nghiên cứu năng suất, thành phần hóa học của một số giống cỏ hòa thảo và ảnh hưởng của các mức phân bón đạm đến cỏ mulato ii tại thái nguyên - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THỊ HỒNG VÂN

NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT, THÀNH PHẦN HOÁ HỌC
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CỎ HOÀ THẢO VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA CÁC MỨC PHÂN ĐẠM ĐẾN CỎ MULATO II
TẠI THÁI NGUYÊN
L
L
U
U



K
K
H
H
O
O
A
AH
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GNĐÀO THỊ HỒNG VÂN

NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT, THÀNH PHẦN HOÁ HỌC
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CỎ HOÀ THẢO VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA CÁC MỨC PHÂN ĐẠM ĐẾN CỎ MULATO II
TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 40
L
L
U
U


N
NV

AH
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I


Tác giả

Đào Thị Hồng Vân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ
Khoa học nông nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành và sự kính trọng
sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau đại
học, các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều
kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận văn.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo
hướng dẫn: TS. Trần Trang Nhung đã tận tình quan tâm chỉ bảo, hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn.
Tôi xin trân thành cảm ơn tới Bộ môn Đồng cỏ, Bộ môn Phân tích Viện
chăn nuôi; Viện Khoa học sự sống trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên;
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi Bá Vân - Sông Công
- Thái Nguyên; Tập thể cán bộ và trại viên - Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục
Lao động Xã hội huyện Đại Từ - Thái Nguyên.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn trân thành đến lãnh đạo, tập thể cán
bộ Phòng Kinh tế - UBND Thị xã Phúc Yên đã rất tạo điều kiện giúp đỡ tôi
hoàn thành tốt nhiệm vụ và hoàn thành quá trình nghiên cứu luận văn.
Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn trân thành nhất tới
gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên khuyến khích, tạo điều

1.1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cỏ 8
1.1.2.1. Ánh sáng 8
1.1.2.2. Nhiệt độ 9
1.1.2.3. Ẩm độ 10
1.1.2.4. Đất và phân bón 11
1.1.2.5. Ảnh hưởng của mùa vụ và điều kiện hàng năm 12
1.1.2.6. Kỹ thuật trồng trọt 12
1.1.2.7. Khoảng cách giữa hai lần thu hoạch cỏ 12
1.1.2.8. Phương pháp chế biến, bảo quản 13
1.2. Một số nghiên cứu về cỏ hoà thảo 13
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về cây cỏ trên thế giới 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
1.2.2. Các nghiên cứu về cây cỏ ở Việt Nam 18
1.3. Đặc tính của các cỏ thí nghiệm 21
1.3.1. MulatoI 21
1.3.2. Mulato II 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.3. Nội dung nghiên cứu 24
2.4. Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 24
2.4.2. Khí tượng thủy văn khu vực thí nghiệm 27
2.4.3. Thành phần hoá học đất thí nghiệm 27
2.4.4. Tỷ lệ sống của 2 giống cỏ thí nghiệm 27
2.4.5. Chiều cao và tốc độ sinh trưởng, tái sinh của cỏ thí nghiệm 27
2.4.6. Phương pháp xác định năng suất, sản lượng chất xanh của cỏ 28

4.2. Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VCK : Vật chất khô
DXKĐ : Dẫn xuất không đạm
Pr : Protein
KTS : Khoáng tổng số
NL : Năng lượng
TĐTS : Tốc độ tái sinh
CTTN : Công thức thí nghiệm
ĐVT : Đơn vị tính
TB : Trung bình
NS : Năng suất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Khí tượng thủy văn khu vực thí nghiệm 35
Bảng 3.2. Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 37
Bảng 3.3. Tỷ lệ sống của các cỏ thí nghiệm sau trồng 15 ngày (%) 38

Đồ thị 2: Năng suất của các cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt năm thứ hai (tạ/ha/lứa) 47

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự lớn mạnh chung của nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đã
có những bước nhảy vọt đáng kể, kinh tế phát triển mạnh cả về nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngành chăn
nuôi diễn ra ở khắp các vùng miền trong cả nước. Hoà chung vào sự lớn mạnh
đó nhằm phát triển kinh tế miền núi, trung du Bắc Bộ trong những năm qua,
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương chính sách đầu tư rất nhiều cho
phát triển ngành chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc như: Chính sách
giao đất cho người dân đã tạo điều kiện cho việc phát triển những mô hình
chăn nuôi gia súc tập chung theo hướng sản xuất hàng hóa tại các địa phương,
nhờ đó đàn trâu bò không ngừng tăng lên về số lượng. Theo thống kê năm
2004 số lượng bò sữa tăng với tốc độ 31 - 40% so với năm 2000 (Đỗ Kim
Tuyên, 2004) [25]. Tuy nhiên chăn nuôi gia súc ăn cỏ còn gặp nhiều khó khăn
nhất là vấn đề cung cấp thức ăn thô xanh chưa đầy đủ, tình trạng thiếu thức ăn
trong vụ đông là thường xuyên đã làm giảm đáng kể năng suất chăn nuôi trâu
bò. Người chăn nuôi ở miền núi vẫn dựa vào đồng cỏ tự nhiên nên năng suất
chất lượng chăn nuôi không ổn định, ở những nơi gần khu đô thị thiếu cỏ
người dân đã chăn thả trâu bò trên bãi rác làm chất lượng thịt trâu bò không
đảm bảo, trâu bò dễ mắc bệnh, khó tăng đàn, nhu cầu thịt sữa không đáp ứng
cho người tiêu dùng. Vậy để đáp ứng đầy đủ nhu cầu thức ăn thô xanh, tăng
năng suất, chất lượng đàn gia súc ăn cỏ là rất quan trọng. Đặc biệt đối với
chăn nuôi bò sữa, để bò cho sản lượng sữa cao, có sức khoẻ tốt, tạo thu nhập
lâu dài cho người chăn nuôi thì phải cần cho bò ăn ít nhất là 40% lượng VCK

vực miền núi, trung du phía Bắc hiện nay.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Đặc tính sinh học của cỏ hòa thảo
Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28
họ phụ, 563 giống, 6802 loài. Cỏ hoà thảo chiếm phần lớn trong thảm cỏ 95 -
98% và trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại chiếm 70 - 80% (Từ Quang
Hiển và các cộng sự, 2002) [6].
1.1.1.1. Đặc tính sinh thái
Theo các tác giả Từ Quang Hiển và các cộng sự, 2002 [6]. Cỏ hoà thảo
phân bố rộng rãi. Chúng có thể sinh trưởng phát triển được trên nhiều vùng
đất khô hạn, đất ẩm thấp, đất ngập nước, đất giàu và nghèo dinh dưỡng.
Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung
bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng tốt như:
cỏ Decumbens, cỏ Xương cá, cỏ Lông đồi (Eulalia)
Có những loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất ẩm thấp, độ ẩm
trung bình 60 - 80% như: Cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (Festucarubra)
Có loài sống được cả những nơi đất ngập nước, đất lầy thụt như: cỏ lồng
vực (Echinochloa crusgalli), cỏ bấc (Juncus effusus), cỏ môi (Leersia hexandra).
Dựa vào những đặc tính sinh thái của các loài cỏ mà ta có thể chọn và
trồng thích nghi với những điều kiện khí hậu và địa chất tương tự như vùng
gốc của chúng.

cỏ Lông Para (Brachiaria multica)…
- Loại thân đứng.
Loại này mọc mầm từ phần gốc ở dưới đất hoặc hom trồng. Mầm vươn
thẳng lên giống như cây mía, cây ngô. Thân cao, to, cho năng suất cao. Đại
diện là cỏ voi (Penisetum purpureum).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
1.1.1.3. Đặc tính sinh lý
* Nhu cầu về nước:
Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn
họ đậu. Hệ số toả hơi nước vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi cỏ họ đậu
214 - 216 gram.
Độ ẩm đất yêu cầu theo từng giai đoạn.
Từ lúc nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%
Giai đoạn phát triển cành: 75%
Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần.
Đối với cỏ hòa thảo dùng để chăn thả yêu cầu về độ ẩm thấp hơn cỏ cắt
vì thảm cỏ thấp hơn, cành lá cũng phát triển kém hơn. Tuy nhiên, vẫn cần
đảm bảo tưới đủ nước và giữ độ ẩm đất từ 50 - 60%.
* Nhu cầu về dinh dưỡng
Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm, lân, kaly. Nhu cầu dinh
dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn.
Giai đoạn I: Từ nảy mầm đến phân nhánh đòi hỏi cần nhiều N,P,K
Giai đoạn II: Phân nhánh đòi hỏi cần nhiều N,P
Giai đoạn III: Ra hoa, hình thành hạt cần nhiều P,K.
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn, đồng
thời cần chống rét cho cỏ bằng cách bón phân cho cỏ vào cuối thu, đầu đông.
* Nhu cầu về không khí

sẽ rất dễ chết do không có lá để thoát hơi nước, mặt khác rễ cỏ yếu nên hay bị
tổn thương dẫn đến thối rễ và cây cỏ chết.
+ Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc sau khi cắt 15 - 20 ngày, lúc này
cỏ sinh trưởng và phát triển nhanh. Trong giai đoạn này, lá chứa đủ protein và
năng lượng thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc. Cỏ có chất lượng cao
và số lượng lớn.
+ Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 - 70 ngày, cỏ sinh
trưởng chậm hoặc ngừng hẳn. Giai đoạn này lá sử dụng nhiều năng lượng để
hô hấp hơn là chúng có thể tạo ra nhờ quang hợp. Cỏ ở phần thân chiếm đa số

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
và nhiều xơ. Hàm lượng dinh dưỡng cao, số lượng nhiều, tuy nhiên khả năng
tiêu hóa của gia súc đối với lá và thân cây giai đoạn này thấp dần.
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định thời
gian thu cắt hợp lý. Thường chăn thả hay thu cắt khi kết thúc giai đoạn 2 hoặc
đầu giai đoạn 3 và thời gian nghỉ hợp lý để duy trì cây cỏ lâu dài.
1.1.1.5. Sức sống của cỏ hoà thảo
Sức sống của cỏ hoà thảo không giống nhau, có loài sống một năm
nhưng cũng có loài sống lâu năm (2, 3, 4 đến 10 năm) thường chia làm 4
loại sau:
Loại sống một năm thường gọi là cỏ hàng năm: Chúng chỉ sống
trong vòng 1 năm rồi tàn lụi và chết điển hình là cỏ Lồng vực, cỏ Ngô
(Zeamays), cỏ Sudăng.
Loại có sức sống ngắn (2 - 3 năm) như cỏ Dầy (Hemarthria
compressa), cỏ Mật (Melinis minutiflora)
Loại cỏ có sức sống 4 - 5 năm gọi là cỏ có sức sống vừa như:
Pangola, cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Brizantha, cỏ Paspalum
Loại sống 6 - 10 năm gọi là cỏ có sức sống lâu như: cỏ Tước Mạch

độ sáng. Đối với cỏ chịu cường độ chiếu sáng yếu, khi cường độ chiếu sáng
tăng thì cường độ quang hợp cũng tăng nhưng cường độ chiếu sáng tăng quá
giới hạn thì cường độ quang hợp lại giảm. Với cỏ chịu cường độ chiếu sáng
trung bình thì khi cường độ chiếu sáng mạnh thì cường độ quang hợp sau khi
tăng lại giảm bất ngờ và đạt bão hòa. Còn với cỏ ưa cường độ chiếu sáng dài
thì khi tăng tới 1000 lux vẫn thấy cường độ quang hợp tiếp tục tăng (theo
Moir và Cooper, 1964) [44].
Quang chu kỳ: Các tác giả cho thấy ít có sự thay đổi khi thay đổi quang
chu kỳ từ 8 đến 16 giờ, hệ số diện tích riêng của lá, tỷ lệ thân lá/rễ không bị
ảnh hưởng rõ rệt. Quang chu kỳ chỉ ảnh hưởng tới tốc độ ra lá. Chiều dài và
đôi khi cả chiều rộng lá đều tăng nếu kéo dài quang chu kỳ bằng cường độ
ánh sáng yếu. Trong những ngày hè thì dài lá và thân sinh trưởng thẳng hơn,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
giảm hình thành mầm nách. Trong những ngày ngắn và mát của cuối mùa hè,
đầu thu thì sinh trưởng rộng hơn và chồi hình thành nhiều.
1.1.2.2. NhiÖt ®é
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng thì
sinh trưởng cũng tăng và ngược lại. Nhưng nhiệt độ cao quá dẫn đến cây cỏ
bốc hơi nước mạnh dẫn đến cháy cây, còn lạnh quá các mạch dinh dưỡng co
lại, các men hoạt động kém làm cây sinh trưởng chậm lại và có thể dẫn đến
chết cây. Cỏ hoà thảo thích ứng với biên độ nhiệt độ lớn, tuy nhiên nhiệt độ
thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 18 - 30
0
C. Khi nhiệt độ tới giới hạn nhất
định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Hoàng Minh
Tấn và cộng sự, 2000) [19]. Theo Bogdan 1977 [34] nhiệt độ thấp nhất để cỏ
nhiệt đới nảy mầm là 15 - 20


10
Theo Phan Nguyên Hồng, 1971[7]: Nhiệt độ đất có tác dụng đối với
nhiệt độ bên trong thực vật lớn hơn nhiệt độ đất thông qua nước hấp thu từ đất
mà chuyển vào cây dễ dàng.
1.1.2.3. Ẩm độ
Ẩm độ là một trong những nhân tố quan trọng cần thiết tới sự sinh
trưởng của cây. Ẩm độ đất có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của bộ rễ cỏ
và khả năng hút chất dinh dưỡng của nó. Đối với các tế bào đầu rễ thì phải
đảm bảo đủ nước mới sinh trưởng được do chúng không có bộ phận bảo vệ
như các phần bên trên mặt đất. Mùa xuân cây sinh trưởng mạnh do độ ẩm
không khí và độ ẩm đất cao nên cây không bị mất nước, chất nguyên sinh
được bão hòa nước nên cây phát triển thuận lợi. Mùa đông, ẩm độ đất và
không khí đều thấp cây bị mất nước, chất nguyên sinh không được bão hòa
nước nên cây sinh trưởng chậm lại.
Ẩm độ không khí có ảnh hưởng trực tiếp đến cây cỏ trồng và ẩm độ
không khí giảm thì cường độ thoát hơi nước của cây tăng và ngược lại. Ẩm độ
đất cũng là nhân tố quan trọng cho cây phát triển vì nhờ có nước mà cây có
thể hút chất dinh dưỡng. Nếu đất thiếu nước thì cây không thể hoạt động
mạnh sinh trưởng tốt được, còn thừa nước thì cây cỏ sẽ bị úng thối do thiếu
oxy vì vậy đảm bảo độ ẩm cho không khí và đất bằng cách tưới nước vào mùa
khô, tránh ngập úng vào mùa mưa để cho cây phát triển bình thường là điều
rất cần thiết trong năm của cây cỏ hòa thảo.
1.1.2.4. §Êt vµ ph©n bãn
Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ
trồng, trong đó các chất dinh dưỡng là các yếu tố cơ bản tác động đến sinh
trưởng của cỏ. Đất mầu mỡ, giàu mùn, N, P, K cỏ sinh trưởng tốt, năng suất
cao, còn nghèo dinh dưỡng thì ngược lại. Độ pH của đất cũng ảnh hưởng lớn
tới cỏ, đa số cỏ hoà thảo ưa đất trung tính và chua nhẹ, ở đất chua hoặc kiềm



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
thể đạt 75% tổng sản lượng cả năm. Mùa khô ngược lại thời gian chiếu sáng
ngắn, cường độ chiếu sáng yếu, nhiệt độ, ẩm độ đất và không khí thấp làm
cho cỏ sinh trưởng kém.
Điều kiện hàng năm: Các năm có khí hậu thời tiết khác nhau cây cỏ sẽ
sinh trưởng và phát triển khác nhau. Nếu mùa mưa đến muộn thì cây tái sinh
muộn, sinh trưởng chậm và ngược lại. Nếu khí hậu khô hanh và ít mưa thì có
thể dẫn tới giảm sản lượng 2 - 3 lần, nhưng nếu điều kiện thuận lợi thì có thể
tăng 2 - 4 lần.
1.1.2.6. Kỹ thuật trồng trọt
Ngoài các điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với cây trồng thì yêu cầu
phải trồng cây cỏ đúng thời vụ, đúng mật độ và kỹ thuật trồng là yếu tố cần
thiết đảm bảo cho cây cỏ sinh trưởng và phát triển một cách bình thường, tỷ lệ
sống cao, năng suất chất xanh cao.
1.1.2.7. Khoảng cách giữa hai lần thu hoạch cỏ
Khoảng cách này chính là thời gian từ cắt cỏ lần trước đến cắt cỏ lần sau
đối với cỏ trồng và thời gian từ chăn thả lần trước đến chăn thả lần sau đối với
bãi cỏ chăn.
Khoảng cách này ngắn thì cỏ chưa tích luỹ đủ chất dinh dưỡng theo chu
trình làm cho cỏ nhanh tàn lụi, giảm thời gian sử dụng, năng suất cỏ thấp, tỷ
lệ nước trong cỏ cao, giá trị dinh dưỡng của cỏ thấp. Nhưng nếu để khoảng
cách này quá dài tuy thu được năng suất cao nhưng cỏ già, cứng, tỷ lệ xơ cao
làm cho giá trị dinh dưỡng thấp và cũng ảnh hưởng đến tái sinh lứa sau.
1.1.2.8. Phương pháp chế biến, bảo quản
Phương pháp chế biến bảo quản khác nhau ảnh hưởng nhất định đến
chất lượng cỏ. Cỏ phơi khô hàm lượng nước cũng như các chất dinh dưỡng
sẽ bị tiêu hao nhiều hơn so với cỏ tươi, cỏ ủ chua hàm lượng dinh dưỡng

thương phẩm tồn tại được lựa chọn trực tiếp từ loài cỏ có nguồn gốc châu
Phi, chúng được chấp nhận ở thể lưỡng bội hữu tính như cỏ B.ruziziensis;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
sự tồn tại của cỏ Brachiaria (B.brizantha, B. Decumbens và B.
humidicola) ở thể đa bội có kiểu sinh sản vô tính. Những cỏ này được
phát triển từ đầu thập niên 1970 nhưng do sự lai tạo chưa đầy đủ nên đến
giữa thập niên 1980, thể tứ bội kiểu sinh học hữu tính của B.ruziziensis
mới được phát triển tiếp ở Bỉ. Sau đó thí nghiệm đầu tiên về dòng lai đã
được kiểm tra ở Colombia vào năm 1989, nhưng không được phát triển
tiếp. Sau này Công ty sản xuất giống cỏ của Mexico đã nhân giống cơ bản
và thương mại hóa cỏ trồng Brachiaria lai đầu tiên bằng sinh sản vô tính
dưới cái tên “Mulato”. Thuộc tính đầu tiên chúng có sản lượng cao và
chất lượng tốt. Cỏ lai thứ hai, được gọi là "Mulaoto II” tại thời điểm trước
khi đưa ra chính thức. Mulato II có khả năng kháng rệp và thích nghi tốt
với điều kiện khô hạn. Tuy nhiên, đến năm 2005 người ta phát hiện thấy
hiệu quả của Mulato II là rất giới hạn vì vậy người ta tiếp tục lai tạo, chọn
lựa tìm kiếm sản phấm cây lai mới với mục đích làm tăng khả năng đề
kháng với rệp, tăng sản lượng chất lượng cỏ và sản lượng hạt.
Theo H. Palazas [38] cỏ lai Brachiaria cv. Mulato (CIAT 36061) tại
Easter Plains, Colombia cho sản lượng cao, chất lượng dinh dưỡng tốt,
sức đề kháng tốt và có thể sử dụng phân bón với liều lượng cao ở hệ
thống đồng cỏ cắt. Từ năm 2002 chương trình đồng cỏ nhiệt đới của CIAT
và công ty giống cỏ thương phẩm Mexican, Papalotla với sự cộng tác của
một vài nhà sản xuất ở khu vực, đã đánh giá tiềm năng của cỏ lai trong vụ
mùa. Kết hợp cỏ lai mới với ngô để phục hồi lại đồng cỏ Brachiaria đã
suy thoái. Hạt cỏ thương phẩm trộn lẫn với 250kg/ha phân hỗn hợp của
hãng Calfos (4% P, 37% Ca) được gieo với khoảng cách luống 50 cm với

mùa mưa tuy nhiên sau đó chúng cũng chết. Những cây cỏ này chỉ phù
hợp nhất ở khu vực đất lầy là bắt đầu mùa khô, khi đất trở nên cứng.
A.C.Rincón [33] đã nghiên cứu để phục hồi sản phảm đồng cỏ
Branchiaria decumbens suy thoái trên vùng đất Oxisol ở Easterrn Plains,
Colombia. Nghiên cứu bao gồm T1= làm đất + Phân cơ bản + Bộ đậu

Trích đoạn Mulato II
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status