Phát triển mối liên kết kinh tế giữa nông nghiệp thủ đô hà nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận (tt) - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HÀ NỘI 2014


Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường
họp tại ………………… vào hồi….giờ…….ngày…….tháng….năm…. Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế quốc dân 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hà Nội là Thủ đô của cả nước, với vị trí địa lý nằm trong vùng trung tâm vùng
Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) nên giữ vị trí hết sức quan trọng đối với cả nước, với
các tỉnh ĐBBB, nhất là các tỉnh phụ cận.
Đối với Hà Nội, nông nghiệp (NN) giữ vai trò cung cấp nông sản đáp ứng nhu
cầu đa dạng, phong phú và ngày càng tăng của dân cư. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hoá
(ĐTH) nhanh làm thu hẹp đất sản xuất NN, những vấn đề về môi trường, lao động
việc làm ở các huyện ngoại thành đã và đang đặt ra…đòi hỏi NN Hà Nội LKKT
với NN các tỉnh phụ cận.
Những năm qua, nhất là từ khi mở rộng về địa giới, mối liên kết kinh tế
(LKKT) giữa NN Hà Nội với 7 tỉnh phụ cận đã được thiết lập từ tự phát đến từng
bước chủ động, tự giác. Sự hỗ trợ của NN các tỉnh trong cung cấp nông sản, hình
thành các vành đai lượng thực, thực phẩm đến hình thành các vành đai rừng, hồ
điều hoà tạo lập môi trường, cảnh quan cho Thủ đô Hà Nội trở thành “Thành phố
xanh, hoà bình”…. Ngược lại, NN Thủ đô Hà Nội với ưu thế gần trung tâm khoa

các tỉnh phụ cận đến 2020.
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa NN Thủ đô Hà
Nội với NN của 7 tỉnh phụ cận, gồm: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thái
Nguyên, Hưng Yên, Hà Nam và Hòa Bình.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài đánh giá trong thời gian từ 2000 đến nay, trong
đó tập trung vào giai đoạn 2008-2012 (giai đoạn Hà Nội đã mở rộng).
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp tiếp cận
- Tiếp cận đối tượng nghiên cứu: Luận án đã tiếp cận LKKT với 2 vế liên kết
là “NN Thủ đô Hà Nội” và “NN các tỉnh phụ cận”; trong đó, các vấn đề LKKT đã
được tiếp cận theo chiều ngang và theo chiều dọc. Tiếp cận chủ thể liên kết thông
qua các hoạt động quản lý của nhà nước như: quy hoạch, kế hoạch, các cam kết, sự
phối hợp quản lý và giữa các chủ thể kinh doanh thông qua liên doanh, hợp đồng
kinh tế…Ngoài ra, luận án đã tiếp cận và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
các mối LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận.
- Tiếp cận theo không gian nghiên cứu: Luận án đã tiếp cận mối liên kết theo
không gian kinh tế 2 chiều, một bên là NN Thủ đô Hà Nội, bên kia là NN của các
tỉnh phụ cận. Luận án không nghiên cứu mối quan hệ liên kết của NN giữa các tỉnh
phụ cận, LKKT trong nội bộ NN Hà Nội hay nội bộ NN các tỉnh.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp luận nghiên cứu chung (như phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử dùng để nghiên cứu, xem xét sự vật và hiện tượng trong
trạng thái vận động, khoa học, khách quan), luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Chuyên gia, chuyên khảo, tổng hợp, phân tích và xử lý số
liệu, điều tra xã hội học.
5. Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa và phân tích cơ sở khoa học về LKKT NN, từ đó đã cụ thể hóa và
tìm ra những đặc thù của LKKT NN giữa NN Thủ đô với NN các tỉnh phụ cận.
Điều tra, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng LKKT giữa NN Hà Nội với NN
các tỉnh phụ cận qua 2 giai đoạn (trước và sau mở rộng địa giới); đã rút ra được các

điểm đặc thù của môi trường LKKT với thực trạng phát triển các mối LKKT giữa
NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận. (4) Các nghiên cứu không dừng ở đánh giá
thực trạng của liên kết đặc thù của không gian cụ thể, tìm ra nguyên nhân nào gây
nên thực trạng đó và các giải pháp khắc phục chúng.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG
NGHIỆP THỦ ĐÔ VỚI NÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH PHỤ CẬN
2.1. Cơ sở lý luận về LKKT giữa NN Thủ đô Hà Nội với NN các tỉnh phụ
cận
2.1.1. Các lý thuyết cơ bản làm cơ sở cho LKKT NNtheo vùng
Luận án hệ thống và phân tích các lý thuyết về chuỗi giá trị ngành hàng nông
sản và phân công lao động làm rõ cơ sở của LKKT NN theo vùng và theo ngành
trên phạm vi vùng; lý thuyết về cực tăng trưởng làm cơ sở cho xác định vai trò và
xác định các đặc thù của LKKT giữa NN Thủ đô với NN các tỉnh phụ cận.
2.1.2. Khái niệm về LKKT giữa NN Thủ đô với NN các tỉnh phụ cận
Luận án đi từ LKKT đưa ra khái niệm LKKT NN theo vùng và từ khái niệm
LKKT NN theo vùng, luận án cho rằng, LKKT giữa NN thủ đô với NN các tỉnh
phụ là một dạng đặc thù của LKKT NN theo vùng. Về thực chất, đó cũng là mối
4
quan hệ về kinh tế giữa sản xuất, cung ứng, chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hóa;
chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và mối quan hệ về quản lý của chính quyền,
các tổ chức giữa Thủ đô và các tỉnh phụ cận.
Tuy nhiên, tính Thủ đô là sự khác biệt trong mối quan hệ liên kết giữa NN Thủ
đô với NN các tỉnh phụ cận, trong đó tính chủ động của NN Thủ đô, tính phối hợp
trong liên kết; sự khắt khe của chất lượng nông sản của thị trường có sức mua cao,
là bộ mặt của cả nước trong giao dịch quốc tế là những đặc điểm tạo sự khác biệt
trong LKKT theo vùng NN.
2.1.3. Nguyên tắc của LKKT giữa NN Thủ đô với NN các tỉnh phụ cận
LKKT NN theo vùng và LKKT giữa NN thủ đô và NN các tỉnh phụ cận đều là
liên kết giữa các chủ thể kinh tế. Vì vậy, chúng dựa trên những nguyên tắc của

LKKT được thể hiện trên 2 phương diện: Liên kết giữa các cơ quan quản lý nhà
nước về ngành hàng NN và LKKT giữa các tác nhân trong ngành hàng nông sản.
Cụ thể:
- LKKT của các cơ quan quản lý nhà nước về NN của Thủ đô với các tỉnh phụ
cận theo các nội dung (1) Liên kết trong quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch
phát triển NN theo vùng. (2) Liên kết trong xúc tiến thương mại, tiêu thụ nông sản,
nhất là tiêu thụ nông sản phẩm an toàn vào thị trường Thủ đô của các nước. (3)
Liên kết trong phối hợp quản lý nhà nước về NN (bảo vệ thực vật, thú y, quản lý tài
nguyên nước, nghiên cứu trao đổi về khoa học và công nghệ, chính sách…)
- LKKT giữa các chủ thể kinh doanh NN của Thủ đô và các tỉnh phụ cận theo
các nội dung: (1) LKKT trong đầu tư khai thác các nguồn lực, trong đó nguồn lực
NN của các tỉnh còn khá dồi dào, khả năng khai thác các nguồn lực của Thủ đô
thường ưu việt hơn. Vì vậy, ưu việt của mỗi địa phương đều được khai thác.
(2) LKKT trong chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ. Đây cũng là hoạt
động liên kết dựa vào việc khai thác ưu thế của các doanh nghiệp Thủ đô về khoa
học và công nghệ, vào yêu cầu cần đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu sản xuất,
kinh doanh nông sản của các tỉnh phụ cận.
(3) Liên kết trong sản xuất NN với chế biến nông sản, với đầu tư của các doanh
nghiệp ở Thủ đô về các tỉnh phụ cận để sản xuất tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho
các doanh nghiệp chế biến NN ở Thủ đô.
(4) Liên kết giữa các cơ sở sản xuất nông sản với các cơ sở tiêu thụ nông sản ở
thủ đô: Đây là hoạt động liên kết có tính phổ biến nhất của NN các tỉnh phụ cận với
NN thủ đô trong điều kiện chế biến nông sản quy mô lớn còn hạn hẹp như ở Việt
Nam.
2.1.6. Các hình thức liên kết giữa NN Thủ đô với NN các tỉnh phụ cận
Có thể tổng kết thành các hình thức điển hình sau:
- Liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ thành các doanh nghiệp lớn trong ngành
hàng nông sản: Hình thức liên kết này hình thành nên Tổng công ty, các tập đoàn
kinh tế lớn, ở Việt Nam thường là các Tổng công ty 90, 91. Đây là hình thức liên
kết mà dựa vào đó các doanh nghiệp có thể phát huy quy mô về vốn, về kết quả

chiều tác động để khai thác các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực.
Có như vậy các mối quan hệ liên kết kinh tế mới diễn ra thuận lợi và có kết quả
mong đợi.
2.1.8. Đánh giá kết quả và hiệu quả của LKKT giữa NN Thủ đô với NN các tỉnh
phụ cận
- Các phương pháp đánh giá: Cần phải đánh giá theo 2 phạm vi: (1) Kết quả
liên kết thể hiện ở quy mô và mức độ liên kết giữa NN Thủ đô với NN các tỉnh phụ
cận. (2) Đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế của từng hoạt động của các chủ thể tham
gia vào quá trình liên kết. Việc đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về kết quả,
hiệu quả kinh tế nhưng khi tính toán và phân tích các chỉ tiêu cần lưu ý: Cần tính
đúng, tính đủ, không tính trùng để đảm bảo việc tính toán chi phí đạt được kết quả
chính xác nhất. Khi phân tích các chỉ tiêu cần xem xét mối tương quan giữa kết quả
với chi phí và mục đích tổ chức các hoạt động sản xuất, chế biến trong các cơ sở
sản xuất kinh doanh.
- Các chỉ tiêu đánh giá:
+ Chỉ tiêu phản ánh mức độ tham gia liên kết xét từng địa phương giữa NN
Thủ đô và các tỉnh phụ cận: (1) Số lượng các chủ thể tham gia LKKT NN so với
tổng thể các chủ thể hoạt động trong ngành hàng nông sản giữa NN Thủ đô với NN
các tỉnh phụ cận. Nó được tính bằng % và có thể chi tiết thành 7 chỉ tiêu thành
phần. (2) Mức độ tham gia các hoạt động liên kết trong hoạt động kinh doanh của
các chủ thể. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ % và chi tiết theo từng loại hình tổ chức
kinh doanh NN tham gia liên kết.
7
+ Chỉ tiêu phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu liên kết giữa NN Thủ đô với NN
các tỉnh phụ cận gồm: (1) Mức độ đáp ứng yêu cầu nông sản của Thủ đô từ NN các
tỉnh phụ cận. Nó được tính bằng: Tổng số nông sản (từng loại) của các tỉnh phụ cận
cần tiêu thụ /tổng nhu cầu nông sản còn thiếu của Thủ đô. (2) Mức độ đáp ứng yêu
cầu hỗ trợ của NN Thủ đô với NN các tỉnh phụ cận. Nó được tính theo các loại nhu
cầu như: nhu cầu về vốn, về khoa học công nghệ, về phối hợp quản lý…
+ Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả LKKT nông nghiệp, gồm: (1) Chỉ tiêu hiệu

của các địa phương. Các tỉnh phụ cận với tư cách là các tỉnh cận kề vừa có lợi thế,
vừa có trách nhiệm đối với Hà Nội.
(2) Địa hình và hệ thống sông ngòi chảy qua Hà Nội và các tỉnh phụ cận trải dài
và thoải dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên ảnh hưởng đòi hỏi sản xuất NN
và khai thác nguồn nước có sự gắn kết với nhau.
8
(3) Mối tương quan giữa tài nguyên, nhất là tài nguyên đất với dân số của Hà
Nội với các tỉnh phụ cận là mối quan hệ nghịch. Đây là điều kiện thuận lợi để Hà
Nội và các tỉnh phụ cận liên kết với nhau trong phát triển NN, nhất là trong sản
xuất và tiêu thụ nông sản.
(4) Hà Nội là thị trường sức mua cao, yêu cầu chất lượng cao. Vấn đề kết nối
giữa sản xuất với tiêu dùng ngày càng cao buộc NN Hà Nội, nhất là tiêu thụ nông
sản Hà Nội phải gắn kết với sản xuất, chế biến và vận chuyển nông sản của các tỉnh
ngày càng chặt chẽ.
(5) Tác động tích cực và tiêu cực của CNH, HĐH đòi hỏi Hà Nội và các tỉnh
phụ cận cần có sự phối hợp giải quyết mới có thể thành công.
- Những khó khăn, hạn chế đến liên kết: (1) Sự mở rộng của Thủ đô Hà Nội
làm cho quy mô của sự liên kết tăng theo, những phức tạp của quan hệ liên kết theo
đó cũng tăng lên.
(2) CNH, ĐTH cao tạo nên sức ép về các vấn đề cần phải giải quyết trong liên
kết; cần nguồn lực lớn, giải quyết khắc phục hậu quả lớn.
(3) Kinh tế thị trường phát triển, vì lợi nhuận người sản xuất có thể sử dụng
phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi nhân tạo nhưng ảnh hưởng
đến chất lượng nông sản tạo nên sức ép trong LKKT giữa NN Hà Nội với NN các
tỉnh phụ cận.
(4) Trình độ dân trí, nhất là những kiến thức về hội nhập, các vấn đề pháp luật
về kinh tế của người dân, nhất là nông dân các vùng phụ cận còn hạn chế.
3.2. Khái quát tình hình phát triển NN Hà Nội và các tỉnh phụ cận những năm
đổi mới
3.2.1. Tốc độ tăng trưởng NN Hà Nội và các tỉnh phụ cận: Ở giai đoạn trước năm

- Giai đoạn 2008-2012: Đối với Hà Nội, việc mở rộng địa giới đã làm cho
nguồn lực của Hà Nội tăng lên khá nhiều. Nhờ đó, tỷ trọng nông, lâm, thủy sản đã
tăng cơ học trong cơ cấu kinh tế của Thủ đô Hà Nội (6,6% năm 2008 so với 1,75%
năm 2007). Tuy nhiên, sau đó giảm nhanh, năm 2012 còn 5,2%.
- Đối với các tỉnh phụ cận, biến động địa giới hành chính tác động đến quy mô
các tỉnh phụ cận (từ 5 tỉnh lên 7 tỉnh) và thay đổi cơ học tỷ trọng ngành nông, lâm,
thủy sản trong cơ cấu kinh tế chung của các tỉnh phụ cận như Hà Nội. Vì vậy,
tương quan về cơ cấu ít có sự thay đổi.
3.2.3. Sự phát triển các ngành trong NN Hà Nội và các tỉnh phụ cận
- Đối với NN Hà Nội: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng diễn ra theo hướng chuyển
sang các sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Diện tích sản xuất chất lượng cao tăng
dần; sản xuất rau, đậu thực phẩm tăng khá, bước đầu hình thành một số vùng
chuyên rau sạch, hoa, cây ăn quả; một số mô hình công nghệ cao được hình thành.
Tuy quy mô diện tích theo xu hướng giảm, nhưng GTSX ngành trồng trọt vẫn tăng,
tuy chậm.
Ngành chăn nuôi có mức tăng khá giai đoạn 2000-2005 và tăng chậm giai đoạn
2006-2012. Đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi tập trung. Tuy nhiên, các vấn
đề về ô nhiễm môi trường, kiểm soát dịch bệnh đang đặt ra cấp thiết. Nuôi trồng
thủy sản đã có bước phát triển khá. Một số diện tích đất NN trồng lúa một vụ, vùng
trũng đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản hoặc theo mô hình một vụ lúa, một
vụ cá. Vì vậy, sản lượng thủy sản Thủ đô Hà Nội không chỉ tăng do mở rộng địa
giới hành chính mà còn tăng lên do tăng trưởng của ngành những năm sau đó. Diện
tích rừng của Hà Nội không nhiều, sự gia tăng của lâm nghiệp không lớn.
- Đối với NN các tỉnh phụ cận: Sự phát triển của ngành trồng trọt cũng theo xu
hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng để nâng cao hiệu quả sản xuất và chuyển sang
sản xuất hàng hóa. Vì vậy, sản xuất lúa cũng có xu hướng thu hẹp, sản xuất rau,
đậu, các cây công nghiệp, những cây có giá trị kinh tế cao có xu hướng tăng.
Việc chuyển đổi mạnh từ trồng trọt sang chăn nuôi, với việc đẩy mạnh phát
triển chăn nuôi lợn, gia cầm, trâu bò, các loại đặc sản đã tạo sức tăng trưởng mới
10

chuyển lại 5 huyện và 1 thị xã đã lấy của Hà Sơn Bình năm 1978 cho Hà Tây và
Mê Linh được nhập vào tỉnh Vĩnh Phú. Hà Nội còn lại 4 quận nội thành và 5 huyện
ngoại thành, với diện tích đất tự nhiên 924 km². Sự thay đổi địa giới hành chính và
đặc biệt là sự chuyển đổi cơ chế quản lý từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị
trường đã thay đổi các mối LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận.
(1) LKKT thông qua các hoạt động quản lý vĩ mô: LKKT thể hiện trong các
quy hoạch chung của vùng ĐBSH, Hà Nội và các tỉnh phụ cận qua việc thành lập
Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ lãnh thổ vùng ĐBSH và Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội vùng ĐBSH thời kỳ 1996-2010 được triển khai. Trong quy
hoạch, rất nhiều vấn đề của vùng và liên kết giữa các địa phương trong vùng đã
được đề cập.
11
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Thành phố Hà Nội và các tỉnh phụ
cận đã đề cập đến sự liên kết trong phát triển kinh tế xã hội với các tỉnh, thành phố
trong vùng ĐBSH và các tỉnh phụ cận.
Trên thực tế, việc triển khai các chủ trương, những ý tưởng được đề cập trong
các Quy hoạch đã được thực hiện. Đặc biệt, những vấn đề chủ yếu trong Quy hoạch về
NN Hà Nội và các tỉnh phụ cận đã từng bước được triển khai và đạt kết quả khá tốt.
(2) LKKT giữa các cơ sở kinh doanh NN: Đã xuất hiện những mối quan hệ
kiên kết trong sản xuất và cung ứng nông sản, chuyển giao tiến bộ khoa học công
nghệ… Cụ thể:
+ Đã xuất hiện các mô hình LK giữa các cơ sở sản xuất NN với các địa phương
trong vùng như: làn sóng đầu tư của bộ phận dân cư Hà Nội vào các tỉnh Vĩnh
Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên để phát triển kinh tế trang trại; liên kết trong
đầu tư giữa những người sản xuất, nhất là chế biến nông sản của Hà Nội với những
người sản xuất nông sản của các tỉnh trong vùng. Ví dụ: Liên kết giữa những người
dân sản xuất cốm Vòng với các địa phương của Hà Tây, Hưng Yên, Thái Bình,
Nam Định trong việc cung cấp lúa nếp nguyên liệu.
+ Xuất hiện các mô hình LK Liên kết trong cung ứng các loại nông sản: Đây là
hoạt động LK có tính phổ biến nhất ở giai đoạn này giữa NN Hà Nội với NN các


31.853

33.000

4. Thịt lợn hơi 179.328

183.936

186.554

192.000

5. Dầu ăn 11.052

11.565

11.914

12.344

6. Sản phẩm thuỷ sản 15.120

17.430

19.610

20.480

Nguồn: Sở Thương mại Thành phố Hà Nội.

+ Liên kết trong cung ứng các loại nông sản đã tăng lên về lượng nông sản và
các hình thức cung ứng. Đây vẫn là hình thức LKKT sôi động nhất của LKKT giữa
NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận. Vì thế, quy mô cung cấp nông sản cho Hà
Nội đã tăng lên.
Bảng 3.2: Nhu cầu nông sản và mức độ cung ứng nông sản
các tỉnh cho Hà Nội năm 2005
Đơn vị: tấn
TT

Loại nông sản Nhu cầu Hà Nội Hà Nội SX Các tỉnh SX
1 Lương thực quy gạo 750,0 215,7 534,3
2 Thuỷ sản 50,0 10,43 39,57
3 Thịt các loại 300,0 120,0 180,0
4 Rau các loại 300,0 125,0 175,0
5 Quả các loại 80,0 27,5 52,5
Nguồn: Sở Thương mại Thủ đô Hà Nội.
+ Liên kết trong chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ có sự mở rộng
trên cả 2 bình diện: tự phát trong các cơ sở kinh doanh NN, chủ động của các cơ
quan quản lý nhà nước và các tổ chức khuyến nông.
13
Đánh giá chung: Giai đoạn trước 1990, mối quan hệ LK được thực hiện trực
tiếp thông qua các biện pháp mang tính hành chính. Giai đoạn 1990-2000, các mối
LKKT giữa NN Hà Nội với các tỉnh phụ cận đã có những cơ hội và bước phát triển
trên các mặt quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh. Trên thực tế, các mối quan
hệ đã mở rộng với các hình thức đa dạng hơn giai đoạn trước theo quan hệ của kinh
tế thị trường.
Giai đoạn 2001 - 2007, yêu cầu liên kết giữa sản xuất kinh doanh của NN Hà
Nội với các tỉnh phụ cận ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, sự chuyển biến của các
mối quan hệ liên kết so với giai đoạn trước chưa có những chuyển biến về chất.
Các hoạt động mang tính tự phát giữa các cơ sở kinh doanh NN vẫn là những hoạt

14
bệnh, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ động vật, sản phẩm động vật và sản xuất, tiêu
thụ rau an toàn với 16 tỉnh, thành phố phía Bắc.
Triển khai Chương trình, Sở NN & PTNT Hà Nội đăng tải các thông tin liên
quan đến xúc tiến thương mại, đầu tư, hợp tác giữa Hà Nội với các tỉnh ký kết để
cung cấp thông tin cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân quan tâm. Hà Nội đã
nhận được thông tin của 5 tỉnh về các Chương trình phát triển NN, các chính sách
hỗ trợ, các mô hình kinh doanh công nghệ cao và các đơn vị kinh doanh NN ở các
tỉnh có sản phẩm cần quảng bá.
- Liên kết giữa các cơ sở kinh doanh: Đây vẫn là hoạt động liên kết chính của
liên kết giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận. Tuy nhiên, so với các giai đoạn
trước đã xuất hiện những hình thức hiên kết mới và tính chất của liên kết cũng có
sự thay đổi. Cụ thể:
+ LK đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở trạng thái ngưng trệ, vì đầu tư phát triển
kinh tế trang trại thực chất là đầu tư bất động sản. Khi bất động sản ở giai đoạn xấu,
các nhà đầu tư Hà Nội về các tỉnh đều “tháo chạy”, hiện tượng đầu tư thêm hầu như
không xuất hiện. Đầu tư thực sự kinh doanh của Hà Nội vào NN các tỉnh giảm sút
do thiếu sự gắn kết giữa các bên, thiếu môi trường kinh tế và pháp lý, vì hầu như là
các liên kết mang tính tự phát. Những đầu tư này phần lớn là đầu tư với công nghệ
cao, hướng tới sản xuất nông sản sạch.
Tuy nhiên đã xuất hiện hình thức sản xuất trong các ngành NN ở các tỉnh theo
hướng chuyên cung cấp các nông sản cho Hà Nội. Có thể cho đây là hướng triển
khai các quy hoạch phát triển NN của các tỉnh phụ cận có tính đến các đặc thù của
thị trường Hà Nội như trồng đào quất ở Văn Giang, trồng rau an toàn ở xã Yên
Phú, xã Hoàn Long huyện Yên Mỹ Hưng Yên; ở xã Trung Nghĩa thành phố Hưng
Yên…, trồng lúa chất lượng cao ở Hà Nam.
Luận án đã khảo sát khá kỹ các mô hình này ở các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh,
Hà Nam và thấy rằng, LKKT theo các mô hình này, phần chủ động LK thuộc về
những người sản xuất NN các tỉnh phụ cận. Họ là những người thực thi các phương
án quy hoạch, những phương án này khi thiết kế đã có sự xem xét tới thị trường Hà

gom bán cho các cơ sở chế biến đối với các sản phẩm lợn, trâu, bò và gia cầm và
một phần đối với rau, đậu; các sản phẩm chế biến quy mô lớn được phân phối cho
những người bán lẻ và người bán lẻ bán trực tiếp cho người tiêu dùng.
Bảng 3.3: Tổng hợp điều tra cung cấp nông sản tại 4 chợ đầu mối Hà Nội
tháng 5/2013.
Sản phẩm Nguồn gốc
Số lượng/
ngày
(kg, quả)
Số lượng/
tháng
(kg, quả)
Doanh thu/
tháng
(triệu đồng)
Phương tiện vận
chuyển
1. Thịt bò
Phú Thọ 80 2.500 225 Xe máy
Hòa Bình 70 2.100 336 Xe máy
2. Thịt lợn
Bắc Ninh 70 2.000 180 Xe máy
Hưng Yên 280 8.400 672 Xe máy
Phú Thọ 400 4.000 350 ô tô
3. Gia cầm
Phú Thọ 75 2.000 140 Xe máy
Bắc Giang 30 - 40 800 - 1.200 40 Xe máy
Hà Nam 50 1.500 120 Xe máy
Bắc Ninh 50 1.500 90 Xe máy
Trứng gà, vịt Hưng Yên 1.000 10.000 30 Xe máy

ổn giá những mặt hàng thiết yếu, các sản phẩm NN của Hà Nội, hoạt động của một
số doanh nghiệp cung ứng nông sản của Trung ương có trụ sở và các đơn vị kinh
doanh trên địa bàn cũng thực hiện sự liên kết trong các hoạt động kinh doanh.
3.3.3 Những kết quả và những hạn chế, những vấn đề đặt ra cần giải quyết của
LKKT giữa NN Hà Nội và NN các tỉnh phụ cận
- Những kết quả đạt được:
(1) Các mối quan hệ liên kết diễn ra trong tất cả các giai đoạn phát triển của
NN Hà Nội và các tỉnh phụ cận. Mức độ liên kết ngày càng được mở rộng hơn theo
tiến trình chuyển NN từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa.
(2) Có sự biến đổi trong quan hệ liên kết và phương thức thực hiện các mối
quan hệ liên kết. Đó là sự chuyển đổi bằng phương thức hành chính thông qua hình
thành các vùng vành đai thực phẩm, lưu thông và tiêu thụ nông sản theo cơ chế thu
mua đến việc quy hoạch các vùng chuyên môn hóa và lưu thông nông sản tự do,
tiêu thụ nông sản theo quan hệ thị trường.
(3) Đã có chuyển biến bước đầu trong tổ chức quan hệ LK của quản lý nhà
nước về NN của Hà Nội và các tỉnh phụ cận.
(4) Đã có sự chủ động liên kết sản xuất nông sản ở các tỉnh phụ cận, thể hiện ở
lựa chọn ngành nghề sản xuất, đặc biệt là định hướng tiêu chuẩn chất lượng sản
phẩm theo yêu cầu thị hiếu tiêu dùng của Hà Nội, như lợn siêu nạc, các nông sản
đặc sản, có chất lượng cao…
(5) Hệ thống cung ứng nông sản cho Hà Nội ngày càng mở rộng, đáp ứng đủ
nhu cầu cư dân Thủ đô Hà Nội, thậm chí dư thừa, kể cả khi nhu cầu tăng cao vào
dịp lễ tết. Kết quả đó đã dẫn đến nhu cầu nông sản cư dân Thủ đô đủ về số lượng,
từng bước đáp ứng về chất lượng. Người sản xuất nông sản ở các tỉnh phụ cận tiêu
thụ được sản phẩm với giá cao, nông sản ít bị ứ đọng do có thị trường có nhu cầu
số lượng lớn, sức mua cao.
(6) LKKT đã mang lại hiệu quả cho người sản xuất, chế biến và cung ứng ở các
tỉnh phụ cận, cho người phân phối ở Hà Nội, đặc biệt là cho người tiêu dùng. Đối
với sản xuất, liên kết đã giúp họ chuyển đổi sang cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh
tế cao, tiêu thụ được nông sản với giá cao hơn. Vì vậy, doanh thu và lợi nhuận của

trạng trên, nâng cao năng lực sản xuất của các chủ thể, tăng quy mô liên kết là vấn
đề cần xử lý.
(3) Tính tự phát trong LK giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh nông sản cao.
Trong những năm qua, LK đã trợ giúp cho NN Hà Nội giải quyết thiếu hụt nông
sản; góp phần giải quyết vấn đề thị trường nông sản cho các tỉnh trong vùng.
Nhưng nảy sinh những bất cập về dịch bệnh khi lưu thông nông sản, vệ sinh an
toàn thực phẩm và mỹ quan đường phố.
Nguyên nhân chủ yếu do thiếu môi trường pháp lý cho các hoạt động liên kết;
thiếu các văn bản pháp lý tạo lập môi trường kiểm soát và xử lý các bất cập nảy
sinh trong quá trình triển khai.
(4) Chưa chú ý đầy đủ vấn đề lợi ích trong liên kế. Các hoạt động liên kết đều
nhằm giải quyết vấn đề lợi ích của bên chủ động liên kết. Thực trạng đó dẫn đến
các ràng buộc trong liên kết còn lỏng lẻo.
18
CHƯƠNG 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT
KINH TẾ GIỮA NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI VỚI CÁC TỈNH PHỤ CẬN
4.1. Những quan điểm và phương hướng phát triển LKKT giữa NN Hà Nội
với NN các tỉnh phụ cận
4.1.1. Những quan điểm phát triển LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận
- LKKT NN cần tuân thủ các quy hoạch của vùng Hà Nội và phát triển NN của
từng địa phương trong vùng.
- Phát huy vai trò chủ động của Hà Nội và sự phối hợp tích cực giữa các địa
phương của vùng trong tổ chức các hoạt động liên kết.
- Đa dạng hóa các hình thức LKKT giữa NN Hà nội với NN các tỉnh phụ cận.
- Cần chú ý đặc biệt đến lợi ích của các bên tham gia liên kết giữa NN Hà Nội
với NN các tỉnh phụ cận
4.1.2. Phương hướng phát triển LKKT giữa NN Hà Nội với các tỉnh phụ cận
- Phương hướng phát triển NN Hà Nội và NN các tỉnh phụ cận đến 2030, tầm
nhìn 2050:

quan hệ kinh tế của NN Hà Nội và các tỉnh phụ cận, đáp ứng yêu cầu nông sản của
cư dân thủ đô Hà Nội trong bối cảnh ĐTH và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
tăng; sức cạnh tranh của nông sản nước ngoài với nông sản nội địa ngày càng trở
nên gay gắt.
(2) Kết hợp giữa giải quyết những vấn đề cấp thiết về an toàn vệ sinh nông sản
đang diễn ra phức tạp và bức xúc, với giải quyết một cách căn bản, từ gốc trong
phối hợp giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản.
(3) Sử dụng tổng hợp các công cụ trong tổ chức các quan hệ LK, chú trọng vai
trò quản lý nhà nước trong tạo lập môi trường kinh tế và pháp lý cho các mối quan
hệ liên kết phát triển. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong
các hoạt động liên kết
(4) Đa dạng hóa các mô hình liên kết, các mô hình liên kết chủ yếu trong NN
Hà Nội với các tỉnh phụ cận.
4.2. Các giải pháp đẩy mạnh phát triển LKKT giữa NN Hà Nội với NN các
tỉnh phụ cận
4.2.1. Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, hiểu biết về LKKT giữa NN Hà
Nội với NN các tỉnh phụ cận đầy đủ, chi tiết
Trên thực tế, LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận một cách đầy đủ
vẫn chưa được nhận thức đúng ở cả cấp vĩ mô đến vi mô. Vì vậy, thông tin tuyên
truyền về mặt nhận thức là giải pháp tiền đề.
Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào sự cần thiết phải liên kết, trong đó làm
rõ lợi ích của LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận; những hậu quả sẽ
phát sinh nếu không có sự liên kết hay liên kết không phù hợp. Việc tuyên truyền,
vận động cần có sự phối hợp giữa các nhà khoa học, các nhà quản lý về NN và các
tổ chức chính trị xã hội. Phương thức tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động
có thể thông qua các lớp, dưới dạng lồng ghép. Nguồn kinh phí cho truyên truyền
cần được đa dạng hóa. Tuy nhiên, kinh phí từ nguồn ngân sách cần được chú trọng.
4.2.2. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, đánh giá tiềm năng và các cơ hội phát triển
mối liên kết của NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận
Thủ đô Hà Nội và tất cả các tỉnh phụ cận đều đã hoàn thành các Quy hoạch đến

bảo tính an toàn ngay từ nơi sản xuất và có xuất xứ nguồn gốc nông sản rõ ràng. (4)
Xây dựng cơ chế LKKT giữa NN Thủ đô Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận. Hà Nội
phát huy vai trò, vị thế của Thủ đô để chủ động tổ chức xây dựng các cơ chế liên
kết. (5) Tổ chức tốt việc xây dựng các văn bản pháp luật tạo môi trường kinh tế và
pháp lý để LKKT. (6) Phối hợp tốt chức năng kiểm tra giám sát trong sản xuất và
lưu thông nông sản để đảm bảo phòng dịch cho NN Hà Nội, an toàn vệ sinh cho
người tiêu dùng và giữ mỹ quan Thành phố.
4.2.4. Đẩy mạnh gắn kết giữa các chủ thể sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản
giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận
Gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản vừa là mục tiêu, vừa là
nhiệm vụ của phát triển các mối liên kết giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận.
Sự cần thiết phải thực thi giải pháp này đã được chứng minh. Thực tế quá trình phát
triển LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận cũng chỉ ra những thành tựu
và những hạn chế, đặc biệt là những tác động tiêu cực phát sinh từ những hạn chế
của những liên kết. Vì vậy, đẩy mạnh gắn kết giữa các chủ thể NN trong mối quan
hệ liên kết là rất cần thiết và tập trung giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:
- Các vấn đề gắn kết gồm: Gắn kết giữa những người có vốn, có công nghệ ở
Hà Nội với người sản xuất nông sản ở các tỉnh phụ cận; giữa những người sản xuất
21
ở các tỉnh phụ cận với những người chế biến ở Hà Nội; giữa những người thu gom
nông sản ở các tỉnh phụ cận với những người tiêu thụ nông sản ở Hà Nội; giữa
những người sản xuất với chế biến ở các tỉnh phụ cận với người tiêu thụ nông sản ở
Hà Nội; giữa những người sản xuất với những đại diện nhóm tiêu thụ nông sản (cơ
quan, nhóm bạn bè và theo khu ở…) ở Hà Nội.
- Phương thức gắn kết: Có thể thực thi các gắn kết kinh tế giữa các chủ thể nêu
trên theo 2 phương thức: gắn kết trực tiếp thông qua đầu tư chung và gắn kết gián
tiếp thông qua các quan hệ hàng hóa tiền tệ dựa trên các hợp đồng kinh tế.
- Gắn kết bằng cái gì và ai là người thực thi sự gắn kết đó: Gắn kết trực tiếp
dựa trên các quy hoạch và thực thi các gắn kết thông qua liên kết kinh doanh, hình
thành các doanh nghiệp liên kết chung như: Cùng góp vốn hình thành các doanh

22
đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân Thủ đô Hà Nội cần phải
được giải quyết triệt để. Vì vậy thiết lập lại trật tự trong hệ thống tiêu thụ nông sản
được coi là giải pháp cho Hà Nội và cần tập trung vào vấn đề sau: (1) Tổ chức và
quản lý tốt chuỗi cung ứng rau trên cơ sở liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến -
tiêu thụ nông sản. (2) Đa dạng hóa các loại chuỗi cung ứng, mở rộng về quy mô,
tăng về số lượng các nhà cung cấp, các công ty kinh doanh nông sản ở trên thị
trường Hà Nội, tăng phương tiện vận chuyển, nhà bảo quản, nhà kho, hệ thống chợ
tiêu thụ, kiểm soát chặt chẽ chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo quyền
lợi cho các tác nhân tham gia trong ngành hàng nông sản. Nông sản an toàn phải có
đăng ký và được kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào tiêu thụ ở trên thị trường.
(3) Tăng cường công tác quản lý thị trường. (4) Tổ chức, quản lý thị trường nông
sản bằng các biện pháp điều tiết cung, cầu, giá cả nông sản trên thị trường. Tăng
cường quảng bá, tiếp thị, mở rộng thị trường tiêu thụ các nông sản an toàn; (5)
Tăng cường tuyên truyền quảng bá các nông sản an toàn trên các phương tiện thông
tin đại chúng. Hướng dẫn các chủ doanh nghiệp, trang trại thường xuyên theo dõi
thông tin về sản xuất, tiêu thụ nông sản an toàn của các sở NN và Phát triển nông
thôn Hà Nội và các tỉnh phụ cận. Cập nhật thường xuyên các thông tin về các chính
sách khuyến khích sản xuất nông sản an toàn lên Trang thông tin điện tử của Hà
Nội và các tỉnh phụ cận. Xây dựng chuyên mục về phối hợp sản xuất, chế biến và
tiêu thụ nông sản an toàn giữa Hà Nội và các tỉnh phụ cận.
4.2.7. Phát triển và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng trong LKKT
giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận
Ở Hà Nội và các tỉnh phụ cận các thành viên của Hiệp hội từ cấp tỉnh đến cơ sở
được thành lập và hoạt động khá có Hội sinh vật cảnh, Hiệp hội chè. Các tổ chức
của các hiệp hội khác chưa thực sự phát triển. Vì vậy cần:
- Kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở Hội nghề thuộc ngành nông sản đã có. Hình
thành các chi hội theo ngành hàng theo từng địa phương và có kế hoạch trao đổi
hoạt động giữa các địa phương, nhất là giữa Hà Nội và các tỉnh phụ cận.
- Tuyên truyền vận động các chủ thể sản xuất kinh doanh nông sản chuyên theo

đáp ứng yêu cầu của liên kết. Các hướng triển khai được cụ thể cho từng ngành và
từng cây trồng, vật nuôi chủ yếu. Việc áp dụng tiến hành theo 2 cấp (1) từ các cơ sở
nghiên cứu, chuyển giao đến các doanh nghiệp và (2) từ DN đến các thành viên và
người lao động từng DN.
KẾT LUẬN
Phát triển LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận là yêu cầu bắt
nguồn từ những cơ sở khách quan, trong đó PCLĐ xã hội và chuỗi giá trị ngành
nông sản là những cơ sở trực tiếp. Phát triển LKKT giữa NN Hà Nội với NN các
tỉnh phụ cận có những đặc điểm khác biệt với sự LKKT NN theo vùng, do vai trò,
đặc điểm của Hà Nội và NN Hà Nội trong mối quan hệ với các tỉnh phụ cận. Ở đây,
lý thuyết về cực phát triển có cơ hội được biểu lộ, vì vậy trong mối quan hệ liên kết
đó, vai trò chủ động của Hà Nội trong mối quan hệ với NN các tỉnh phụ cận cần
được nhấn mạnh.
Từ đặc điểm đó, các vấn đề của phát triển LKKT giữa NN với NN các tỉnh phụ
cận có những điểm của LKKT theo vùng và có những đặc điểm riêng của LKKT
NN vùng Thủ đô. Trên thực tế, phát triển LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh
phụ cận có sự thay đổi về phương thức liên kết từ hành chính trực tiếp sang gián
tiếp thông qua các quan hệ của kinh tế thị trường do sự chuyển đổi của nền kinh tế
từ bao cấp sang thị trường. Các mối quan hệ có xu hướng ngày càng tăng lên về
phạm vi của các mối quan hệ liên kết, về chủ thể liên kết và về không gian của các
24
quan hệ liên kết. Xu hướng này ngày càng tăng cùng với mức độ chuyển đổi của
nền kinh tế và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế.
Phát triển LKKT giữa NN Hà Nội với NN các tỉnh phụ cận đã mang lại những
tác động tích cực cho nền kinh tế và trực tiếp là Hà Nội và các tỉnh, thành phố
thuộc vùng Hà Nội. Điểm nổi bật do phát triển LKKT mang lại là NN các tỉnh phụ
cận đã thâm nhập vào thị trường nông sản Hà Nội với ưu thế cận kề, có sức mua
cao, có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Đặc biệt, NN Hà Nội đã có những
trợ thủ đắc lực thực thi nhiệm vụ cung cấp nông sản cho cư dân Thủ đô với số
lượng đông, với yêu cầu nông sản chất lượng cao trong điều kiện nguồn lực của Hà


25DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

1.
Hoàng Mạnh Hùng (2008), “Nhu cầu thông tin, tư vấn thị trường hàng nông
sản: Những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, số 4 năm 2008, trang
20 - 22.
2.
Hoàng Mạnh Hùng (2008), “Ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ: Tăng
trưởng nhưng vẫn bộc lộ bất ổn”, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, số 4 năm 2008,
trang 26 -27.
3.
Hoàng Mạnh Hùng (2011), “Đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp - Thực
trạng và giải pháp”, Tạp chí ngân quỹ quốc gia, số 113 năm 2011, trang 10-13.
4.
Hoàng Mạnh Hùng (2011), “Kinh tế nông nghiệp Hà Nội sẽ là mô hình
mẫu”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực
ngành kinh tế tài nguyên đáp ứng nhu cầu xã hội. Đại học kinh tế quốc dân, tháng
11 năm 2011, Hà Nội, trang 163 – 166.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status