Phát triển mối liên kết kinh tế giữa nông nghiệp thủ đô hà nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN




LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS PHẠM VĂN KHÔI
2. PGS.TS NGUYỄN VĂN ÁNG

HÀ NỘI, NĂM 2014
i

Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Viện Đào tạo
sau đại học; Khoa Bất động sản và KTTN - Đại học Kinh tế quốc dân đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và công tác tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cơ quan, cá nhân đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành việc nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng tôi xin dành tình cảm thân yêu tới những người thân, bạn bè
đã giúp đỡ, động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề
tài này.
Hà Nội, tháng năm 2014
Tác giả luận án
Hoàng Mạnh Hùng

iii
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix


2.1.3. Nguyên tắc của LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô với nông nghiệp các tỉnh
phụ cận 34

2.1.4. Vai trò của LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô với nông nghiệp các tỉnh phụ cận . 36

iv
2.1.5. Nội dung của LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô với nông nghiệp các tỉnh
phụ cận 39

2.1.6. Các hình thức liên kết giữa nông nghiệp thủ đô với nông nghiệp các tỉnh
phụ cận 44

2.1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô với nông
nghiệp các tỉnh phụ cận 47

2.1.8. Đánh giá kết quả và hiệu quả của LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô với
nông nghiệp các tỉnh phụ cận 52

2.2. Cơ sở thực tiễn về LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô Hà Nội với nông
nghiệp các tỉnh phụ cận 54

2.2.1. Liên kết giữa KTNN của Thủ đô với nông nghiệp các tỉnh phụ cận của một
số nước trên thế giới 54

2.2.2. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh về LKKT nông nghiệp với các
tỉnh, thành phố phụ cận 59

2.2.3. Những bài học rút ra từ nghiên cứu các kinh nghiệm LKKT giữa nông
nghiệp các thủ đô và thành phố trong và ngoài nước 62



3.3.3 Những kết quả và những hạn chế, những vấn đề đặt ra cần giải quyết của
LKKT giữa nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh phụ cận 121

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT
KINH TẾ GIỮA NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI VỚI CÁC TỈNH PHỤ CẬN 124

4.1. Những quan điểm và phương hướng phát triển LKKT giữa nông nghiệp
Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận 124

4.1.1. Những quan điểm phát triển LKKT giữa nông nghiệp Hà Nội với nông
nghiệp các tỉnh phụ cận 124

4.1.2. Phương hướng phát triển Nông nghiệp và LKKT giữa nông nghiệp Hà Nội
với các tỉnh phụ cận 128

4.2. Các giải pháp đẩy mạnh phát triển LKKT giữa nông nghiệp Hà Nội với
nông nghiệp các tỉnh phụ cận 135

4.2.1. Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, hiểu biết về LKKT giữa nông
nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận đầy đủ, chi tiết 135

4.2.2. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, đánh giá tiềm năng và các cơ hội phát triển
mối liên kết của nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận 137

4.2.3. Nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong phát triển các mối quan hệ liên
kết giữa nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh phụ cận 139

4.2.4. Đẩy mạnh gắn kết giữa các chủ thể sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản
giữa nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận 141

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
HTX Hợp tác xã
HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
DN Doanh nghiệp
PCLĐ Phân công lao động
CMHSX Chuyên môn hóa sản xuất
HĐBT Hội đồng Bộ trưởng
LHQ Liên hiệp quốc (UN)
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GATT Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
WTO Tổ chức thương mại quốc tế
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông nam á
ĐBSH Đồng bằng Sông hồng
ÐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GDP (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm quốc nội
USD
(United States dollar) Đô la Mỹ
UBND Ủy Ban nhân dân
Sở NN & PTNT Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
GS Giáo sư
PGS Phó Giáo sư
TS Tiến sỹ
ThS Thạc sỹ
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Dân số, diện tích và mật độ dân số Hà Nội và các tỉnh phụ cận 68

Bảng 3.2. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh phụ cận giai đoạn
2000-2007 74


ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Giá trị sản xuất nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh phụ cận giai đoạn
2000-2007 75

Biểu đồ 3.2: Giá trị sản xuất nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh phụ cận giai đoạn
2008 - 2012 77

Biểu đồ 3.3: Tương quan về sản lượng cây lương thực có hạt của Hà Nội và các
tỉnh phụ cận các năm 2000 - 2007 và 2008 - 2011 84

Biểu đồ 3.4: Tương quan về số lượng đàn trâu, bò của Hà Nội và các tỉnh phụ cận
các năm 2000 - 2011 85

Biểu đồ 3.5: Tương quan về số lượng đàn lợn của Hà Nội và các tỉnh phụ cận các
năm 2000 - 2007 và 2008 – 2011 86
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Hà Nội là Thủ đô của cả nước, với vị trí địa lý nằm trong vùng trung tâm
vùng Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) nên giữ vị trí hết sức quan trọng đối với cả nước,
với các tỉnh ĐBBB, nhất là các tỉnh phụ cận Hoà Bình, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Phú
Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên và Thái Nguyên.
Đối với Hà Nội, nông nghiệp giữ vai trò cung cấp nông sản đáp ứng nhu cầu
đa dạng, phong phú và ngày càng tăng của hơn 6 triệu dân Thủ đô và một lượng
không nhỏ khách vãng lai. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hoá (ĐTH) nhanh làm thu hẹp

cường hơn nữa mối quan hệ LKKT đó.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển mối quan hệ
LKKT nông nghiệp nói chung, LKKT giữa nông nghiệp của Thủ đô Hà Nội với
nông nghiệp các tỉnh phụ cận nói riêng.
- Phân tích thực trạng phát triển mối LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô Hà Nội
với nông nghiệp các tỉnh phụ cận, chỉ ra những thành công, những hạn chế, những
vấn đề đặt ra cần giải quyết và các nguyên nhân.
- Đánh giá những tiềm năng, thách thức và thời cơ mới trong việc phát triển
các mối liên kết, đề xuất phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh phát triển LKKT
giữa nông nghiệp Thủ đô Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các mối quan hệ liên kết về kinh tế của
nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận, theo hình thức, tính chất và
lĩnh vực liên kết theo chiều dọc giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản là
chủ yếu, các mối liên kết ngang giữa các khâu của sản xuất…tuy có xuất hiện
nhưng không phải là các mối quan hệ chủ yếu, vì vậy tuy cũng là đổi tượng của
nghiên cứu, nhưng không phải là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án.
Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình
thành và tổ chức thực hiên các mối quan hệ liên kết như các đặc điểm đặc thù của
các chủ thể liên kết, vai trò của quản lý vĩ mô, sự tác động của CNH, HĐH, đặc biệt
là mức độ ĐTH của Thủ đô Hà Nội và các tỉnh phụ cận.
3

3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu các vấn đề chủ yếu như:
+ Những vấn đề lý luận về LKKT vùng, kinh tế vùng nông nghiệp. Những
biểu hiện của nó trong LKKT vùng giữa nông nghiệp thủ đô với nông nghiệp các
tỉnh phụ cận.

Ngoài ra, luận án tiếp cận và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến các mối
LKKT giữa nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận như: Các nguồn lực
của nông nghiệp Hà Nội và nông nghiệp các tỉnh phụ cận như là sự cần thiết và năng
lực thực thi các mối quan hệ liên kết; các chính sách vĩ mô như là môi trường kinh tế
và pháp lý cho các hoạt động liên kết; nhu cầu thị trường, nhất là thị trường Hà Nội
như là sự cần thiết và là đối tượng đánh giá kết quả, tác động của sự liên kết.
- Tiếp cận theo không gian nghiên cứu: Luận án tiếp cận mối liên kết theo
không gian kinh tế 2 chiều, một bên là nông nghiệp Thủ đô Hà Nội, bên kia là nông
nghiệp của các tỉnh phụ cận. Luận án không nghiên cứu mối quan hệ liên kết của
nông nghiệp giữa các tỉnh phụ cận, LKKT trong nội bộ nông nghiệp Hà Nội hay nội
bộ nông nghiệp các tỉnh.
Tuy nhiên, nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh phụ cận có không gian hoạt động
rộng với sự biến động qua các giai đoạn mở rộng địa giới hành chính của Thủ đô.
Vì vậy, để tiếp cận và phân tích đúng bản chất của các mối quan hệ liên kết luận án
đã xem xét nông nghiệp các tỉnh phụ cận theo thời gian biến đổi địa giới hành chính
mở rộng; theo đặc điểm đặc thù của nông nghiệp các tỉnh, trong đó theo điều kiện tự
nhiên, nhất là vị trí địa lý và đất đai, theo mối tương quan giữa năng lực sản xuất
nông nghiệp và nhu cầu tiêu dùng nông sản của các tỉnh phụ cận.
Luận án cũng đã xem xét các chủ thể LKKT vĩ mô, vi mô trong mối liên hệ
giữa nông nghiệp Hà Nội và nông nghiệp các tỉnh phụ cận để tiếp cận và nghiên
cứu, để nghiên cứu một cách trực tiếp các mối quan hệ liên kết theo không gian
rộng của phạm vi nghiên cứu.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở
phương pháp luận cho nghiên cứu và sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Phương pháp chuyên gia, chuyên
5

khảo được sử dụng trong việc thu thập và lựa chọn các thông tin thứ cấp có liên
quan đến luận án. Các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như:


giữa nông nghiệp Hà Nội và nông nghiệp các tỉnh phụ cận.
- Phương pháp dự đoán, dự báo: Các phương pháp dự đoán, dự báo cũng được
vận dụng trong việc định hướng các mô hình, các phương hướng liên kết, đặc biệt để
dự báo các điều kiện cho liên kết, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển các mối
LKKTgiữa nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận đến năm 2020.
- Phương pháp phân tích SWOT: Phương pháp này đã sử dụng để đánh giá
thực trạng LKKT giữa nông nghiệp Hà Nội và nông nghiệp các tỉnh phụ cận, phân
tích các nhân tố tác động đến các mối quan hệ liên kết hiện trạng cũng như những
năm 2012-2020, làm cơ sở cho đề xuất các giải pháp phát triển liên kết thuộc đối
tượng nghiên cứu những năm tới.
Để có hệ thống số liệu phân tích đề tài đã tổ chức điều tra theo phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên về các hình thức liên kết giữa các chủ thể kinh doanh nông
nghiệp của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phụ cận dưới dạng các biểu mẫu thu thập
thông tin và điều tra phỏng vấn. Cụ thể:
Tiến hành khảo sát các hiệp hội, các HTX nông nghiệp, các hộ nông dân sản
xuất nông sản, các cửa hàng cung ứng nông sản, các thương nhân nông sản… trong
đó có 30 phiếu phỏng vấn lãnh đạo 3 tỉnh (Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Ninh), 30
phiếu cho 3 huyện của 3 tỉnh (Khoái Châu, Kim Bảng, Yên Phong), và 30 phiếu cho
3 xã của 3 huyện; 200 phiếu với thương nhân, hiệp hội, doanh nghiệp nông nghiệp
và nông dân; trong đó: 100 hộ nông dân, 60 thương nhân, 40 chủ các hiệp hội,
doanh nghiệp nông nghiệp về nông sản.
Để xử lý số liệu, tác giả sử dụng Exel và sử dụng phần mềm SPSS (phân tích
tương quan hồi qui).
5. Những đóng góp mới của luận án
- Về lý luận: Luận án đã xây dựng được khung lý thuyết về phát triển LKKT
giữa nông nghiệp thủ đô với nông nghiệp các tỉnh phụ cận. Điểm đặc biệt là, luận
án đã hệ thống và phân tích khung lý thuyết chung về liên kết kinh tế, từ đó tập
trung phân tích LKKT nông nghiệp theo vùng, cụ thể hóa và phát hiện ra những
điểm mang tính đặc thù trong LKKT nông nghiệp giữa thủ đô nói chung, thủ đô Hà


1.1. Tình hình nghiên cứu về LKKT và LKKT giữa nông nghiệp Thủ đô
với nông nghiệp các tỉnh phụ cận
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Về phân công lao động (PCLĐ) xã hội và chuyên môn hóa sản xuất
(CMHSX): PCLĐ và CMHSX nói chung, trong nông nghiệp nói riêng một trong
các cơ sở khoa học của LKKT đã được các nhà khoa học nghiên cứu, nhất là các
nhà kinh tế học Mác xít.
C.Mác đã có nhiều công trình nghiên cứu về PCLĐ kể cả PCLĐ theo ngành
(trong đó có ngành nông nghiệp) và PCLĐ theo lãnh thổ, trong đó có vùng kinh tế
nông nghiệp (KTNN). Tiếp theo C.Mác, rất nhiều nhà kinh tế học Mác xít và tư sản
đã giành sự quan tâm nghiên cứu về PCLĐ xã hội. Các nghiên cứu này đủ để tạo
lập cơ sở khoa học cho nghiên cứu về LKKT nông nghiệp theo vùng và cụ thể hóa
cho nghiên cứu về LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và nông nghiệp các tỉnh phụ cận.
Luận án sẽ hệ thống và phân tích ở rõ chương 2.
Về chuỗi giá trị ngành hàng: Đã có nhiều nghiên cứu của học giả ngoài nước,
trong đó chuỗi giá trị (value chain) hay phân tích chuỗi giá trị (value chain analysis)
được chuyên gia hàng đầu về lý thuyết cạnh tranh Michael Porter (1985) mô tả và
phổ biến đầu tiên [11, 56-60].
Khung khái niệm của M.Porter xác định chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp: một
chuỗi giá trị gồm một chuỗi các hoạt động được thực hiện trong phạm vi một công
ty để sản xuất ra một sản lượng nào đó. Dựa trên khung khái niệm này, việc phân
tích chuỗi giá trị nằm trong phạm vi hoạt động của một công ty, mà mục đích cuối
cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty. Sự cạnh tranh của doanh nghiệp có
thể được phân tích bằng cách nhìn vào chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động chi tiết
khác nhau. Phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhắm vào việc hỗ trợ quyết định quản lý
và các chiến lược quản trị.
9

Một cách tiếp cận chuỗi giá trị rộng hơn, theo phương pháp “filière” - Phân

C. Mac là nhà kinh tế học đầu tiên đã nghiên cứu về thể chế kinh tế. Theo
10
Mác (1883) sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trực tiếp là quan hệ sở hữu sẽ
quyết định quan hệ lao động (tức quan hệ quản lý), trong đó có thể chế kinh tế,
được xem như là quan hệ lao động, quan hệ quản lý ở tầm vĩ mô của nền kinh tế.
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin tuy không trực tiếp đề cập đến LKKT
như là một thể chế kinh tế mà chỉ nêu lên hai cơ chế từng có mặt trong lịch sử là cơ
chế thị trường, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân và cơ chế kế hoạch hóa trên phạm vi
toàn xã hội dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; hoặc trong
phạm vi một doanh nghiệp dựa trên sự tập trung tư liệu sản xuất, [45].
C.Mác và V Lênin [67] cùng các nhà nghiên cứu khác ở Liên Xô (cũ) như V.
A Ti - khô - nốp, GA. Co-Dơ- Lốp và S.P Pe - Rơ - Vu - Sin,
đã nghiên cứu nhiều
hình thức cụ thể của liên kinh tế như phường buôn, phường hội… xuất hiện trong
lịch sử xã hội phong kiến; đặc biệt là các hình thức liên kết trong các hình thức tổ
chức của Các - ten, Xanh - đi - ca, Công - xooc - xi - om, Côn - xoc trong chủ
nghĩa tư bản thì các vấn đề của liên kết kinh tế được coi như là các nâng thang về xã
hội hóa sản xuất, là sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất khắc phục
những tiêu cực của chế độ sở hữu tư nhân trong điều kiện của xã hội hóa phát triển.
Khi nghiên cứu sâu về các hình thức liên minh công nông trong xây dựng
kinh tế dưới Chủ nghĩa xã hội trong điều kiện công hữu về tư liệu sản xuất như:
Hợp đồng đặt mua, Hiệp tác hóa các công xưởng, xí nghiệp công nghiệp, các Tổ
hợp nông nghiệp và công nghiệp trong nền kinh tế.
C.Mác cho rằng, chủ nghĩa tư bản đã tách rời nông nghiệp với công nghiệp,
do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng là việc xóa bỏ từng
bước sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn [45]. Cùng dòng tư tưởng với C.
Mác, nhà kinh tế học VA.Ti-khô-nôp, trong tác phẩm “Cơ sở kinh tế xã hội của liên
kết nông công nghiệp” cho rằng, chỉ có thể liên kết nông nghiệp với công nghiệp
khi đã bảo đảm được sự thích ứng hoàn toàn giữa tính chất xã hội của sản xuất với
hình thức xã hội của nó, tức khẳng định chỉ có thể có trong chủ nghĩa xã hội [66].

Gần đây Douglas C. North (1998) trở thành nhà nghiên cứu kinh điển về thể
chế kinh tế và trong tác phẩm “Istituation, institutional change and economic
performance” (Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế). Ông đã cho
rằng chi phí giao dịch tăng lên là do giao dịch của con người ngày càng mở rộng,
trở nên phức tạp, gia tăng rủi ro, thất bại [69]. Vì vậy nếu chúng ta liên kết 2 trường
phái lại với nhau có thể nói cách lý giải của C Mác về biến đổi cơ chế do sự phát
triển của lực lượng sản xuất và sở hữu với cách lý giải do chi phí giao dịch tăng lên
của các tác giả phương Tây tuy khác nhau nhưng không hẳn đã mâu thuẫn nhau vì
12
chính sự gia tăng tần số giao dịch mở rộng phạm vi giao dịch trong điều kiện lực
lượng sản xuất phát triển làm cho mọi chi phí giao dịch tăng lên dẫn đến sự cần
thiết phải thay đổi thể chế giao dịch. Sự biến đổi của thể chế giao dịch đến lượt nó
thúc đẩy sự chuyển đổi sở hữu.
LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và các tỉnh phụ cận là một bộ phận của LKKT
nói chung, tuy nhiên nó có những đặc điểm và vấn đề riêng của nó. Trên thế giới, các
nhà nghiên cứu không trực tiếp đề cập đến vấn đề LKKT nông nghiệp giữa thủ đô và
các tỉnh phụ cận mà chỉ tập trung bàn về hình thức liên kết ngành nông nghiệp. Từ
nhiều giác độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích các nhân tố khách
quan và chủ quan tác động đến sự phát triển quan hệ liên kết trong nông nghiệp.
Nhìn chung các tác giả ở phương Tây hiện đại đã nghiên cứu sâu và toàn
diện về LKKT nông nghiệp không chỉ nghiên cứu về cơ sở khoa học của các vấn đề
liên kết, mà còn có những nghiên cứu trực diện, với những khía cạnh tích cực mà
còn cả những khía cạnh tiêu cực của nó và chỉ ra những đặc điểm, phương pháp
thực hiện nó. Hạn chế của các nhà nghiên cứu phương Tây về LKKT nông nghiệp
là đã không thấy được nhân tố sự phát triển của lực lượng sản xuất tác động đến sự
hình thành và phát triển của liên kết kinh tế, mối quan hệ tác động qua lại giữa
LKKT và quan hệ sở hữu. Mặt khác, trong khi khẳng định tối ưu hóa chi phí giao
dịch là động lực duy nhất của LKKT thì họ lại không thấy rằng LKKT có ảnh
hưởng đến năng suất lao động, năng suất sản xuất, chi phí sản xuất nhất là chi phí
dự trữ, nghĩa là LKKT còn nhắm đến tiết kiệm chi phí sản xuất nói chung chứ

ong” (1984) [50] của tác giả Trần Đức Thịnh đã xem LKKT vừa là hình thức tổ
chức sản xuất vừa là cơ chế quản lý; sự cần thiết khách quan của LKKT là do yêu
cầu của quá trình tái sản xuất mở rộng, yêu cầu phải phát huy và kết hợp mọi lực
lượng kinh tế xã hội; chỉ ra lợi ích của liên kết kinh tế; nhấn mạnh nguyên tắc cùng
có lợi trong LKKT và đã đề cập đến nhiều hình thức liên kết kinh tế. Một vài điểm
hạn chế của nghiên cứu này là đã đồng nhất LKKT với quan hệ kinh tế, LKKT với
quan hệ quản lý kinh tế của nhà nước. Mặt khác các hình thức liên kết được trình
bày còn khiêm tốn do bị chi phối bởi thực tiễn khi đó kế hoạch hóa tập trung bao
trùm, tác động toàn bộ nền kinh tế nước ta.
Hoàng Kim Giao (1989) với công trình nghiên cứu của mình đã trở thành
nhà nghiên cứu về LKKT đã nhấn mạnh “Các hình thức LKKT trong thời kỳ quá độ
ở nước ta, chú ý đến liên kết nông công nghiệp, liên kết ngành lãnh thổ, liên kết các
thành phần kinh tế”. Ông đã nghiên cứu LKKT như là “một phạm trù kinh tế phản
ánh các mối quan hệ kinh tế về hợp tác, liên doanh, liên hợp hóa trong lĩnh vực sản
14
xuất kinh doanh của quá trình tái sản xuất xã hội” [24]. Hạn chế của tác phẩm này là
đã xem LKKT là toàn bộ mối quan hệ kinh tế trong các hình thức tổ chức LKKT
chứ chưa coi LKKT là một loại quan hệ kinh tế đặc thù trong nhiều loại quan hệ
kinh tế có trong các hình thức tổ chức xã hội đó.
Trong thời gian này, Nguyễn Đình Huấn (1989) đã có bài viết: “LKKT và
các hình thức của nó”. Ông đã đi sâu phân tích khái niệm điều kiện, thực chất và
các hình thức LKKT [34
]
. Đáng chú ý là ông có quan niệm tương tự về LKKT như
GS Hoàng Kim Giao, nhưng ông đã thấy được đặc trưng cơ bản của LKKT là quan
hệ giữa các chủ thể kinh tế độc lập với nhau thực hiện và LKKT không nằm ngoài
mà nằm trong các hình thức tổ chức sản xuất như: hiệp tác hóa, chuyên môn hóa,
liên hiệp hóa, tập trung hóa. LKKT không đồng nghĩa với hoạt động móc ngoặc phi
pháp làm thiệt hại cho xã hội và LKKT không đối lập với tính kế hoạch. Hạn chế
của nghiên cứu này là đã đồng nhất LKKT vốn là một kiểu quan hệ kinh tế nằm

LKKT ở nông thôn [22]. Tuy nhiên sự đóng góp mới của các tác giả này so với các
nhà nghiên cứu đi trước là không nhiều
PGS.TS Phan Công Nghĩa với đề tài cấp Bộ “Tăng cường LKKT giữa Hà Nội
và các tỉnh thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” năm 2008 đã chỉ ra được
mối liên kết trong các ngành kinh tế [43]. Hồ Quế Hậu - Hoàn thiện mô hình LKKT
giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải ở Việt nam năm 2007 [27].
PGS.TS Ngô Thắng Lợi - Phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến
năm 2020 năm 2010 [40]. Hồ Quế Hậu với đề tài luận án tiến sĩ “Liên kết kinh tế giữa
Doanh nghiệp chế biến nông sản với Nông dân ở Việt Nam” năm 2012 [28].
Các công trình này đã phần nào đề cập đến các nội dung có liên quan về LKKT
nói chung và liên kết nông nghiệp nói riêng. Phản ánh được về các lý luận, thực trạng
và đưa ra các kiến nghị giải pháp về LKKT và LKKT nông nghiệp. Tác động của thế
giới và thực tiễn tại Việt Nam về các khả năng LKKT và liên kết KTNN
Gần đây đã có những nghiên cứu về chuỗi giá trị trong ngành hàng, kể cả
ngành hàng nông sản như: “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ LKKT của
các Doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Đông [23]; Kinh
nghiệm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản” (2010), chủ biên
PGS.TS Đinh Văn Thành [49]. Liên kết dọc trong chuỗi giá trị nông sản: nhìn từ vụ
Bianfishco của Trần Tiến Khải… [39]. Mặc dù không phải là những nghiên cứu
trực tiếp đến liên kết kinh tế, nhưng những nghiên cứu này cũng đề cập đến tính tất
yếu của liên kết và những vấn đề có tính giải pháp của liên kết để đạt đến sự tối ưu
về giá trị của chuỗi ngành hàng nói chung, ngành hàng nông sản nói riêng.

Trích đoạn Những bài học rút ra từ nghiên cứu các kinh nghiệm LKKTgiữa nông Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội HàN ội và các tỉnh phục ận Những tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến liên kết Tốc đột ăng trưởng nông nghiệp HàN ội và các tỉnh phục ận Xu hướng chuyển dịch cơ cấu KTNN HàN ội và các tỉnh phục ận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status