"nuggets" của thông tin, chẳng hạn như ngoài phạm vi giá trị. Nó cho phép các doanh
nghiệp để mở khóa giá trị tiềm năng từ dữ liệu mới bằng cách sử dụng các máy chủ hàng
hóa. Tổ chức chủ yếu sử dụng Hadoop từ hình thái đơn giản đến phức tạp của việc phân
tích.
e. Quản trị quyết định (Decision Management)