Chính sách pháp luật của đảng và nhà nước và định hướng về gia đình việt trên con đường tiến lên mô hình chủ nghĩa xã hội - Pdf 23

Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
I.Một số quan niệm chung về gia đình và gia đình Việt Nam hiện nay.
1.Khái niệm gia đình.
2.Gia đình Việt Nam : Truyền thống hay hiện đại?

II. Mối quan hệ cá nhân - gia đình trong bối cảnh Việt Nam đi vào công
cuộc hội nhập ,công nghiệp hóa-hiện đại hóa
1.Quá trình hội nhập và vấn đề gia đình ở châu Á.
2. Sự phát triển của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và
cuộc sống của gia đình Việt Nam hiện nay.
3.Những biến đổi trên đã ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên
gia đình Việt Nam hiện nay.
III.Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình
Việt trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
1. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về vấn đề gia đình.
2. Trích văn bản quyết định của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt
chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010.
3. Nguyên nhân của những hiện tượng đi xuống trong văn hóa gia đình.
IV.Định hướng xây dựng gia đình Việt Nam trong hoàn cảnh mới.
1. Chính sách của Đảng về định hướng xây dựng gia đình tương lai.
2. Suy nghĩ về việc xây dựng đạo đức gia đình tiến bộ, lành mạnh.
C.Lời Kết
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
1
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
LỜI MỞ ĐẦU:
Gia đình là một môi trường quen thuộc với hầu hết mọi người. Đó là lĩnh
vực mà ai cũng có thể tham gia với tư cách là người trong cuộc. Mặt khác,

của loài người. Ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi con người tách khỏi giới
động vật và tự tổ chức cuộc sống với tư cách là một cộng đồng độc lập, thì
cũng là lúc con người tự tổ chức cuộc sống theo các mô hình cộng đồng nhỏ
- hình thức sơ khai của gia đình. Lúc đầu gia đình chỉ bao gồm các thành
viên có quan hệ trực huyết với nhau, chủ yếu là những người mẹ cùng các
con, cháu (gia đình mẫu hệ). Sau đó thì được mở rộng bao gồm thêm các
thành viên khác có thể có cùng huyết thống song cũng có thể không cùng
huyết thống.
Về quy mô gia đình, lúc đầu số lượng các thành viên gia đình tương đối
đông có khi lên tới hàng trăm người. Về sau, do yêu cầu thích ứng với cuộc
sống ngày càng phát triển của xã hội loài người nên số lượng các thành viên
gia đình giảm dần. Gia đình hiện đại ngày nay, số thành viên có khi chỉ có từ
1 - 3. Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, đồng thời
các quan điểm cơ bản về gia đình dường như cũng chưa có sự thống nhất,
thậm chí có sự trái ngược nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sống
chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan
hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”.
Quan niệm này chỉ mới dừng lại ở một quan niệm phổ quát nhất về các loại
3
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
gia đình trong lịch sử, đồng thời cũng chưa bao gồm các hình thức gia đình
mới đang phát sinh trong các xã hội hiện đại ngày nay.
Nho giáo cho rằng, gia đình chính là một cái nước nhỏ. Vì thế, nếu “một
nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu. Một nhà lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều
có lễ nhượng. Một người tham lam thì cả nước bị rối loạn” (Đại học,
Chương IX). Do đó, một xã hội muốn thanh bình thì trước hết cần phải có
những gia đình hòa thuận. Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọi thành viên
luôn quan tâm đến nhau, chăm lo cho nhau. Trong gia đình đó, vợ chồng

Theo tác giả Levy Strauss: gia đình là một nhóm xã hội học được quy
định bởi 3 đặc điểm thường thấy:
+ Hôn nhân
+ Quan hệ hôn nhân
+ Các ràng buộc và trách nhiệm giữa các thành viên trong gia dinh.
Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ
hàng cùng sống chung và có ngân sách chung.
Ở phương Tây, những năm gần đây xuất hiện nhiều dạng gia đình biến
thái khiến cho định nghĩa về gia đình đều trở nên bất cập. Chẳng hạn: Các
tác giả Jame W. Vander Zanden - cho biết: “Một cuộc thăm dò mới đây cho
thấy 45% người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi không cần kết hôn mà cùng
chung sống với nhau thì được coi là một gia đình đích thực, 33% coi các đôi
cùng giới tính có nuôi nấng con cái là gia đình, còn 20% thì coi các cặp đồng
giới tính chung sống với nhau là một gia đình”. Đây có thể coi là một sự mở
rộng thái quá trong quan niệm về gia đình mà người Việt Nam khó chấp
nhận.
Đối với người á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, gia đình là
một giá trị xã hội quan trọng vào bậc nhất. Nếu ở châu Âu gia đình nhiều khi
đơn giản chỉ được coi là một nhóm xã hội thì ở ta, gia đình được coi là một
5
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
tế bào xã hội có tính sản sinh với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó như vợ
- chồng - con cái. Bởi thế, để có thể tìm hiểu về gia đình Việt Nam, chúng
tôi tạm đưa ra một định nghĩa mang tính cổ điển như sau: gia đình là một tập
hợp những người cùng chung sống với nhau dựa trên quan hệ hôn nhân được
chính thức thừa nhận bởi pháp luật hay luật tục và huyết thống. Họ có trách
nhiệm đạo đức đối với nhau, có chung tài sản và cùng có trách nhiệm xã hội
hóa thế hệ mai sau. Đó là các quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh
chị em ruột.

đình phổ biến ở đô thị. Vào những năm 60 trở về trước ở Hà Nội kiểu đại gia
này vẫn còn thường thấy. Gia đình truyền thống có các ưu điểm như có sự
gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống, bảo lưu được các truyền thống văn
hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo. Các thành
viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm
sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ. Đó là những giá trị rất căn bản của
văn hóa gia đình mà chúng ta cần kế thừa và phát huy. Tuy nhiên, nhược
điểm của loại gia đình này là ở chỗ trong khi giữ gìn các truyền thống tốt
đẹp thì cũng bảo trì luôn cả những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời. Bên
cạnh đó, sự khác biệt về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ
quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn giữa các thế hệ: giữa ông bà - các cháu,
giữa mẹ chồng - nàng dâu Bên cạnh việc duy trì được tinh thần cộng đồng,
gia đình truyền thống phần nào cũng hạn chế sự phát triển tự do của mỗi cá
nhân. Trong điều kiện của xã hội hiện đại "1 ngày bằng 20 năm" loại gia
đình này có vẻ thiếu cơ động và chậm thích ứng. Điều này giải thích tại sao
7
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
số lượng gia đình truyền thống kiểu đại gia đình giảm đáng kể và không còn
là khuôn mẫu của gia đình ngày nay.
Ở đây, một câu hỏi được đặt ra: vậy gia đình Việt Nam ngày nay có phải
là một gia đình hiện đại? Chúng tôi cho rằng điều này không hẳn đúng. Bởi
vì gia đình hiện đại phải là sản phẩm của một nền công nghiệp phát triển,
dân cư có lối sống đô thị và đạt đến một trình độ văn minh đô thị khá cao.
Trong khi đó, Việt Nam vẫn đang là một nước nông nghiệp. Cư dân nông
thôn chiếm tỷ trọng áp đảo - khoảng 3/4 dân cư cả nước với tất cả các đặc
trưng về lối sống, tâm lý, sinh hoạt của người tiểu nông. Theo số liệu dự báo
của Liên hợp quốc (năm 1993) đến năm 2000 tỷ trọng cư dân đô thị nước ta
sẽ lên 27,1%, năm 2010 là 34,8%. Như vậy quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
đang ở giai đoạn khởi đầu. Văn minh nông nghiệp vẫn còn in đậm trong đời

văn hóa truyền thống trong gia đình. Dù vậy, gia đình hạt nhân vẫn là loại
hình khá phổ biến ở nước ta hiện nay và đó cũng là loại gia đình thịnh hành
trong các xã hội công nghiệp - đô thị phát triển. Có nghĩa - đó cũng là kiểu
gia đình của tương lai.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, các quốc gia kém hoặc đang phát triển,
các dân tộc nói chung và các loại hình gia đình nói riêng đang đứng trước
nguy cơ bị đồng nhất hoá, bị làm suy kiệt những hệ thống giá trị và chuẩn
mực văn hoá riêng của cộng đồng mình, gia đình mình. Vì những lẽ đó mà
vấn đề củng cố, phát triển gia đình đã và đang trở thành mối quan tâm
chung của cộng đồng quốc tế.
II/ Mối quan hệ cá nhân - gia đình trong bối cảnh Việt Nam đi vào công
cuộc hội nhập ,công nghiệp hóa-hiện đại hóa
1. Quá trình hội nhập và vấn đề gia đình ở châu Á:
9
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
Tại các quốc gia mới giàu có ở châu Á, đời sống gia đình hiện nay đang
gặp phải những vấn đề đã từng xảy ra trong xã hội phương Tây. Trong các
cuộc thảo luận về các “giá trị châu Á”, mối quan hệ trong gia đình thường là
trọng điểm tranh luận. Ông Lý Quang Diệu (cựu Thủ tướng Singapore) là
người cổ vũ nhiệt thành cho nét đặc thù châu Á đã đưa ra nhận xét: Sự sụp
đổ các cấu trúc gia đình là nguyên nhân của các vấn đề nan giải trong xã hội
phương Tây. Ngược lại, sức mạnh kinh tế châu Á bắt nguồn từ những người
con ngoan ngoãn, biết tôn trọng quyền lực của cha mẹ và cha mẹ cùng nhau
chung sức đầu tư thì giờ và tiền bạc cho tương lai của con cái. Người ta cho
rằng, cấu trúc gia đình ở nhiều nước châu Á bền vững hơn các nước châu
Âu, vì nó có cội rễ vững chắc hơn, trong đó Khổng giáo được coi là nền tảng
ý thức hệ văn hoá Đông Á có vai trò quan trọng cho sự ổn định của gia đình.
Tư duy căn bản của Khổng giáo là các chế định nghiêm ngặt trong các mối
liên hệ giữa vua tôi, chồng vợ, cha con và anh em. Vậy mà, ngày nay tại các

phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đã quốc gia như truyền hình,
mạng Internet… Văn hóa Âu Mỹ, văn hóa các nước phát triển, lối sống, nếp
sống của họ được du nhập bằng nhiều con đường khác nhau và có ảnh
hưởng lớn đến nhân dân ta, đặc biệt là lớp trẻ.
Hiện nay, trong xã hội, nguyên tắc tự do dân chủ được đề cao; quyền lợi cá
nhân, lợi ích cá nhân, tư duy cá nhân được nêu lên hàng đầu. Đồng thời,
cũng có sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ đặt cái tôi lên trên hết.
Trong hôn nhân đã nảy sinh khuynh hướng chủ nghĩa thực dụng; không ít
người lấy nhau, bỏ nhau vì động cơ tiền tài, địa vị, danh vọng. Tỷ lệ ly hôn,
ly thân của các gia đình ở nước ta có xu hướng tăng lên hàng năm. Đồng
thời, đã định hình thành quan niện dễ dãi trong quan hệ tình dục nam nữ, gắn
11
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
với sự chung sống tạm bợ, không tính đến chuyện hôn nhân nghiêm túc và
lâu dài. Đó là những biểu hiện của lối sống bắt chước phương Tây: Nam nữ
ăn ở với nhau, chán thì chia tay; nếu nữ có thai thì đi nạo, phá thai, hay có
con thì tự nuôi…
Chủ nghĩa độc thân cũng phát triển trong nam nữ thanh niên nước ta hiện
nay. Sống độc thân nhưng khi cần vẫn có quan hệ tình dục với nam hay nữ,
vì họ không coi trọng quan hệ tình dục nam nữ phải gắn với hôn nhân, lập
gia đình, cũng như hậu quả nếu con cái sinh ra.
3. Những biến đổi trên đã ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành
viên gia đình Việt Nam hiện nay.

3.1 Gia đình phổ biến là có ít con, thu nhập lại tăng lên nên có điều kiện
nuôi con tốt hơn; thậm chí sinh ra chiều chuộng con, nhiều lúc quá đáng.
Đồng thời, cha mẹ đi làm suốt ngày, phần lớn ở xa nhà, ít có thời gian ở gần
con, săn sóc, theo dõi việc học tập, vui chơi, kết bạn của con. Họ phó mặc
cho nhà trường, các đoàn thể cả việc giáo dục văn hóa và xây dựng đạo đức,

thuận, êm ấm của gia đình.
Vì vậy, không nên hiểu lầm là đề cao tự do dân chủ trong gia đình đồng
nghĩa với không có người làm chủ. Trái lại, nhất thiết phải có người lãnh
đạo đức độ mới huy động được ý chí, sức lực, sự đoàn kết của các thành
viên cho mục đích chung là xây dựng sự bền vững, ấm no, hạnh phúc của
gia đình.
3.4 Về mối quan hệ bình đẳng, dân chủ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ
trong trách nhiệm nuôi dạy con cái. Người mẹ ngày nay phần lớn đi làm
kiếm tiền nuôi con cái như người cha. Đồng thời, người mẹ thường phải làm
nhiều việc nội trợ gia đình, chăm sóc con cái, đặc biệt lúc con còn nhỏ tuổi.
13
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
Cách đối xử bình đẳng, dân chủ giữa vợ và chồng là yêu cầu của thời đại,
đồng thời là tâm gương hàng ngày diễn ra trước mắt con cái. Cần tạo điều
kiện để con cái biết ơn, thương yêu, gần gũi cả cha và mẹ. Nhiều gia đình,
do thái độ không đúng của người cha khiến con cái yêu thương mẹ, mà rất
sợ cha. Chúng tìm thấy sự che chở ở người mẹ, mà không phải ở người cha
hay ngược lại. Cũng có những gia đình do sự đối xử không bình đẳng giữa
các con, đặc biệt giữa con trai và con gái, con cả và con út cũng để lại những
ấn tượng không tốt đối với con cái, sự so đo tị nạnh và ghen ghét giữa anh
em với nhau ngay trong một gia đình. Đó là lỗi tại cha mẹ.
3.5 Chủ nghĩa cá nhân ích kỷ đang phát triển trong quan hệ vợ chồng,
dẫn đến sự không ổn định và thiếu bền vững của nhiều cuộc hôn nhân, ảnh
hưởng đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Quyền tự do ly hôn ngày nay được pháp luật thừa nhận và khẳng định rõ
ràng. Nhiều cuộc ly hôn là chính đáng và cần thiết. Nhưng khi chủ nghĩa cá
nhân ích kỷ cảu người chồng hay người vợ phát triển ở một số gia đình, lòng
tự ái, sĩ diện cá nhân tăng nên, không gì kìm hãm nổi đã đã dẫn đến những
vụ ly hôn vỗi vã. Họ có quan niệm lệch lạc, đòi hỏi hạnh phúc cá nhân phải

ly hôn.
b/ Các vụ ly hôn tăng, đồng thời các vụ tái hôn cũng nhiều. Trong các gia
đình tái kết hôn lại nảy sinh nhiều quan hệ phức tạp mới giữa các thành viên
gia đình, như giữa bố dượng với con riêng của vợ, giữa mẹ ghẻ với con riêng
của chồng, giữa các con có nguồn gốc cha mẹ khác nhau. Giữa anh em
không cùng cha, cùng mẹ dễ có sự so đo, tị nạnh.
Những quan hệ gia đình rất phức tạp, tế nhị. Những người chủ gia đình
nếu không biết cách xử lý, không chú ý giáo dục con cái thì luôn xảy ra mâu
thuẫn, đầu độc cuộc sống chung của gia đình. Đã có những cặp vợ chồng tái
15
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
kết hôn sau lại xin ly hôn để anh và con anh đi một đường, tôi và con tôi đi
một nẻo khác!
c/ Những gia đình đơn thuần gồm 2 thế hệ nhưng con cái chỉ sống với mẹ
hoặc với bố. Chủ yếu là sống với mẹ, vì người phụ nữ góa thường không kết
hôn lại, ở vậy nuôi con. Còn nam giới góa vợ lập gia đình lại sớm và tỷ lệ
cao hơn so với nữ góa chồng.
Có những người phụ nữ đi xin con vì không có khả năng lấy chồng, hoặc
những người lỡ có con sau những cuộc sống chung tạm bợ, người đàn ông
khi có con, bỏ mặc họ…
Thiếu cha hay thiếu mẹ đều là một sự thiệt thòi không thể bù đắp đối với
trẻ em, đặc biệt là trong việc hình thành nhân cách toàn diện của chúng.
Thiếu cha, trẻ thấy thiếu sự tự tin, mạnh dạn. Thiếu mẹ, trẻ thấy cuộc sống
khô khan, cô độc và thiếu tình mẫu tử, sự hiền từ, dịu dàng của người mẹ.
6. Mối quan hệ của con cái đối với cho mẹ.
a/ Tôn trọng quyền tự do dân chủ cá nhân là điều luật pháp bảo vệ và đòi
hỏi mọi công dân phải chấp hành, là một nguyên tắc xây dựng gia đình hiện
đại ở nước ta. Nhưng sự đòi hỏi về quyền, lợi ích, tự do cá nhân của con cái
có trường hợp đã bị đẩy lên thành chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, từ sự thiếu hiểu

Thật ra, việc thanh niên muốn sống độc lập, không sống chung với cha mẹ
cũng là điều dễ hiểu, vì chúng muốn tự tổ chức cuộc sống cá nhân theo ý
mình. Nhưng liệu chúng đã đủ bản lĩnh để sống riêng chưa, nhất là khi vẫn
tiếp tục phụ thuộc cha mẹ về tài chính?
Hiện nay, xu hướng kết hôn, lập gia đình muộn khiến một số con cái tuy
trưởng thành nhưng vẫn sống với cha mẹ, chưa tách được khi chưa xây dựng
cuộc sống gia đình riêng rẽ, tự chủ.
c/ Quá trình xã hội hóa trẻ em, đó là quá trình cá thể hóa con người, hình
thành nhân cách cá nhân, hình thành cái tôi riêng biệt. Ngày nay, một yêu
17
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
cầu bức xúc đặt ra là phải vun đắp cái tôi sáng tạo, độc lập suy nghĩ. Trước
sự đòi hỏi tăng lên của quyền tự quyết cá nhân, gia đình cần cố gắng thỏa
mãn trong điều kiện cho phép, tuy theo lứa tuổi. Bởi vì, điều đó ảnh hưởng
đến sự hình thành đầu óc suy nghĩ độc lập, sáng tạo của con cái cũng như
lòng yêu thương, tin cậy của chúng đối với cha mẹ.
Gia đình ngày nay đang đứng trước những đòi hỏi ngày càng cao của con
cái, do sự phát triển của xã hội thông tin. Thời đại ngày nay, có báo chí của
trẻ em bên cạnh báo chí của người lớn. Đồng thời, ti vi, máy tính điện tử,
các phương tiện thông tin đại chúng khác đã cung cấp nhiều thông tin đa
dạng cho các lứa tuổi. Trẻ em có thể xem các loại thông tin, các câu chuyện
trên truyền hình như người lớn, dường như có sự hòa lẫn, không còn sự phân
biệt giữa tuổi trẻ và tuổi trưởng thành. Sự bình đẳng trong các quan hệ xã
hội đã ảnh hưởng đến sư phân phối bình đẳng về các thông tin. Đó là điều
các bậc cha mẹ cần lưu ý trong việc giáo dục con cái.
Thách thức lớn nhất đối với gia đình Việt Nam trong những năm đầu của
thế kỷ XXI là cùng với việc tiếp thu những giá trị nhân văn mới trong xu thế
hội nhập với cộng đồng quốc tế, đồng thời vẫn phải giữ được bản sắc văn
hoá dân tộc và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt

19
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
trong các gia đình, nhấn chìm rất nhiều số phận trong vòng xoáy nghiệt ngã
của nó. Đã có sự xói mòn đáng kể những truyền thống quý báu trong nhiều
gia đình người Việt như lòng hiếu thảo, sự thủy chung, tình tương thân
tương ái Tệ nạn xã hội, đặc biệt là mại dâm, ma túy gia tăng, ly thân, ly dị
ngày càng phổ biến khiến nhiều người lo ngại cho tương lai của gia đình
Việt Nam. Sự lo ngại đó là có cơ sở bởi nếu không có những can thiệp kịp
thời ở tầm vĩ mô của Nhà nước thì gia đình sẽ chệch hướng và mất đi những
nét tốt đẹp làm nên một phần bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt
Nam. Với vai trò là nền tảng của xã hội, sự suy thoái của gia đình cũng gây
ra những bất ổn của cộng đồng và có thể làm suy vi cả quốc gia dân tộc.
“Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong vòng 5 năm qua, các tòa
án địa phương trong cả nước thụ lý và giải quyết sơ thẩm 352.047 vụ việc
hôn nhân và gia đình. Trong đó có 186.954 vụ việc về hôn nhân và gia đình
có hành vi đánh dập, ngược đãi, chiếm 53,1% trong các nguyên nhân dẫn
đến ly hôn. Riêng năm 2005, có tới 39.730 vụ ly hôn do bạo lực gia đình
trong tổng số 65.929 vụ án về hôn nhân và gia đình, chiếm 60,3%. Theo báo
cáo của Ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội, cứ 2-3 ngày có 1 người bị
chết liên quan đến bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình đang diễn ra ở nhiều
nơi, ở mọi đối tượng và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng”
2. Trích văn bản quyết định của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt
chiến lược xây dựng gia đình việt nam giai đoạn 2005 – 2010
“Điều 1. Phê duyệt Chiến lược xây dựng Gia đình Việt Nam giai đoạn
20
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
2005 - 2010 với những nội dung chủ yếu sau đây:
1. Quan điểm:

là trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đối với trẻ em, phụ nữ
và người cao tuổi.
Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt được vào năm 2010:
Chỉ tiêu 1: Tăng tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa lên 80%.
Chỉ tiêu 2: Mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con.
Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn được trang bị
kiến thức về hôn nhân và gia đình lên 80%.
Chỉ tiêu 4: Tăng tỷ lệ người cao tuổi trong gia đình được con, cháu chăm
sóc, phụng dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lên
90 - 100%; trong trường hợp người cao tuổi không còn người chăm sóc,
phụng dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hoặc có
người chăm sóc, phụng dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và
gia đình nhưng không đủ khả năng chăm sóc, phụng dưỡng thì được Nhà
nước, cộng đồng hỗ trợ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hiện
hành.
Chỉ tiêu 5: Tăng tỷ lệ gia đình thực hiện tốt trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em lên 90 - 100%.
- Mục tiêu 2: Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia
đình và cộng đồng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật hôn nhân và
gia đình, bình đẳng giới; tăng cường phòng ngừa, ngăn chặn sự xâm
nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình; tăng cường phòng, chống bạo
lực trong gia đình; khuyến khích phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp
và vận động người dân xoá bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn
nhân và gia đình.
Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt được vào năm 2010:
22
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
Chỉ tiêu 1: Tăng tỷ lệ gia đình được tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận
thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình trong ổn định và phát triển

đối về vấn đề gia đình,luôn đặt lên hàng đầu mối quan tâm về xã hội thông
qua gia đình với tiêu chí gia đình là tế bào của xã hội.Nhưng tại sao những
bất cập trong mô hình gia đình mới vẩn xẩy ra một cách phổ biến trong xã
hội hiện nay,phải chăng xuất hiện những tồn tại mới chưa được khắc phục
hay chính là những mâu thuẫn đã tồn tại từ trước đến nay vẩn chưa được
giải quyết.Sau đây chúng ta sẻ đi phân tích về một số các nguyên nhân nổi
trội hiện nay
3. Nguyên nhân của những hiện tượng đi xuống trong văn hóa gia đình
Trước hết là những vấn đề liên quan đến luật pháp. Những quy định của luật
pháp là cơ sở chính hình thành đạo đức gia đình. Nhà nước ta đã ban hành
Luật hôn nhân - gia đình mới (năm 2000) quy định mối quan hệ đạo đức gia
đình: trách nhiệm, quyền lợi của cha mẹ đối với con cái và ngược lại, trách
nhiệm giữa vợ và chồng và cả khung hình phạt đối với những người phạm
luật. Song, trên thực tế,công việc tuyên truyền, giáo dục hôn nhân và gia
đình chưa được thực hiện thường xuyên và rộng rãi, đặc biệt ở miền núi,
vùng sâu, vùng xa ". Vì vậy, có thể nói, hiện tượng "mù pháp luật" đã xảy
ra. Người phạm pháp (đánh đập vợ, con, ngược đãi cha mẹ già…) lại không
hiểu hành vi của mình là phạm tội, người bị hại lại cam chịu cho rằng đó là
24
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước và định hướng về gia đình Việt
trên con đường tiến lên mô hình Chủ Nghĩa Xã Hội
số phận. Tuy nhiên, phải thấy rằng, việc tuân thủ pháp luật của một số người
chưa nghiêm chỉnh. Có người biết quy định của luật là hôn nhân một vợ một
chồng nhưng vẫn vi phạm. Ở thành phố Hồ Chí Minh có 4418 vụ kiện chồng
có vợ hai ở Kiên Giang bình quân mỗi năm xảy ra 1498 vụ.
Nguyên nhân liên quan đến vai trò của giáo dục. Việc xem thường giáo dục
đạo đức gia đình, phương pháp dạy con không cụ thể, nội dung giáo dục đạo
đức chung chung đã không làm cho học sinh hiểu sâu sắc trong nhà
trường), không giác ngộ được con cái (trong gia đình). Mặt khác, trong điều
kiện mở cửa, hội nhập hiện nay, việc giao lưu văn hoá dễ đàng trong vá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status