nghiên cứu áp dụng hệ thống nẹp vít tự tiêu trong điều trị gãy xương hàm mặt - Pdf 23

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT
******
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG HỆ THỐNG NẸP VÍT TỰ TIÊU
TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM MẶT
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. TRƯƠNG MẠNH DŨNG
Hà Nội, tháng 06 năm 2012
1
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT
******
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG HỆ THỐNG NẸP VÍT TỰ TIÊU
TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM MẶT
Số QĐ: 3661/QĐ-BYT ngày 24/09/2008
Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Y tế
Cơ quan được giao kế hoạch: Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt
Tổ chức chủ trì thực hiện đề tài: Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. TRƯƠNG MẠNH DŨNG
Hà Nội, tháng 06 năm 2012
2
PHẦN A: TÓM TẮT KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương vùng hàm mặt là một trong những loại chấn thương khá

não), sau đó được sử dụng trong kết hợp xương tầng mặt giữa và phẫu thuật
chỉnh hình răng hàm mặt. Với xương hàm dưới, người ta còn nghi ngờ hiệu
quả của loại vật liệu này, gần đây mới có một số báo cáo ghi nhận sự thành
công khi sử dụng hệ thống nẹp vít tự tiêu trong phẫu thuật xương hàm dưới.
Ở Việt Nam, nẹp vít tự tiêu mới được đưa vào sử dụng những năm gần
đây, tuy nhiên việc sử dụng mới chỉ mang tính chất thử nghiệm và hiện các
nghiên cứu về áp dụng phương pháp này còn chưa nhiều. Chính vì vậy, chúng
tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng hệ thống nẹp vít tự tiêu trong
điều trị gãy xương hàm mặt” nhằm hai mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu kết quả áp dụng hệ thống nẹp vít tự tiêu điều trị các loại
gãy xương hàm mặt.
2. Đánh giá kết quả điều trị gãy xương hàm mặt bằng hệ thống nẹp vít tự
tiêu từ đó bước đầu đưa ra chỉ định áp dụng và qui trình kỹ thuật điều trị
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các bệnh nhân bị gãy xương vùng hàm mặt, đến điều trị tại bệnh
viện Việt Đức, bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương và bệnh viện E.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
• Được chẩn đoán là gãy xương hàm mặt
4
• Đã có đầy đủ các xét nghiệm chẩn đoán xác định và loại trừ (đường
huyết, ure máu, công thức máu, nhóm máu, máy chảy, máu đông,
HbsAg, HIV, X-quang thông thường, CT Scanner …)
• Hợp tác tốt với thầy thuốc để theo dõi sau điều trị
• Có chỉ định điều trị phẫu thuật kết hợp xương vùng hàm mặt
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân:
• Bệnh nhân không hợp tác
• Gãy nát, phức tạp xương vùng hàm mặt, không có chỉ định điều trị
bằng nẹp vít
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Số liệu được thu thập, nhập trên phần mềm Epi info 6.04, làm sạch và
được phân tích trên phần mềm SPSS 16.0
- Kết quả nghiên cứu được phân tích và được trình bày theo bảng đơn,
bảng 2 biến số và các biểu đồ
- Test kiểm định giả thuyết với giá trị p được sử dụng nhằm xem xét sự
khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm can thiệp và đối chứng. Giá trị
p được sử dụng theo p
yates
sử dụng cho mẫu nghiên cứu nhỏ được áp dụng
trong nghiên cứu này.
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu và hồ sơ đạo đức trong nghiên cứu được Hội
đồng chấm đề cương và đạo đức của Bộ Y tế xét duyệt nhằm đảm bảo tính
khoa học và khả thi của đề tài
- Bệnh nhân được giải thích về mục đích của nghiên cứu, quyền lợi khi
tham gia nghiên cứu và đồng tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. Bản cam
6
kết tự nguyện tham gia nghiên cứu được bệnh nhân ký vào trước khi phẫu
thuật.
- Bệnh nhân hoàn toàn có quyền từ chối tham gia nghiên cứu và không
bị phan biệt đối xử trong chẩn đoán và điều trị
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong số 72 bệnh nhân bị gãy GMCT, xương hàm trên và xương hàm
dưới có đủ tiêu chuẩn để tham gia nghiên cứu. Số bệnh nhân này được phân
chia vào 2 nhóm: nhóm can thiệp (32 bệnh nhân) và nhóm đối chứng (40
bệnh nhân).
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Tỷ lệ áp dụng phương pháp phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít tự
tiêu trong nhóm bệnh nhân nam (42,9%) thấp hơn so với phương pháp phẫu

kết hợp xương bằng nẹp vít tự tiêu đều thấp hơn so với phương pháp nẹp vít
Titanium. Sự khác biệt này là không mang ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm sử dụng nẹp vít tự tiêu có các triệu chứng trước
phẫu thuật là mất liên tục xương (33,3%), mờ xoang hàm (33,3%) và mất liên
tục xương - mờ xoang hàm (42,9%) trên phim X-quang đều thấp hơn tỷ lệ này
ở nhóm sử dụng nẹp vít Titanium (lần lượt là 66,7%, 66,7% và 57,1%). Sự
khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
8
3.2.2. Phân loại gãy xương GMCT và hàm trên ở 2 nhóm bệnh nhân sử
dụng nẹp
Tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm sử dụng nẹp vít tự tiêu có vị trí gãy xương bên
trái (41,7%) và bên phải (40,0%) đều thấp hơn tỷ lệ này ở nhóm có sử dụng
nẹp vít Titanium (lần lượt là 58,3% và 60,0%). Tuy nhiên sự khác biệt này là
không mang ý nghĩa thống kê. Không có trường hợp bệnh nhân nào ở 2 nhóm
bị gãy xương GMCT ở cả 2 bên.
Tỷ lệ gãy thân xương gò má không di lệch và bị gãy thân xương gò má
không bị xoay ở nhóm bệnh nhân sử dụng nẹp vít tự tiêu (đều là 33,3%) thấp
hơn nhóm bệnh nhân có sử dụng nẹp vít Titanium (đều là 66,7%). Tỷ lệ gãy
thân xương gò má xoay ra ngoài ở nhóm bệnh nhân sử dụng nẹp vít tự tiêu
(60,0%) lại cao hơn tỷ lệ này ở nhóm bệnh nhân sử dụng nẹp vít Titanium
(40,0%). Tuy nhiên các sự khác biệt này đều không mang ý nghĩa thống kê
với p>0,05.
ỷ lệ bệnh nhân gãy xương gò má đơn thuần có sử dụng nẹp vít tự tiêu
(33,3%) thấp hơn tỷ lệ sử nẹp vít Titanium trong phẫu thuật (66,7%). Trong
khi đó, cả 2 bệnh nhân (100%) gãy xương GMCT và hàm trên đều được kết
hợp xương bằng nẹp vít tự tiêu; và không có bệnh nhân gãy xương GMCT và
hàm trên nào sử dụng nẹp vít Titanium trong phẫu thuật. Tuy nhiên, sự khác
biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Tỷ lệ sử dụng nẹp vít tự tiêu trong nhóm các bệnh nhân có gãy chồng
mảnh gãy ở cung tiếp và gãy cung tiếp có mảnh gãy rời thứ 3 đều chiếm tỷ lệ

sự khác biệt này đều không mang ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Tỷ lệ gãy xương hàm dưới 1 đường ở nhóm nẹp vít tự tiêu là 29,4%
thấp hơn tỷ lệ này ở nhóm nẹp vít Titanium (70,6%). Trong khi đó, tỷ lệ gãy
10
xương hàm dưới 2 đường ở nhóm nẹp vít tự tiêu (76,2%) lại cao hơn so với ở
nhóm nẹp vít Titanium (23,8%). Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với
p<0,05.
3.3. Đánh giá kết quả điều trị gãy xương gò má cung tiếp và hàm trên
bằng hệ thống nẹp vít tự tiêu
3.3.1. So sánh kết quả điều trị gãy xương gò má cung tiếp và hàm trên
bằng hệ thống nẹp vít tự tiêu và nẹp vít Titanium
3.3.1.1. Đánh giá kết quả điều trị về phục giải phẫu theo thời gian.
Kết quả điều trị về mặt giải phẫu bằng phẫu thuật kết hợp xương với nẹp
vít tự tiêu trước khi ra viện, sau mổ 6 tuần và sau mổ 3 tháng đều ở mức độ
tốt (chiếm tỷ lệ 100%) cao hơn kết quả điều trị với Titanium với 90% ở mức
độ tốt tại cả 3 thời điểm. Cả 2 phương pháp đều không có kết quả điều trị kém
theo thời gian. Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với p
yates
>0,05.
3.3.1.2. Đánh giá kết quả điều trị về mặt chức năng theo thời gian
Kết quả điều trị về chức năng với phương pháp sử dụng nẹp vít tự tiêu
đạt kết quả tốt trước khi ra viện chiếm 14,3%, thấp hơn so với 20% đạt chức
năng tốt trước khi ra viện ở nhóm sử dụng nẹp vít Titanium. Sau mổ 6 tuần
bằng nẹp vít tự tiêu thì chức năng tốt chiếm 71,5% cao hơn so với nhóm nẹp
vít Titanium. Sau mổ 3 tháng cả 2 phương pháp sử dụng nẹp vít tự tiêu và nẹp
vít Titanium đều đạt mức độ tốt (100 %). Không có kết quả kém ở cả 3 thời
điểm trước khi ra viện, sau mổ 6 tuần và sau mổ 3 tháng. Không có sự khác
biệt mang ý nghĩa thống kê với p
yates
>0,05.

- Hai đầu gãy có tiếp xúc tốt, di lệch dưới 1mm: Tốt
- Tiếp xúc hai đầu gãy có di lệch từ 1-2 mm: Khá
- Hai đầu gãy có sự di lệch trên 2mm: Kém
Cả 26 trường hợp điều trị bằng nẹp vít tự tiêu và 30 trường hợp điều trị
bằng nẹp vít titanium đều cho kết quả tốt về sự tiếp xúc giữa 2 đầu xương gãy
ngay sau điều trị (đều đạt 100%). Sau 3 tháng điều trị, tỷ lệ đạt kết quả tốt về
12
tiếp xúc giữa 2 đầu xương gãy ở nhóm nẹp vít tự tiêu (96,2%) cao hơn nhóm
điều trị bằng nẹp vít Titanium (93,3%). Có một trường hợp nẹp vít tự tiêu đạt
kết quả khá ở tháng thứ 3 sau điều trị (3,8%) thấp hơn kết quả khá ở nhóm
dùng nẹp vít Titanium ở cùng thời điểm (6,7%). Không có trường hợp nào có
kết quả kém tại các thời điểm điều trị ở cả 2 nhóm bệnh nhân. Không có sự
khác biệt mang ý nghĩa thống kê với p
yates
>0,05.
3.3.2.2. Sự liền xương
Sự liền xương đánh giá trên phim Xquang ở tháng thứ 3 sau phẫu thuật
với các mức độ:
- Can xương hình thành, không thấy rõ đường gián đoạn: Tốt
- Can xương hình thành, vẫn thấy đường gián đoạn: Khá
- Can xương không tốt, hình thành khớp giả: Kém
Sau 3 tháng điều trị ở nhóm bệnh nhân sử dụng nẹp vít tự tiêu có 22
bệnh nhân đạt kết quả liền xương tốt chiếm tỷ lệ 84,6%, cao hơn kết quả này
ở nhóm dùng nẹp vít Titanium (83,3%). Tỷ lệ bệnh nhân có kết quả liền
xương mức độ khá sau 3 tháng điều trị ở nhóm dùng nẹp vít tự tiêu (15,4%)
thấp hơn ở nhóm dùng nẹp vít Titanium (16,7%). Ở cả 2 nhóm được điều trị
với nẹp vít tự tiêu và nẹp vít Titanium đều không có trường hợp bệnh nhân
nào có kết quả liền xương ở mức độ kém sau 3 tháng điều trị. Không có sự
khác biệt mang ý nghĩa thống kê với p
yates

dùng nẹp vít tự tiêu sau 3 tháng điều trị chiếm 7,7% (gặp ở hai trường hợp có
gãy cổ lồi cầu), thấp hơn tỷ lệ 13,3% bệnh nhân có kết quả điều trị khá ở
nhóm dùng nẹp ví Titanium sau 3 tháng phẫu thuật (gặp ở những bệnh nhân
có gãy lồi cầu và góc hàm). Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê
với p
yates
>0,05.
14
3.3.2.5. Đánh giá về tiêu chuẩn thẩm mỹ
Tiêu chuẩn thẩm mỹ được đánh giá vào các thời điểm: 1 tháng, 3 tháng
sau điều trị.
Để đánh giá tiêu chuẩn thẩm mĩ có các mức độ sau:
- Mặt cân đối, xương và phần mền không biến dạng: Tốt
- Mặt cân đối, xương và phần mền biến dạng không đáng kể: Khá
- Mặt không cân đối, xương và phần mền biến dạng rõ: Kém
Kết quả thu được theo bảng dưới đây:
Sau 1 tháng kết quả điều trị về tiêu chuẩn thẩm mỹ ở cả 2 nhóm dùng
nẹp vít tự tiêu (kết quả tốt: 88,5%, khá: 11,5%) và nẹp vít Titanium (kết quả
tốt: 86,7%, khá: 13,3%) là tương tự nhau. Sau 3 tháng, nhóm dùng nẹp vít tự
tiêu có kết quả điều trị về thẩm mỹ tốt chiếm 96,2% cao hơn ở nhóm nẹp vít
Titanium (93,3%). Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với
p
yates
>0,05.
3.3.2.6 Kết quả cuối cùng
Kết quả này được đánh giá ở tháng thứ 12 sau điều trị. Nó được đánh
giá theo tiêu chuẩn giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ với các mức độ tốt, khá
và kém.
Về mặt giải phẫu: Nhóm bệnh nhân áp dụng điều trị bằng nẹp vít tự
tiêu có kết quả tốt là 96,2% và kết quả khá là 3,8%, không có trường hợp nào

• Qui trình kỹ thuật cơ bản khi áp dụng hệ thống nẹp vít tự tiêu
dựa trên qui trình của hãng và chi tiết từng bước có sự khác biệt
so với kĩ thuật đặt bằng nẹp vít titanium. Quá trình đặt nẹp vít tự
tiêu được phân tích, cải tiến (hoạt hóa nẹp) nhằm dễ áp dụng tùy
theo điều kiện trang thiết bị từng nơi.
• Nẹp vít không mang tính kim loại do đó không dẫn nhiệt, không
tích nhiệt, không cản quang, không gây nhiễu, không gây cản trở
trong việc tạo ảnh khi chụp phim Xquang. Giảm thiểu chấn
thương cho bệnh nhân và giảm chí phí, quá tải bệnh viện.
• Hiệu quả của hệ thống nẹp vít tự tiêu điều trị các loại gãy xương hàm mặt
16
• Khả năng phát triển xương ở trẻ em như trong các điều trị vùng
sọ mặt bình thường, không ảnh hưởng đến quá trình xạ trị điều
trị ung thư đầu mặt cổ. Những bệnh nhân dùng nẹp tự tiêu sau
này không cần phải lấy bỏ nẹp vít ra cùng với sự phát triển
xương vùng sọ mặt không làm ảnh hưởng đến quá trình liền
xương và là một trong các phương pháp được áp dụng và nghiên
cứu ở một số các quốc gia trên thế giới.
4.2. Đánh giá kết quả điều trị gãy xương hàm mặt bằng hệ thống nẹp vít
tự tiêu từ đó đưa ra chỉ định áp dụng và qui trình kỹ thuật điều trị
Kết quả điều trị gãy xương vùng hàm mặt bằng nẹp vít tự tiêu có kết
quả tốt.
• Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả điều trị sau phẫu thuật là
tốt: ở nhóm gãy xương hàm dưới, số bệnh nhân áp dụng điều trị
bằng nẹp vít tự tiêu có kết quả tốt là 96,2%; ở nhóm gãy GMCT
hàm trên, sau mổ 3 tháng có kết quả điều trị tốt đạt 100%. Không
có sự khác biệt giữa phương pháp kết hợp xương bằng nẹp vít tự
tiêu và nẹp vít titanium.
• Chỉ định điều trị phẫu thuật bằng nẹp tự tiêu trong nghiên cứu này
bước đầu nên dùng cho những trường hợp gãy xương ít di lệch,

32 bệnh nhân được phẫu thuật bằng
nẹp vít tự tiêu, nhóm đối chứng gồm
40 bệnh nhân được phẫu thuật bằng
30 bệnh nhân được phẫu thuật bằng
nẹp vít tự tiêu và 30 bệnh nhân được
phẫu thuật bằng nẹp vít titanium
18
nẹp vít Titanium.
Thực hiện đúng các qui trình kỹ thuật
kết hợp xương bằng nẹp vít tự tiêu
Qui trình kỹ thuật kết hợp xương
bằng nẹp vít tự tiêu với các bước kỹ
thuật rõ ràng chính xác
Đưa ra được những chỉ định sử dụng
nẹp vít tự tiêu.
Ngoài ra đưa ra được các ưu nhược
điểm của nẹp vít tự tiêu dùng trong
phẫu thuật
Chỉ định sử dụng nẹp vít tự tiêu trong
chấn thương
Đào tạo 1 NCS
1
2 luận văn BSCKII
2
1 luận văn tốt nghiệp đại học
1 luận văn thạc sỹ
1 luận án tiến sỹ
3 bài báo trên tạp chí quốc gia
3
Một số bài báo dăng trên tạp chí trong

phối hợp với các tổn thương phần mềm, mạch máu, thần kinh; nhất là khi có
liên quan đến chấn thương sọ não hoặc chấn thương phối hợp với các bộ phận
khác của cơ thể.
Theo thống kê trên thế giới trong những thập niên vừa qua, chấn
thương hàm mặt nói chung có xu hướng ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam,
những nghiên cứu gần đây cho thấy gãy xương hàm trên chiếm 34,9% trong
số chấn thương hàm mặt và gãy xương hàm dưới chiếm tỷ lệ từ 34% đến
63%. Nguyên nhân của chấn thương phổ biến là do tai nạn giao thông, tai nạn
lao động, tai nạn trong hoạt động thể thao, đánh nhau, té ngã Lứa tuổi bị
chấn thương cao nhất từ 21-30 (38,1%), các lứa tuổi khác chiếm tỷ lệ thấp
hơn: dưới 10 (1,4%), 11- 20 (16,2%), 31-40 (21,6%), 41-50(14%), 51-60
(5,4%) và từ 60 trở lên (3,3%). Tỷ lệ bị chấn thương nam gấp 4,5 lần nữ.
Nguyên nhân chấn thương do tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất (73,2%),
tiếp theo là tai nạn sinh hoạt (21,1%), tai nạn lao động (3%), tai nạn do hoạt
động thể thao (1,7%). [8]
Hiện nay trên thế giới, nẹp vít tự tiêu một giải pháp tốt vừa kế thừa
được ưu điểm của nẹp vít thông thường vừa khắp phục được nhược điểm phải
tháo bỏ nẹp vít tránh cho bệnh nhân phải tiến hành một phẫu thuật lần 2 vừa
tốn kém tiền bạc, thời gian cũng như để lại những sẹo xấu, ảnh hưởng đến
1
thẩm mỹ và tâm lý của bệnh nhân sau này. Ngoài ra, nẹp tự tiêu có thể đóng
vai trò tương đương với các tổ chức khi những liệu pháp xạ trị sau phẫu thuật
được tiến hành. Ích lợi khác của nẹp vít tự tiêu là khả năng thấu quang, thuận
lợi cho chẩn đoán hình ảnh sau phẫu thuật. Ở các bệnh nhân nhi, vấn đề điều
trị chấn thương và phẫu thuật chỉnh hình trở nên dễ dàng hơn vì chúng không
ngăn cản sự phát triển của xương, việc kết hợp xương bằng nẹp vít đã được
nghiên cứu phát triển hết sức đa dạng về phương pháp và vật liệu và có chỉ
định thường quy. Nẹp vít tự tiêu (biodegradable plate, screw) xuất hiện đầu
tiên tại Mỹ đầu thập kỷ 90 của Thế kỷ XX đang có triển vọng là một hướng
đột phá trong điều trị chấn thương.

1.1.1.1 Trên thế giới:
-Từ thế kỷ XVII trước công nguyên đến thế kỷ XI sau công nguyên, một
số tác giả như Sushruta (Ấn Độ), Celsus (La Mã) đã mô tả từ những phương
pháp điều trị bảo tồn như dùng sức nóng hỗ trợ nắn chỉnh bằng tay và cố định
hàm bằng hệ thống băng bó phức tạp. Avicenna (Ba Tư) cách đây 1000 năm
đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của khớp cắn trong điều trị những thương
tổn hàm mặt [27]
-Năm 1886 Hansman là người đầu tiên phát minh và sử dụng nẹp vít thô
sơ để kết hợp xương gãy. Về sau nó được Lambotte, Lane và Sherman cải
tiến hơn về độ cứng chắc và tương hợp mô [27]
-Theo y văn Pháp, năm 1901 Renés Lefort tiến hành nghiên cứu thực
nghiệm trên thỏ và mô tả 3 đường gãy cơ bản sọ mặt của xương hàm trên L1,
L2, L3. Hiện nay trên thế giới, các phẫu thuật viên hàm mặt đang áp dụng
rộng rãi cách phân loại này vào chẩn đoán và tiên lượng xử trí các chấn
thương hàm mặt.
-Năm 1958, tại một cuộc họp của các nhà chấn thương học tại Thụy Sỹ.
Tổ chức AO/ASIF (Arbeitsgemenschaft fur Osteosynthesefragen/ Swiss
Association for the Study of Internal Fixation) ra đời. Tổ chức này đã đặt ra
những nguyên tắc trong điều trị đảm bảo cho việc liền xương tối ưu: trong đó
có nguyên tắc tạo sức ép đầu gãy trong kết hợp xương mà về sau được các
phẫu thuật viên hàm mặt công nhận và áp dụng rộng rãi [24]
4
-Năm 1968, Luhr phát minh ra hệ thống nẹp vít tạo sức ép đầu gãy dùng
những nẹp có lỗ trượt lệch tâm và những vít có mũ vít hình nón. Đây là hệ
thống nẹp vít thương mại đầu tiên trên thế giới dùng cho vùng hàm mặt [24]
-Những phát triển tiếp theo của Champy và Michelet ở đầu thập kỷ 70
đã đưa ra những nẹp vít có kích thước nhỏ hơn với phương pháp kết hợp
xương bằng nẹp nhỏ và cực nhỏ (miniplate và microplate) với vít bắt một bản
xương (monocortical plate) [24]
1.1.1.2 Tại Việt Nam:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status