1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát
từ yêu cầu thực tế và những đòi hỏi trong công việc để hình thành hướng nghiên
cứu luận án. Luận án nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước
đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam” được thực hiện bằng các số
liệu nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả
nghiên cứu là trung thực chưa từng được tập thể và cá nhân nào công bố trước đây.
NGHIÊN CỨU SINH
Nguyễn Đức Tài
`
2
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH, BIỂU, BẢNG, HỘP
MỞ ĐẦU
Trang 1
2
5
7
8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
14
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và khuôn khổ pháp lý
1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử
1.1.2 Các loại hình giao dịch trong thương mại điện tử
1.1.3 Vai trò của các chủ thể trong việc phát triển thương mại điện tử
1.1.4 Thách thức và ảnh hưởng của thương mại điện tử
1.1.5 Khuôn khổ về pháp lý cho thương mại điện tử
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM
BẢO SỰ AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
70
`
3
2.1 Tổng quan các quy định pháp luật về hoạt động quản lý TMĐT
2.1.1 Khung pháp lý quản lý hoạt động thương mại điện tử
2.1.2 Các quy định liên quan đến giao dịch điện tử trong các văn bản
pháp luật về dân sự- thương mại
2.1.3 Các quy định về giao dịch điện tử và công nghệ thông tin
2.1.4 Một số các quy định về thuế, kế toán trong giao dịch điện tử
2.2 Thực trạng về chính sách quản lý đảm bảo an toàn TMĐT tại
doanh nghiệp
2.2.1 Thực trạng chính sách phát triển hạ tầng CNTT & Internet
2.2.2 Bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ thông tin cá nhân
2.2.3 Nguồn nhân lực trong quản lý TMĐT tại doanh nghiệp
2.2.4 Đầu tư cho CNTT và TMĐT của doanh nghiệp
2.2.5 Một số những trở ngại trong việc ứng dụng TMĐT
2.2.6 Kiến nghị từ phía doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý
2.3 Thực trạng về hạ tầng liên quan đến an toàn trong TMĐT
2.3.1 An toàn thông tin mức hạ tầng
2.3.2 An toàn thông tin mức ứng dụng
2.3.3 An toàn dữ liệu trong các giao dịch điện tử
2.3.4 Các mối đe dọa an toàn thông tin điển hình trong giao dịch
2.3.5 Một số chính sách, cơ chế, biện pháp quản lý đảm bảo an toàn
2.3.6 Các chính sách tự bảo vệ của doanh nghiệp
2.3.7 Giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử
2.3.8 Thống kê thương mại điện tử
2.3.9 Một số quy định được áp dụng trong thương mại điện tử
2.4 Đánh giá tổng quát hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU LỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
137
3.1 Dự báo phát triển, cảnh báo nguy cơ đe dọa an toàn trong TMĐT
3.1.1 Xu thế phát triển thương mại điện tử trên thế giới
3.1.2 Dự báo về nhu cầu thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam
3.1.3 Dự báo các nhân tố tác động tới sự phát triển thương mại điện tử
trong tương lai và các mối đe dọa an ninh an toàn thông tin điển hình
3.2 Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử
3.2.1 Quan điểm, mục tiêu về công tác quản lý nhà nước
3.2.2 Yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước đảm bảo an toàn
3.2.3 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn
3.3 Một số giải pháp, khuyến nghị về chính sách quản lý TMĐT
3.3.1 Nâng cao hiệu lực, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực thực thi
quản lý nhà nước đảm bảo an toàn
3.3.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước
3.3.3 Đối với các doanh nghiệp
3.3.4 Đối với người tiêu dùng
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
137
137
138
140
145
145
Bách khoa Hà Nội
eC/O Electronic Certificate of Origin Chứng nhận xuất xứ điện tử
C2C Consumer to Consumer Giao dịch thương mại điện tử giữa cá
nhân với cá nhân
CNTT Information Technology Công nghệ thông tin
CP Content Provider Nhà cung cấp dịch vụ nội dung
Ecombiz Forum e-commerce Expo Viet
Nam
Diễn đàn Triển lãm Thương mại điện
tử Việt Nam
eCoSys E-Certificate of Origin System Hệ thống cấp chứng nhận xuất xứ điện
tử
EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử
ERP Enterprise Resources Planning Giải pháp hoạch định nguồn lực
doanh nghiệp
FTA Free Trade Area Hiệp định Khu vực thương mại tự do
`
6
G2B Government to Business Giao dịch thương mại điện tử giữa
chính phủ, doanh nghiệp
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa
GO Game Online Trò chơi trực tuyến
ICANN Organization of International
domain names
Tổ chức tên miền quốc tế
IP Internet Protocol Giao thức Internet
ISP Internet Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ Internet
IXP Internet Provider Dịch vụ kết nối Internet
OSP Online Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến
DBMS Database Management System Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Hộp 2.4 Những hành vi xâm phạm đến quyền lợi người tiêu dùng trong
TMĐT
Hộp 2.5 Các hành vi tội phạm về CNTT tại Bộ Luật hình sự năm 1995
Hộp 2.6 Các hành vi tội phạm về CNTT và TMĐT trong Luật sửa đổi, bổ
sung Bộ luật hình sự năm 2009
Hình 2.3 Tần suất sử dụng Internet của hộ gia đình tại Hà Nội năm 2010
Hình 2.4 Các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin quy mô doanh nghiệp
Hình 2.5 Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về TMĐT theo các lĩnh vực
Hình 2.6 Thống kê của VNISA về các hình thức tấn công Internet
Hình 2.7 Thống kê của VNISA về công nghệ đảm bảo an toàn
Hình 2.8 Các tấn công mà tổ chức gặp phải kể từ tháng 1/2008
Hình 2.9 Kết quả thăm dò hoạt động gửi tin nhắn rác
Hộp 2.7 Một số quy định liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân
Hình 2.10 Đánh giá mức trở ngại với ứng dụng TMĐT 2010
58
70
73
74
75
77
84
85
88
90
93
94
96
105
106
107
trộm cắp mật khẩu, chiếm quyền truy nhập địa chỉ các thư điện tử, lừa đảo trực
tuyến hoặc lắp đặt các thiết bị theo dõi các thông tin cá nhân trên hệ thống ATM để
sản xuất thẻ giả nhằm chiếm đoạt tiền hoặc thanh toán mua hàng bất hợp pháp.
`
9
Nguy hiểm hơn, do cạnh tranh không lành mạnh, giới tội phạm công nghệ cao có
thể đánh sập các trang web hay các sàn giao dịch thương mại điện tử.
Đặt trong thực trạng các điều kiện để hình thành Chính phủ điện tử tại Việt
Nam, tội phạm công nghệ cao trên môi trường mạng vẫn tiếp tục gia tăng với xu
hướng có tính quốc tế rõ rệt, việc tấn công cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước,
e-banking, các công ty thương mại điện tử liên tục xảy ra. Số lượng lớn các vụ tấn
công gây thiệt hại về kinh tế nhưng rất khó ước tính cũng trở thành mối đe doạ cho
sự cạnh tranh, phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, sự phổ biến của web 2.0 với các
mạng xã hội như Facebook, Twitter… cũng làm nảy sinh hàng loạt thách thức cho
đảm bảo an toàn thông tin và giao dịch trực tuyến đối với người dùng cá nhân trong
các tổ chức, doanh nghiệp. Trong thời gian qua, Cục An ninh thông tin truyền
thông, Tổng cục an ninh II, Bộ Công An đã phát hiện một số trang web trên mạng
Internet bán hàng loạt thông tin cá nhân, cụ thể là họ tên, tuổi, nơi làm việc, địa chỉ,
số điện thoại di động của cả trăm nghìn người, hành vi này có dấu hiệu vi phạm
điều 226 Bộ Luật hình sự. Trước một loại hình tội phạm rất mới này, Tổng cục An
ninh II kiến nghị xử lý và đẩy mạnh việc kiểm soát các băng nhóm phạm pháp hình
sự tiến hành mua bán thông tin cá nhân trên mạng Internet để sử dụng trong mục
đích phạm tội như: tống tiền, đe dọa, ăn cắp… Bên cạnh đó là những lo lắng về vấn
đề bảo mật, về an ninh, an toàn trong thanh toán trực tuyến qua ngân hàng khi tiến
hành giao dịch thương mại điện tử khiến cho các chủ thể tham gia trở thành nạn
nhân của gian lận trực tuyến và mất an toàn thông tin. Mỗi sự cố, dù là nhỏ nhưng
qua các phương tiện truyền thông sẽ lan tỏa và làm giảm lòng tin của khách hàng.
Trước những nguy cơ, rủi ro về sự mất an toàn trong thương mại điện tử, cần
thiết phải hoàn chỉnh khung pháp lý đủ mạnh, các biện pháp thực thi có hiệu quả,
các công tác thanh, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nhằm xử lý, răn đe, phòng ngừa
thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong
thương mại điện tử thì chưa có nhiều. Một số công trình nghiên cứu thương mại
điện tử về bảo mật, an toàn và pháp lý đã được biết tới như: Báo cáo đề tài nhánh
KC01-05 của Ban cơ yếu Chính phủ năm 2004: “Nghiên cứu, xây dựng giải pháp
bảo mật thông tin trong thương mại điện tử”. Đề tài: “Pháp luật về thương mại điện
`
11
tử tại Việt Nam: thực trạng và một số khuyến nghị” do Tiến sĩ Nguyễn Anh Sơn –
Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương. Công trình: “Luật thương mại quốc
tế, các văn bản nền tảng của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế
của UNCITRAL. Sách kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Thương mại điện tử và
phát triển nguồn nhân lực” do Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Quyền- Phó Cục trưởng Cục
Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin chủ biên. Các công trình nghiên cứu về
thương mại điện tử hiện nay có nhiều nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về
hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử.
Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật giao dịch điện tử, Luật Công nghệ
thông tin, Quốc hội khóa XII thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng. Trên cơ sở
đó, Chính phủ cũng phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử
2006-2010 (Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg), giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số
1073/ QĐ-TTg) để xác định rõ kế hoạch thực hiện triển khai thương mại điện tử ở
Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu như trên có thể đánh giá rằng cần thiết
phải có những nghiên cứu cụ thể đánh giá về tính hiệu lực công tác quản lý nhà
nước để đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử. Với mong muốn đi sâu nghiên
cứu vấn đề đó đồng thời dự báo sự phát triển thương mại điện tử, quản lý nhà nước
một cách hiệu lực nhằm đảm bảo an toàn, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Giải pháp
nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở
Việt Nam” để nghiên cứu luận án tiến sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở khoa học, lý luận về hiệu
lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam từ đó
mại điện tử kể từ năm 2000 cho đến nay. Khi đề xuất các giải pháp, luận án lấy mốc
từ năm 2005- Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 được Quốc hội thông qua
ngày 29/11/2005 đồng thời cũng là năm Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch
tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số
222/2005/QĐ-TTg, ngày 27/12/2005 căn cứ theo Chỉ thị số 58/CT-TW, ngày
17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh và ứng dụng công nghệ thông tin trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
`
13
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh ứng dụng đồng thời và hài hòa những
phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong kinh tế chính trị như: Phương pháp duy vật
biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin.
Trong đó, chú trọng sử dụng các phương pháp để thu thập số liệu như:
Phương pháp điều tra, khảo sát đánh giá thực tiễn, nghiên cứu định tính; Phương
pháp thống kê, so sánh, diễn giải, quy nạp, phân tích và phỏng vấn sâu chuyên gia.
Do lượng thông tin dàn trải, vấn đề nghiên cứu mới, khá phức tạp, đa phần
tính pháp lý, thương mại cùng kết hợp với công nghệ, hơn nữa các tài liệu nhiều và
phân tán, việc thu thập thông tin, tài liệu có khó khăn nên việc phân tích các số liệu
chủ yếu dựa trên các phân tích thông tin mang tính chất định tính được thu thập qua
nghiên cứu thực địa và phỏng vấn sâu các chuyên gia về vấn đề này.
6. Những đóng góp mới của luận án
Là một công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về hiệu lực
quản lý nhà nước nhằm đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam, luận
án có những đóng góp sau: Thứ nhất là, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về cơ sở
lý luận quản lý nhà nước, hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu quả của pháp lý tạo sự
chuyển biến sâu về an toàn trong giao dịch. Thứ hai là, phân tích và làm rõ nội hàm
của phạm trù: “An toàn trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam” cùng thực
trạng về hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt
Nam, giai đoạn 2006-2012. Thứ ba là, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực
mua và người bán đã nhanh chóng áp dụng công nghệ này tạo ra những giao dịch
nhanh chóng, thuận tiện, không bị giới hạn bởi thời gian, khoảng cách địa lý, địa
điểm giao dịch. Do đó, công nghệ thông tin mà nền tảng là Internet đã đem lại nhiều
yếu tố thuận lợi để thay đổi phương thức giao dịch cũ tạo ra một chương mới trong
lịch sử thương mại, đó là một thành quả công nghệ sẽ được ứng dụng rộng rãi trong
tương lai của ngành thương mại điện tử.
Hiện nay, ngoài Inetrnet, các phương thức truyền dẫn khác cũng là môi
trường cho sự phát triển của thương mại điện tử. Ví dụ: Truyền hình cáp trả tiền,
`
15
truyền hình kỹ thuật số mặt đất, công nghệ viễn thông 3G… Thương mại điện tử ra
đời đã và đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện các dịch vụ của mình trên Internet
theo các mục đích kinh doanh khác nhau: trò chuyện trực tuyến, video trực tuyến,
mở gian hàng ảo trưng bày sản phẩm, trao đổi đàm phán qua thư điện tử, ký hợp
đồng mua bán có sử dụng chữ ký điện tử, thanh toán trực tuyến quốc tế các dịch vụ
sau bán hàng. Thương mại điện tử cũng góp phần thúc đẩy số người sử dụng
Internet tạo ra một môi trường mới cho thương mại, điều đó phát sinh nhu cầu thực
tế về việc nghiên cứu thói quen tiêu dùng theo nhóm người, độ tuổi, nghiên cứu thị
trường trên mạng…Internet ra đời cho khả năng kết nối rộng rãi, với chi phí thấp
hơn nhiều so với các mạng chuyên dụng trước kia tạo ra những thuật ngữ và khái
niệm khác nhau để mô tả phương thức mua bán qua mạng. Buôn bán qua phương
tiện điện tử, buôn bán trong không gian điều khiển học, thương mại không cần giấy,
thương mại điện tử, kinh doanh điện tử. Mỗi thuật ngữ đều phản ảnh một khía cạnh
của một phương thức kinh doanh thương mại mới trên cơ sở là nền tảng kỹ thuật
công nghệ thông tin. Khái niệm thương mại điện tử là khái niệm được nhiều người
sử dụng nhất, nhiều những thuật ngữ khá cũng được sử dụng phản ảnh các khía
cạnh của khái niệm thương mại điện tử. Đó là các giao dịch B2B chỉ các giao dịch
giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, B2C chỉ giao dịch giữa doanh nghiệp và
người tiêu dùng, G2C chỉ giao dịch giữa các cơ quan chính phủ với người tiêu
dùng. Bán lẻ điện tử là một khái niệm trong thương mại điện tử chỉ doanh nghiệp áp
theo nghĩa rộng thì thương mại điện tử có thể được hiểu là các giao dịch tài chính và
thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử; chuyển tiền điện
tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được
thực hiện thông qua mạng Internet. Các tổ chức như: Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế đưa ra các khái niệm về thương mại điện
tử theo hướng này. Thương mại điện tử được nói đến ở đây là hình thức mua bán
hàng hóa được bày tại các trang Web trên Internet với phương thức thanh toán bằng
thẻ tín dụng. Có thể nói rằng Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách
mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người.
`
17
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: “Thương mại điện tử bao gồm việc sản
xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên
mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao
nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”.
Khái niệm về Thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của
Liên Hợp quốc đưa ra là: “Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao
dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”.
Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp
Thương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện
thông qua mạng Internet. Qua nghiên cứu các khái niệm về thương mại điện tử như
trên, hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các
phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm nay
như: điện thoại, fax, telex Theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử chỉ mới tồn tại
được khoảng thời gian chưa lâu nhưng nhờ tiến bộ công nghệ đã đạt được những
kết quả rất đáng quan tâm. Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua
mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ “Thương mại điện tử”. Ngoài ra, từ các
giác độ khác nhau, người ta có những khái niệm khác nhau về thương mại điện tử.
Từ góc độ viễn thông: “Là sự cung cấp thông tin sản phẩm, hàng hóa, dịch
cấp hàng hóa là dịch vụ công trong thương mại điện tử cũng là người quản lý điều
chỉnh các hoạt động thương mại điện tử thông qua hệ thống pháp luật.
Dưới đây là mối quan hệ tác động giữa các chủ thể với nhau trong môi
trường mạng máy tính hình thành các phạm trù giao dịch khác nhau trong thương
mại điện tử:
- Giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B): Đây là giao dịch mua
bán các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp trong quá trình sản
xuất kinh doanh kèm theo các dịch vụ tư vấn, bảo trì, nâng cấp sau bán hàng. Doanh
nghiệp cần lựa chọn nguồn hàng, đặt hàng từ các nhà cung cấp, nhận hóa đơn và
thanh toán. Các quá trình trên trước đây mất rất nhiều thời gian và nhân công do
phải làm việc, đàm phán và gặp mặt trực tiếp, nay toàn bộ quá trình trên đều có thể
thực hiện tại bất cứ đâu và vào bất cứ thời gian nào được cho là phù hợp với hai bên
`
19
thông qua mạng Internet. Điều này giúp giảm thiểu chi phí, tận dụng thời gian, nâng
cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thực tế, loại giao dịch này đã được sử
dụng từ nhiều năm ở các mức độ khác nhau, trước khi ra đời mạng Internet, ví dụ
như giao dịch thanh toán điện tử EDI đã được sử dụng trên các mạng riêng từ năm
1970 tại Mỹ. B2B giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí, lựa chọn đầu
vào tốt hơn, quản lý tốt việc cung tiêu hàng hóa, thay đổi nhanh sản phẩm mẫu mã,
đưa hàng ra thị trường. Sau này, xuất hiện website trung gian để các doanh nghiệp
giới thiệu, báo giá sản phẩm, tạo sân chơi mua bán hàng hóa, trang web này được
gọi là sàn giao dịch điện tử. Bên cạnh việc tạo ra một sân chơi cho các doanh
nghiệp thực hiện việc mua bán, sàn giao dịch có thể thực hiện các giá trị gia tăng
như cung cấp thông tin cần thiết do các doanh nghiệp tự quảng bá, tổ chức hội thảo,
cung cấp các nghiên cứu điều tra thị trường cho doanh nghiệp.
- Giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C): Đây là giao dịch
mà ở đó người tiêu dùng mua hàng trực tiếp và các doanh nghiệp thực hiện việc bán
lẻ qua mạng thông qua website của doanh nghiệp hoặc sàn giao dịch. Các giao dịch
B2C không chỉ dừng ở mục tiêu cung cấp sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng mà
- Giao dịch giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C): Đây là các giao
dịch giữa các người tiêu dùng có nhu cầu mua hoặc bán các hàng hóa dịch vụ mà
mình sở hữu. Thương mại điện tử cho phép thông qua website của cá nhân tổ chức
các sàn đấu giá. Các giao dịch dân sự như tìm việc, cho thuê nhà, cần thuê nhà, mua
bán ô tô, xe máy, sửa chữa đồ điện tử, gia dụng cũng được đưa lên mạng Internet
thông qua website cá nhân hoặc trung gian.
- Giao dịch giữa các cơ quan chính phủ (G2G): Đây là các giao dịch giữa
các cơ quan chính phủ giữa các ngành các cấp với nhau để trao đổi, quản lý thông
tin phục vụ công tác điều hành, quản lý vĩ mô. Đó là các giao dịch như các báo cáo
thống kê, xuất nhập khẩu, tra cứu đối chiếu thông tin, nhận, gửi, trả các công văn,
thông báo quyết định…Các giao dịch này là một bộ phận của Chính phủ điện tử.
1.1.3 Vai trò của các chủ thể tham gia thương mại điện tử
1.1.3.1 Vai trò của các doanh nghiệp
`
21
Doanh nghiệp đóng một vai trò chủ động, thúc đẩy thương mại điện tử phát
triển. Với đặc tính năng động, luôn tìm cách giảm thiểu chi phí, tối ưu hóa phương
thức hoạt động, nâng cao hiệu quả, tạo lợi thế cạnh tranh nên doanh nghiệp luôn
phải tìm tòi đổi mới các phương thức kinh doanh. Với điều kiện cơ sở hạ tầng thông
tin phát triển, kèm theo an ninh, an toàn, hạ tầng các doanh nghiệp sẽ nhận thức tốt
hơn về lợi ích của thương mại điện tử và từ đó nhanh chóng tìm hiểu nắm bắt công
nghệ tạo xu hướng tích cực đầu tư triển khai thương mại điện tử theo cách của
mình. Thương mại điện tử sẽ cung cấp cho doanh nghiệp thông tin phong phú về
các nhà sản xuất kinh doanh, thị trường đầu vào, đầu ra tiếp cận nhanh với các phản
hồi của khách hàng từ đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng chiến lược sản xuất kinh
doanh thích hợp với nhu cầu thị trường, thậm chí sản xuất theo đơn hàng nhằm
giảm thiểu chi phí tồn kho, đây là xu thế phát triển của ngành hàng trong khu vực và
thế giới. Thông qua thương mại điện tử, doanh nghiệp tìm kiếm nắm bắt được công
nghệ sản xuất mới, nhanh, tìm đối tác, nắm chắc thông tin thị trường từ đó tác động
lại quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động với mức chi phí phù hợp.
giao dịch thương mại là những vấn đề được nhà nước xem xét xây dựng thành bộ
luật để điều chỉnh các quan hệ giao dịch thương mại và người sử dụng dịch vụ.
Thương mại điện tử đòi hỏi một cơ sở hạ tầng pháp lý nhằm điều chỉnh các giao
dịch trong và ngoài nước.
Việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước còn thể hiện trong việc xây
dựng các dự án cụ thể để phát huy sức mạnh thúc đẩy phát triển thương mại công
nghệ cao. Đó là các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hạ tầng bằng các công cụ về
thuế, ưu đãi dự án của nhà nước trong từng thời kỳ để phát triển thương mại điện tử.
Thông qua các chính sách đó, nhà nước tạo ra những đòn bẩy tăng hiệu quả cho nền
kinh tế, cho doanh nghiệp và khiến người tiêu dùng tham gia tích cực hơn vào môi
trường thương mại điện tử.
1.1.3.3 Vai trò của người tiêu dùng trong phát triển thương mại điện tử
Người tiêu dùng trong thương mại điện tử là người trực tiếp sử dụng mạng
Internet để tìm kiếm mua hàng hóa. Số lượng cá nhân tham gia thương mại điện tử
`
23
luôn phụ thuộc vào số người sử dụng Internet. Lượng cá nhân tham gia thương mại
điện tử càng lớn thì mức độ xã hội hóa càng cao. Điều này tạo ra một thị trường
rộng lớn hơn cho các doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp thấy cần thiết khi lựa chọn
thương mại điện tử để thực hiện phân phối sản phẩm của mình. Chính vì thế, phát
triển số người tiêu dùng trong thương mại điện tử thực chất phụ thuộc vào sự phát
triển cơ sở hạ tầng viễn thông hiện đại và khả năng phủ rộng của mạng Internet.
Thương mại điện tử cho phép người tiêu dùng mua sắm mọi nơi, mọi lúc trên
khắp thế giới, không có giới hạn về không gian và thời gian. Người dùng được tiếp
cận nhiều lựa chọn về sản phẩm, dịch vụ, giá cả ở khắp mọi nơi trên thế giới với
chi phí thấp nhất. Thương mại điện tử cho phép các cá nhân tham gia có nhiều lựa
chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nguồn cung cấp. Do thông tin thuận tiện, dễ dàng
và phong phú hơn nên đa phần người tiêu dùng chỉ cần một cú nhấp chuột là có thể
so sánh giá cả giữa các nguồn hàng và từ đó tìm được mức giá phù hợp nhất. Đối
với các sản phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách điện tử, phần mềm,v.v việc
qua việc tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn qua Internet.
Việc học tập kinh nghiệm, kỹ năng,v.v… thông qua việc đào tạo qua mạng cũng trở
nên dễ dàng hơn. Thương mại điện tử cũng làm cho dịch vụ công được cung cấp
một cách thuận tiện. Các dịch vụ như y tế, giáo dục, các dịch vụ công của chính
phủ,v.v… được thực hiện qua mạng với chi phí thấp, thuận tiện. Việc tương tác để
cấp và được cấp các loại giấy phép qua mạng, tư vấn y tế,v.v là các ví dụ thành
công điển hình về lợi ích đối với xã hội của thương mại điện tử. Tuy nhiên, mặt trái
của nó là một xã hội với những người dân ít vận động, một số giới trẻ ham mê các
trò chơi trực tuyến, đôi khi việc truyền bá những tư tưởng, kiến thức không lành
mạnh cũng là một yếu tố khiến nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam buộc phải
dùng một số biện pháp cứng rắn hơn trong việc ngăn chặn nguy cơ. Điều này sẽ
được phân tích sâu hơn trong phần kiến nghị và giải pháp.
1.1.4 Thách thức và ảnh hưởng của thương mại điện tử
1.1.4.1 Thách thức của thương mại điện tử
`
25
Do sự phổ cập tạo nên tốc độ toàn cầu hóa nhanh chóng, việc áp dụng
thương mại điện tử không còn là điều tùy chọn mà là lựa chọn duy nhất lien quan
tới sự phát triển của nhiều doanh nghiệp. Thách thức lớn nhất mang yếu tố quyết
định tới sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam là việc Chính phủ ứng dụng
thương mại điện tử như thế nào dưới các quy định về luật pháp do chính mình đặt
ra, ngoài một số các rào cản tạo nên những thách thức đối với sự phát triển thương
mại điện tử ở Việt Nam. Những thách thức ngoài chính sách, pháp luật còn là độ tin
cậy của hệ thống bao gồm nhà cung cấp ứng dụng, cung cấp đường truyền, khả
năng chất lượng của thiết bị đầu cuối điều này là nhân tố quan trọng trong vấn đề
cảm nhận độ an toàn hay mức độ rủi ro mà xã hội chấp nhận được. Thứ hai là các
vấn đề liên quan tới nhân lực và trình độ nhân lực, các nhà quản lý lập trình hệ
thống để đưa ra những sản phẩm thương mại dễ sử dụng, tương tác tố, an toàn và
phòng ngừa rủi ro tới mức thấp nhất. Vấn đề nhân sự còn thể hiện ở việc xã hội hóa
đào tạo và tự đào tạo trong môi trường công nghệ nói riêng, điều này sẽ được đề cập