- 1 -
Lôøi Môû Ñaàu
I. Sự cần thiết của đề tài
Marketing với tư cách là khoa học và nghệ thuật trong kinh doanh đã và đang
được vận dụng phổ biến và mang lại thành công cho nhiều doanh nghiệp trên thế
giới. Đối với các điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, tổ chức và quản
lý hoạt động kinh doanh theo quan điểm Marketing đang ngày càng trở thành một đòi
hỏi cấp bách đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Thực tiễn hoạt động của các doanh
nghiệp Việt Nam cho thấy chúng ta còn phải nỗ lực rất nhiều để nhận thức đầy đủ và
sử dụng có hiệu quả các công cụ marketing hiện đại từ quan điểm, tư duy đến hành
động marketing.
Công ty TNHH điện tử Đô Thành là doanh nghiệp chuyên kinh doanh các mặt
hàng điện máy, điện gia dụng. Trong thời gian hoạt động mặc dù đã thu được những
thành tích đáng kể tuy nhiên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chưa cao. Đó là do
gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nên hoạt động marketing thực sự chưa
mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, em đã chọn đề tài “ Đánh giá hoạt động Marketing
của Siêu thị điện máy Đô Thành thông qua nghiên cứu khách hàng” làm đề tài cho
khóa luận tốt nghiệp.
II. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với đề tài này, em đã thông qua những nguồn thông tin quan trọng từ khách hàng
của công ty, từ đó tìm ra những ưu, nhược điểm, những nguyên nhân gây ra những
ưu, nhược điểm từ hoạt động Marketing mix . Đồng thời, em xin đưa ra một số giải
pháp chiến lược marketing cho công ty. Với phương pháp phỏng vấn khách hàng, em
đã tích lũy được những nguồn dữ liệu quan trọng, từ đó xử lý số liệu để có được
những kết quả đáng tin cậy.
- 2 -
III. Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hoạt động Marketing của Công ty qua nghiên cứu
khách hàng
- Mục tiêu cụ thể: giúp Công ty đưa ra một số giải pháp cho chiến lược Marketing
của Công ty
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Hồng
- 4 -
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
-------- --------
1.1 . NGHIÊN CỨU KHÁCH HÀNG - PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH
NGHIÊN CỨU
1.1.1. Nghiên cứu khách hàng:
Nghiên cứu khách hàng là nghiên cứu những hành vi mua sắm, nghiên cứu
các nhu cầu của khách hàng, nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh để thu thập và đánh
giá thông tin khách hàng từ đó tiến hành thiết kế sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng và
làm thoả mãn nhu cầu khách hàng.
1.1.2 . Các phương pháp nghiên cứu:
Để xây dựng kế hoạch nghiên cứu trước tiên ta phải tìm hiểu hai nguồn thông
tin phục vụ cho công việc nghiên cứu hiệu quả đó là nguồn thông tin thứ cấp và
nguồn thông tin sơ cấp.
Nguồn thông tin thứ cấp: Là nguồn thông tin có sẵn, nghiên cứu bằng cách
tiếp cận và lấy số liệu từ các bản theo dõi khách hàng của siêu thị, từ các nhân viên
và trên báo chí, chuyên san, nghiên cứu chuyên đề, sau đó tổng hợp và đưa ra ý kiến
chung.
Nguồn thông tin sơ cấp: Là nguồn thông tin có được khi ta phải tự trực tiếp đi
thu thập từ các đối tượng khách hàng đã sử dụng, đang sử dụng và những khách hàng
tương lai sẽ sử dụng dịch vụ của siêu thị, thông qua các cuộc điều tra, phỏng vấn trực
tiếp. Dựa theo tính chất nguồn thông tin thu thập được, nguồn thông tin này cũng
được chia làm hai loại đó là:
- Nghiên cứu định lượng : Bao hàm việc sử dụng các câu hỏi có cấu trúc sẵn cùng
các câu trả lời định sẵn để đối tượng chọn lựa, nhằm điều tra một số lớn đối tượng, từ
kết quả đó giúp ta đo lường được thị trường khách hàng như quy mô thị trường, độ
- 5 -
chính để thu thập dữ liệu sơ cấp bao gồm: quan sát, thảo luận và phỏng vấn.
+ Thu thập dữ liệu
Khi đã biết thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề nghiên cứu, nguồn của dữ liệu
đó cũng như cách thức thu thập chúng thì công việc tiếp theo là tiến hành thu thập dữ
liệu. Tùy vào mục đích nghiên cứu mà chúng ta xác định nên sử dụng loại dữ liệu
nào, sơ cấp hay thứ cấp hoặc cả hai.
Khi nguồn dữ liệu là sơ cấp và ở dạng định tính thì việc tổ chức thu thập thường
thông qua các kỹ thuật thảo luận và nếu ở dạng định lượng thì phải thu thập thông
qua kỹ thuật phỏng vấn.
+ Phân tích dữ liệu
Một khi dữ liệu đã được thu thập thì dữ liệu này sẽ được hiệu chỉnh, mã hóa, và
nhập vào chương trình máy tính thích hợp để thực hiện việc tóm tắt, phân tích và tìm
ý nghĩa của nó (diễn giải dữ liệu).
+ Viết báo cáo và trình bày kết quả nghiên cứu
Khâu viết báo cáo và trình bày kết quả nghiên cứu cũng không kém phần quan
trọng trong quy trình nghiên cứu khách hàng. Nếu kết quả nghiên cứu không được
trình bày đầy đủ, rõ ràng và dễ hiểu thì nhà quản trị marketing không thể sử dụng
chúng một cách có hiệu quả được.
1.2. MARKETING MIX:
Là một tập hợp các biến số mà công ty có thể kiểm soát và quản lý được. Nó
được sử dụng để cố gắng đạt tới những tác động và gây được những ảnh hưởng có
lợi cho khách hàng mục tiêu. Các bộ phận cấu thành của Marketing Mix được biết
đến là: 4P
- 7 -
Sản phẩm (Product)
Giá cả (Price)
Phân phối (Place)
Chiêu thị (Promotion)
Marketing mix là biểu hiện cụ thể nhất về sự linh hoạt của một doanh nghiệp. Đó
là sự linh hoạt trước những thay đổi ngắn hạn của thị trường mục tiêu nhằm phù hợp
đặc tính bố cục bề ngoài tên nhãn hiệu vì khi tìm mua sản phẩm khách hàng thường
dựa vào yếu tố này và cũng từ yếu tố đó khách hàng có thể so sánh và phân biệt sản
phẩm của hãng này với sản phầm của hãng khác.
- 9 -
- Cấp độ thứ ba là sản phẩm – hàng hoá bổ sung, ở cấp độ này sản phẩm phản
ánh tính tiện lợi cho việc lắp đặt, dịch vụ bổ sung sau khi bán hàng, những điều kiện
bảo hành và điều kiện hình thức tín dụng.
Kết luận: Đó là những cấp độ cơ bản mà nhà kinh doanh phải nắm được vì những
yếu tố này sẽ tạo ra sự đánh giá mức độ hoàn chỉnh mà bất kỳ khách hàng nào cũng
thích và lựa chọn những nhà kinh doanh và những sản phẩm sẽ cung cấp cho họ.
1.2.1.1. Phân loại hàng hoá:
Công việc phân loại hàng hoá khá quan trọng nó giúp các nhà kinh doanh chọn
và xác định được loại hàng hoá mà mình sẽ kinh doanh, từ đó có các chiến lược
Marketing cho phù hợp với loại hàng hoá đó. Sau đây là một số cách phân loại sản
phẩm có ý nghĩa đáng chú ý là:
- Phân loại theo thời hạn sử dụng và hình thái tồn tại như hàng hoá lâu bền, hàng
hoá sử dụng ngắn hạn
- Phân loại hàng tiêu dùng theo thói quen mua hàng, các đặc điểm này hàng tiêu
dùng được phân thành các loại như hàng hoá sử dụng hàng ngày, hàng hoá ngẫu
hứng, hàng hoá mua khẩn cấp, hàng hoá mua có lựa chọn, hàng hoá mua cho các nhu
cầu đặc thù và cuối cùng là hàng hoá cho các nhu cầu thụ động.
- Phân loại hàng tư liệu sản xuất: Đây là hàng hoá được mua bởi các doanh
nghiệp hay tổ chức, bao gồm nhiều thứ, loại có vai trò và mức độ tham gia khác nhau
vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp đó.
1.2.1.2. Chu kỳ sống của sản phẩm
Ngoài việc phân loại sản phẩm các nhà kinh doanh cần phải xác định được
chu kỳ sống của sản phẩm để có những chiến lược marketing phù hợp cho từng thời
kỳ.Chu kỳ sống là sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể từ khi sản phẩm được tung ra
thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường. Chu kỳ sống của sản phẩm
được chia làm 4 giai đoạn:
1.2.1.4. Nội dung của chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm bao gồm các chiến lược cơ bản:
- Chiến lược chủng loại
+ Chiến lược thiết lập chủng loại
Để giữ vững vị trí đã chiếm được trên thị trường doanh nghiệp cần tạo ra những
sản phẩm có chất lượng cao để chiếm được tình cảm và sự tín nhiệm của khách hàng.
Muốn vậy Công ty cần thực hiện tốt những biện pháp nhằm củng cố, nâng cao uy tín
sản phẩm, cũng là uy tín của doanh nghiệp với khách hàng.
+ Chiến lược hạn chế chủng loại
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp nhận được thông tin phản hồi từ thị
trường giúp doanh nghiệp xác định được sản phẩm nào được người tiêu dùng ưa
chuộng, có hiệu quả nhất và ngược lại. Từ đó tập trung vào sản phẩm mang lại hiệu
quả cao, hạn chế sản phẩm có hiệu quả thấp.
+ Chiến lược biến đổi chủng loại
Tạo ra sản phẩm mới trên cơ sở “ làm khác đi ” ít nhiều so với những sản phẩm
đã có, chiến lược biến đổi chủng loại còn bao hàm cả việc cải tiến về hình dáng, vật
liệu và cách trang trí bao bì.
- Chiến lược hoàn thiện và nâng cao các đặc tính sử dụng của sản phẩm nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
1.2.2. Chiến lược giá:
- 12 -
Giá là một công cụ thuộc Marketing – Mix mà công ty sử dụng để đạt được
mục tiêu của mình. Vì vậy theo quan điểm Marketing, giá cả là lợi ích kinh tế được
xác định bằng tiền, giá cả tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế, còn đối với người
mua giá luôn được coi là chỉ số để họ đánh giá phần được và chi phí phải bỏ ra để sở
hữu và tiêu dùng hàng hoá .
1.2.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định giá :
Để quyết định phù hợp về giá sản phẩm đòi hỏi những người làm giá phải hiểu
biết sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến cấu thành và động thái giá trước khi đưa ra
mức giá phù hợp, các yếu tố đó là :
đang kinh doanh ở thị trường nào để có quyết định về giá sản phẩm cho phù hợp với
thị trường nào. Ngoài ra còn một số yếu tố khác như môi trường, kinh tế, phân công
của chính phủ.
1.2.2.2. Quy trình xác định mức giá ban đầu :
Việc xác định mục tiêu giá xuất phát từ mục tiêu của công ty và chiến lược định vị
sản phẩm mà công ty đã lựa chọn, thường hay gặp những mục tiêu căn bản như:
- Đảm bảo tối đa việc có lợi nhuận, giành thị phần cao, giành lại thế cạnh tranh,
ổn định giá và lợi nhuận. Khi xác định được mục tiêu giá, phần tiếp theo ta đề cập tới
cầu thị trường mục tiêu, bây giờ ta xem xét về tổng cầu và hệ số co giãn của cầu đối
với giá.
Q
D
= n . p .q
Q
D
: Số lượng cầu
n : Số lượng người mua sản phẩm ở thị trường mục tiêu với giả thiết
nhất định.
p : Số lượng hàng hóa.
- 14 -
q : Mức giá dự kiến.
Hay:
- Phân tích hàng hóa và giá cả của đối thủ cạnh tranh, phân tích bằng cách đi khảo
sát thực tế, sưu tầm biểu giá hoặc mua sản phẩm của đối thủ để phân tích mối tương
quan giữa giá và sản phẩm. Sau khi đã phân tích các phương án, ta sẽ đưa ra lựa chọn
phương pháp định giá.
Giá dự kiến = Chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm + lãi dự kiến
- Định giá theo lợi nhuận, đây là phương pháp định giá theo cơ sở chi phí
-
áp dụng:
Xác định giá cho sản phẩm mới: đây là chiến lược giá áp dụng với giai đoạn
đầu của chu kỳ sản phẩm, các chiến lược dành cho sản phẩm mới gồm:
- Chiến lược “Hớt phần ngon”. Trong phần này, các công ty thường làm giá sản
phẩm của mình ở mức cao nhất có thể được cho những đoạn thị trường người mua
sẵn sàng chấp nhận sản phẩm mới đó, chiến lược này có tác dụng khi mức cầu về sản
phẩm mới khá cao, giá thành đơn vị sản phẩm khi sản xuất hàng loạt nhỏ, giá mức
cầu cao không nhanh chóng thu hút thêm những đối thủ cạnh tranh mới.
- Chiến lược “Bám chắc thị trường” đây là chiến lược định mức giá bán sản
phẩm mới với giá thấp nhằm theo đuổi mục tiêu nhanh chóng giành được thị phần
lớn, chiến lược này áp dụng khi thị trường rất nhạy cảm về giá, giá thấp có sức thu
hút khách hàng với số lượng lớn, xuất hiện hiệu quả theo quy mô chi phí sản xuất
giảm cùng với sự gia tăng của sản xuất, giá hạ không thu hút thêm đối thủ
cạnh tranh.
Chiến lược giá áp dụng cho danh mục hàng hóa, trường hợp này công ty phải
xây dựng một bộ giá bán đảm bảo được lợi nhuận tối đa trên toàn bộ danh mục sản
phẩm chứ không cho sản phẩm riêng rẽ. Sau đây là một số cách định giá:
- Định giá cho chủng loại hàng hóa tức là định giá cho các sản phẩm có cùng
chức năng tương tự, được bán cho cùng một nhóm người tiêu dùng, khi định giá ta
phải tính đến chênh lệch về giá thành, cách đánh giá của khách hàng về tính năng của
mỗi sản phẩm và giá của đối thủ cạnh tranh. Thực chất đây là việc định giá cho
những sản phẩm cùng loại nhưng khác nhau về chất lượng hoặc kiểu dáng, mẫu mã.
- Định giá cho những sản phẩm kèm theo bắt buộc, đây là việc định giá chỉ có thể
thực hiện được nếu các công ty sản xuất sản phẩm chính kiểm soát được hiện tượng
- 16 -
có người sản xuất khác nhái lại sản phẩm bắt buộc của họ và bán cho khách hàng với
giá rẻ hơn.
Định giá theo nguyên tắc địa lý:
- Xác định giá bao gồm cả chi phí vận chuyển
Giá bán = giá gốc hàng hoá + chi phí vận chuyển bình quân
- Đối phó lại việc thay đổi giá của đối thủ cạnh tranh, trong kinh doanh các công
ty luôn phải gặp phải sự cạnh tranh của đối thủ, để đối phó với việc thay đổi giá của
đối phương, trước khi phản ứng công ty cần xem xét các vấn đề sau: Lý do các đối
thủ thay đổi giá, việc thay đổi giá của đối thủ tạm thời hay lâu dài.
Hậu quả gì sẽ xảy ra về lợi nhuận và tỷ phần thị trường của công ty nếu họ không
đối phó, sau khi xác định được, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể có thể lựa một số
phương án như giảm giá bán sản phẩm thấp hơn đối thủ khi công ty đủ năng lực tài
chính, hoặc giữ nguyên giá, thúc đẩy hoạt động marketing mix để giữ khách
hàng:quảng cáo, khuyến mại..ngoài ra có thể nâng giá cùng với cải tiến chất lượng
vây hãm hình ảnh công ty cạnh tranh.
Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản đối phó đối thủ cạnh tranh của công ty, ngoài
ra công ty còn phải xem xét giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm, tầm quan trọng của
mặt hàng đang bị cạnh tranh, nguồn lực của đối thủ cạnh tranh.
1.2.3. Phân phối sản phẩm:
Là tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào
quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng
- 18 -
1.2.3.1. Vai trò và chức năng:
- Các nhà sản xuất sử dụng các trung gian trong kênh phân phối làm tối thiểu
hóa số lần tiếp xúc bán cần thiết để thoả mãn thị trường mục tiêu. Nhờ quan hệ tiếp
xúc, kinh nghiệm, việc chuyên môn hóa qui mô hoạt động, những người trung gian
đem lại lợi ích nhiều hơn so với công ty tự làm lấy. Vai trò chính của các trung gian
là làm cho cung và cầu phù hợp một cách trật tự và hiệu quả
- Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất
đến người tiêu dùng, nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những
khác biệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa nhà sản xuất với người tiêu
dùng các hàng hoá dịch vụ.
Chức năng của kênh marketing
- Thương lượng để thoả thuận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh,
thoả thuận về giá cả và những điều kiện phân phối khác, nghiên cứu thị trường để lập
Người bán buôn
Người bán lẻ
Người TD
Người bán buôn
Người bán lẻ Người bán lẻ
Người TD Người TD
Người TD
Người sản
xuất
- 20 -
- Kênh ba cấp, là kênh dài nhất, bao gồm cả đại lý và nhà phân phối bán buôn,
người bán lẻ rồi mới tới người sử dụng.
Để đạt được sự bao phủ thị trường tốt nhất, công ty phải quyết định số lượng các
phương thức phân phối trung gian phù hợp cho mình. Có ba mức độ phân phối là
phân phối rộng rãi, phân phối duy nhất, phân phối chọn lọc
1.2.4. Chính sách chiêu thị:
Chiêu thị là hình thức doanh nghiệp sử dụng để tác động vào thị trường nhằm đạt
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của hình thức chiêu thị là truyền tin
về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua.
1.2.5.1. Một số dạng chủ yếu được các công ty sử dụng trong các chiến lược
chiêu thị:
Hoạt động marketing hiện đại rất quan tâm đến các chiến lựợc chiêu thị, đây là
một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu của marketing mix mà doanh nghiệp có thể sử
dụng để tác động vào thị trường mục tiêu kinh doanh của mình. Sau đây là một số
dạng chủ yếu.
- Quảng cáo: Là một trong những công cụ quan trọng nhất của hoạt động
chiêu thị. Quảng cáo chính là sử dụng không gian và thời gian để truyền các thông tin
có sức thuyết phục về sản phẩm, về Công ty đến các khách hàng mục tiêu của Công
ty.
Mục tiêu quảng cáo phải xuất phát từ trong các mục tiêu kinh doanh của công
hàng. Từ những cách chiêu thị trên đã tác động đền khách hàng làm cho họ phân biệt,
hiểu rõ sản phẩm, công ty từ đó gây thiện cảm và dẫn đến ý định mua sản phẩm của
công ty.
- 22 -
- Các hình thức truyền thông:
+ Truyền thông trực tiếp, trong loại kênh này thiết lập mối quan hệ trực tiếp với
người nhận tin. Có thể là sự giao tiếp giữa hai người với nhau hoặc của một người
với công chúng qua điện thoại, thư từ hoặc qua ti vi
+ Truyền thông không trực tiếp, đó là những kênh trong đó các phương tiện
truyền phát tin không có sự tiếp xúc cá nhân và không có cơ chế để thu nhận ngay
thông tin ngược chiều, các phương tiện truyền thông đại chúng và chọn lọc bao gồm
những phương tiện truyền thông trực tiếp như báo chí, tạp chí, thư từ ..
- Các chiến lược truyền thông: Việc xác định thành phần hệ thống truyền
thông cũng như định vị từng công cụ trong hệ thống phụ thuộc rất nhiều vào chiến
lược marketing thuộc loại đẩy hay kéo của công ty
+ Chiến lược đẩy yêu cầu sử dụng nhân viên bán hàng khuyến khích hoạt động
mua bán ở các trung gian trong kênh phân phối để đẩy hàng hoá trong các kênh ra thị
trường, người sản xuất quảng cáo và xúc tiến bán đối với người bán buôn, người bán
buôn quảng cáo và xúc tiến bán đối với người bán lẻ, người bán lẻ quảng cáo và xúc
tiến bán cho người tiêu dùng
+ Chiến lược kéo đòi hỏi người sản xuất tác động trực tiếp tới người tiêu dùng,
tới khách hàng mục tiêu của mình bằng việc tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán
nhằm hình thành nhu cầu tập trung trên thị trường, tạo nên áp lực cần thoả mãn nhu
cầu và hình thành sức kéo hút hàng hoá từ thị trường dọc theo kênh phân phối qua
các thành viên trung gian.
1.2.5.2. Mục tiêu của Chiêu thị:
Tăng số lượng hàng tiêu thụ trên thị trường tryền thông, mở ra thị trường mới,
giới thiệu sản phẩm mới, xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệu hàg hoá uy
tín, ngoài ra chiêu thị là thong bóa, thuyết phục và nhắc nhở, thông báo cho người
tiêu thụ về sự có sẵn của sản phẩm, thuyết phục họ sản phẩm này sẽ tốt trên nhiều
- 25 -
quyết định và hướng đi cho mình, chỉ trong năm 2006, công ty đã cho ra đời ba chi
nhánh ở ba tỉnh thành đó là:
- Chi nhánh Cần Thơ:
SIÊU THỊ ĐIỆN MÁY ĐÔ THÀNH CẦN THƠ
Số 51 Nguyễn Trãi – Quận Ninh Kiều – Thành phố Cần Thơ
- Chi nhánh Rạch Giá – Kiên Giang
SIÊU THỊ ĐIỆN MÁY ĐÔ THÀNH RẠCH GIÁ
Lô B14 – đường 3/2 –Phường Vĩnh Lạc – Thành phố Rạch Giá – Kiên Giang
- Chi nhánh Bình Dương:
SIÊU THỊ ĐIỆN MÁY ĐÔ THÀNH BÌNH DƯƠNG
SỐ 215A YERSIN – Phường Phú Cường – Thị xã Thủ Dầu Một – Bình Dương
Khi các chi nhánh được thành lập xong, để tiết kiệm chi phí đi lại và chi phí
nhân công, công ty áp dụng hình thức mở chi nhánh ở đâu thì tuyển nhân viên trực
tiếp ở nơi đó, số nhân viên mới được tuyển ở các chi nhánh chủ yếu là nhân viên bán
hàng, số nhân viên này sẽ được đưa về công ty để đào tạo và huấn luyện thực tế, sau
đó lại được đưa về chi nhánh làm việc góp phần phục vụ tốt các yêu cầu công việc
mà công ty đề ra. Với mục tiêu “Giá tốt dịch vụ tốt “, công ty đang dần khẳng định
mình trên thị trường khu vực nói riêng và thị trường Thành phố nói chung.
2.2. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, PHẠM VI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
2.2.1. Nhiệm vụ:
- Là một siêu thị điện máy vì vậy công ty được tổ chức khai thác thị trường
trong và ngoài khu vực, cung cấp thị trường khu vực dịch vụ mua sắm các loại sản
phẩm về lĩnh vực điện máy, điện tử, điện lạnh, điện gia dụng, đáp ứng nhu cầu mua
sắm ngày càng tăng của người dân nói riêng và của thị trường nói chung.