TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HCM
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT THAN LÊN
KHẢ NĂNG HẤP PHỤ CHỌN LỌC KHÍ CO
2Giảng viên hướng dẫn: LÊ VĂN NHIỀU
Sinh viên thực hiện: NGÔ THỊ QUỲNH TRANG
MSSV: 08263621
Lớp: ĐHVC4
Khoá: 2008 – 2012
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2012 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HCM
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
than lên khả năng hấp phụ chọn lọc khí CO
2
Nhiệm vụ của khóa luận:
1. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ quá trình than hóa lên khả năng hấp phụ của
than Tre.
2. Khảo sát sự ảnh hưởng của phân khúc Tre lên quá trình hấp phụ của than.
3. Khảo sát ảnh hưởng của một số loài Tre lên khả năng hấp phụ của than Tre.
Ngày giao khóa luận: 12/2011
Ngày hoàn thành khóa luận: 06/2012
Giảng viên hướng dẫn: Lê Văn Nhiều
ii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Lê Văn Nhiều đã
giao đề tài và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ Tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các quý Thầy Cô Bộ môn Công nghệ Hóa đã
truyền đạt cho tôi những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian
học tập ở trường.
Tôi cũng xin cảm ơn đến Thầy và các bạn học viên – sinh viên làm việc tại
phòng thí nghiệm năng lượng sinh học, Trường đại học Bách Khoa Tp.HCM đã
nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để Tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Cảm ơn các bạn lớp ĐHVC4 đã cho tôi những lời khuyên, những lời động
viên vô cùng quý báu.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình về vật chất
cũng như động viên khích lệ tinh thần cho Tôi trong quá trình học tập và thực hiện
đề tài.
Phần đánh giá:
Ý thức thực hiện:
Nội dung thực hiện:
Hình thức trình bày:
Tổng hợp kết quả:
Điểm bằng số: Điểm bằng chữ:
Tp. Hồ Chí Minh, Ngày tháng năm 2012
Giáo viên phản biện v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1. 1. Khí sinh học 3
1.1.1. Lịch sử phát triển khí sinh học 3
1.1.2. Quá trình hình thành khí sinh học 4
1.1.3. Tính chất của khí sinh học 6
1.1.4. Tình hình sản xuất và sử dụng khí sinh học ở Việt Nam 6
1.2. Lí thuyết các quá trình hấp phụ 7
2
của than Tre Gai 45
3.1.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ hấp phụ CH
4
của than Tre Gai 47
3.1.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ hấp phụ chọn lọc của than Tre Gai 50
3.2. Khảo sát sự ảnh hưởng ảnh của các phân khúc Tre Gai 53
3.3. Khảo sát sự ảnh hưởng của loài 55
3.3.1. Tre Vàng Sọc (VS) 55
3.3.2. Tre Là Ngà (LN) 56
3.3.3. So sánh khả năng hấp phụ chọn lọc giữa các loài Tre 57
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
4.1. Kết luận 59
4.2. Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
Bảng 1.1: Thành phần biogas tham khảo 5
Bảng 1.2: Tính chất hóa lí của khí sinh học 6
Bảng 1.3: So sánh hấp phụ vật lí và hấp phụ hóa học 9
Bảng 1.4: Một số phương trình hấp phụ đẳng nhiệt thông dụng 12
Bảng 1.5: Các công nghệ nhiệt phân khác nhau 15
Bảng 1.6: Tỉ lệ sản phẩm nhiệt phân từ những nguyên liệu khác nhau ở 500
o
Hình 1.2: Mô hình đơn giản hóa quá trình nhiệt phân 15
Hình 1.3: Nguyên lý của thiết bị phản ứng dòng liên tục 22
Hình 1.4: Nguyên lý của thiết bị phản ứng tầng sôi tuần hoàn 22
Hình 1.5: Nguyên lý của thiết bị phản ứng nung chân không 23
Hình 1.6: Nguyên lý của thiết bị phản ứng xoáy dòng. 23
Hình 1.7: Thành phần nguyên tố của Tre 27
Hình 1.8 : Tre gai 30
Hình 1.9 : Tre Gai Mỡ 30
Hình 1.10: Tre Là Ngà 30
Hình 1.11: Tre Vàng Sọc 30
Hình 1.12: Than Tre dạng nguyên liệu 32
Hình 1.13: Than Tre dạng bánh 32
Hình 1.14: Sản phẩm lỏng thu được từ quá trình nhiệt phân 36
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 37
Hình 2.1 : Thiết bị than hóa. 39
Hình 2.2: Tủ sấy. 39
Hình 2.3: Cân phân tích 4 số 39
Hình 2.4: Quy trình thực nghiệm 40
Hình 2.5: Mô hình thiết bị than hóa 41
Hình 2.6: Mô hình thiết bị đo độ hấp phụ của than 42
Hình 2.7: Thiết bị đo độ hấp phụ của than 43
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
Hình 3.1: Biến thiên lượng than của từng phân khúc Tre Gai theo nhiệt độ than hóa
44
Hình 3.2: Độ hấp phụ CO
2
ở 25
o
C của than phần gốc Tre Gai 45
Hình 3.9: Độ hấp phụ chọn lọc ở 25
o
C của than phần thân Tre Gai 51
Hình 3.10: Độ hấp phụ chọn lọc ở 25
o
C của than phần ngọn Tre Gai 52
Hình 3.11: Kết quả hấp phụ chọn lọc của than tương ứng với từng phân khúc Tre
Gai ở 25
o
C 53
Hình 3.12: Kích thước của hai phân tử CH
4
và CO
2
54
Hình 3.13: Độ hấp phụ CO
2
, CH
4
của than Tre Vàng Sọc ở 25
o
C 55
Hình 3.14: Độ hấp phụ CO
2
, CH
4
của than Tre Là Ngà ở 25
o
C 56
Hình 3.15: Kết quả hấp phụ chọn lọc của than các loài Tre ở 25
triển có nền kinh tế phụ thuộc vào nông lâm nghiệp. Điều này rất phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh ở Việt Nam. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nông
lâm nghiệp, chăn nuôi phát triển đa dạng và phân bố rộng khắp cả nước. Đây chính
là nguồn nguyên liệu vô cùng to lớn mà chưa được khai thác triệt để và có những
thời điểm chính những nguồn nguyên liệu này lại là nhân tố gây ô nhiễm môi
trường. Vì vậy cần phải tiến hành nghiên cứu và dần đi vào khai thác triệt để nguồn
2
nguyên liệu này góp phần giảm thiểu sự tác động xấu lên môi trường, đồng thời góp
phần giải quyết vấn đề năng lượng hiện nay, ít nhất là giải quyết vấn đề năng lượng
phục cho sinh hoạt đời sống.
Trong đề tài này chỉ tập trung vào một trong những khía cạnh của biomass là
khí sinh học (biogas). Khí sinh học là một nhiên liệu tái tạo có thể đóng góp một
phần cho nhu cầu năng lượng của thế giới, chúng được sử dụng như nhiên liệu có
chi phí thấp ở một số nước cho mục đích sinh hoạt: nấu ăn, sưởi ấm mùa đông, điện
sinh hoạt…Ngoài ra, nó được sử dụng cho mô hình quản lý chất thải, như dùng để
chạy một vài động cơ nhiệt. Khí sinh học được tạo ra bằng cách tiêu huỷ kỵ khí
hoặc lên men các loại vật liệu phân huỷ sinh học: biomass, bùn thải, rác thải hữu cơ
ở thành thị, rác thải từ cây xanh và của ngành nông nghiệp địa phương…Đây là
nguồn năng lượng với thành phần khí CH
4
đến 55%÷65%, nhiệt trị đạt 4500÷6000
kcal/m
3
. Ở nước ta thì lượng khí sinh học chưa được tận dụng một cách triệt để hoặc
thải bỏ gây ra ô nhiễm môi trường nhất là lượng khí sinh học sinh ra từ rác thải. Để
giải quyết tình hình thiếu hụt năng lượng hiện nay thì nguồn khí sinh học này có
một ý nghĩa vô cùng to lớn nếu được ứng dụng có hiệu quả. Khí sinh học thường
được sử dụng một cách truyền thống là làm nhiên liệu đốt trực tiếp đề sản xuất điện
3
phân ngựa, tiến hành lên men ở 35
o
C. Ông đã khẳng định rằng, đây
chính là nguồn năng lượng hiệu quả cung cấp cho nhu cầu thắp sáng đường phố
Paris. Vào năm 1897, đèn trên đường phố Exeter bắt đầu được thắp sáng bằng cách
sử dụng năng lựợng của khí sinh học thu được từ nước thải. Sự phát triển này đã
cho ta thấy được rất nhiều khí sinh học có thể được tạo ra bằng lên men kỵ khí từ
nước thải. Tuy vậy, hầu như khí sinh học vẫn là những khí thải trong không khí vào
thời điểm đó. Vào năm 1904, Travis đã cố gắng lắp đặt hệ thống thiết bị qua hai
bước xử lý, kết nối với nhà máy xử lý nước thải để thu hồi khí CH
4
. Vào năm 1906,
Sohngen đã tích trữ lượng acetat trong hệ thống thiết bị qua 2 bước xử lý, Ông đã
thu hồi được CH
4
từ 3 nguyên liệu cơ bản: HCOOCH
3
, H
2
, CO
2
Ở Đức khí CH
4
lần đầu tiên được bán phổ biến cho người dân tiêu thụ vào
năm 1923, một năm sau thực tế này trở nên phổ biến hơn rất nhiều ở châu Âu. Cho
đến khi chiến tranh thế giới thứ 2 xảy ra, việc sử dụng khí sinh học càng trở nên phổ
biến hơn nữa, và người ta cố gắng phát triển nhiều hệ thống thiết bị hiệu quả hơn
nữa.
không những được áp dụng ở Đức mà các nước ở châu Âu, châu Mỹ, Trung Quốc,
Ấn Độ, Nepal… cũng áp dụng những kỹ thuật tương tự cho sự phân huỷ chất thải
hữu cơ để thu hồi khí sinh học.
1.1.2. Quá trình hình thành khí sinh học
Khí sinh học là hỗn hợp khí được hình thành bằng cách phân hủy sinh học các
hợp chất hữu cơ bởi những vi sinh vật trong điều kiện thiếu oxy không khí. Nguồn
gốc của chúng là từ vật chất có nguồn gốc sinh học và được xếp vào một trong
những loại nhiên liệu sinh học. Khí sinh học được tạo ra bằng cách tiêu huỷ kỵ khí
hoặc lên men các loại vật liệu phân huỷ sinh học: biomass, bùn thải, rác thải hữu cơ
ở thành thị, rác thải từ cây xanh và của ngành nông nghiệp địa phương…
Quá trình xử lý sinh học kỵ khí là quá trình khoáng hóa các chất thải hữu cơ
nhờ vi sinh vật ở điều kiện không có oxy. Sản phẩm của quá trình này là hỗn hợp
5
của nhiều loại khí khác nhau bao gồm: CH
4
, CO
2
, H
2
S, NH
3
, H
2
, N
2
, hơi nước,
mercaptan, siloxane và một lượng nhỏ các tạp khí khác. Hàm lượng các thành phần
của biogas phụ thuộc nhiều yếu tố như: quy trình công nghệ, nguyên liệu đầu vào,
y
N
z
+ mCH
4
+ sCO
2
+ rH
2
O + (d-nx)NH
3
(s = a – nw – w và r = c – ny – 2s)
Quá trình phân hủy kỵ khí bao gồm một chuỗi các phản ứng trong đó các hợp
chất hữu cơ sẽ được phân hủy thông qua con đường chuyển hóa của các vi sinh vật
một cách tự nhiên trong điều kiện môi trường không có oxy. Giai đoạn sản xuất
biogas là khâu quan trọng nhất của quá trình phân hủy kỵ khí. Trong hầu hết các
quá trình chuyển hoá kỵ khí, CO
2
và CH
4
chiếm hơn 99% tổng lượng khí sinh ra
trong đó CH
4
chiếm từ 55%÷65%, CO
2
khoảng 35%÷45% và lượng ít các khí khác.
Bảng 1.1 giới thiệu thành phần tham khảo của một hỗn hợp khí biogas. [13]
Bảng 1.1: Thành phần biogas tham khảo
TT Thành phần Tỷ lệ, %
lượng khí chiếm đa số CH
4
chứa trong biogas. Lượng khí CH
4
chiếm thể tích càng
cao thì biogas có nhiệt trị càng cao. Do đó nhiệt trị của biogas khoảng 4500÷6000
kcal/m
3
(Hesse, 1982) tùy thuộc hàm lượng của CH
4
hiện diện trong biogas. Trong
bảng 1.2 giới thiệu một số tính chất lý, hóa của biogas.[13]
Bảng 1.2: Tính chất hóa lí của khí sinh học
Thông số Đơn vị CH
4
CO
2
H
2
H
2
S
Tỉ lệ thể tích % 55÷70 27÷44 1.0 3.0
Giá trị năng
lượng
kJ/Nm
3
35800 - 11800 22800
Giới hạn cháy
nổ
thể đun nấu bình thường, nhưng để làm nhiên liệu chạy máy phát điện cần phải qua
quy trình công nghệ lọc chất độc hại và điều áp, tạo kết cấu áp lực đầu vào của gas
thấp. Máy phát điện chạy bằng khí sinh học có cấu tạo như máy phát điện chạy
bằng xăng nhưng có thay đổi ở hệ thống đánh lửa và có lắp đặt thêm một bộ phối
trộn với khí sinh học vào bộ chế hoà khí. Động cơ máy phát điện chạy khí sinh học
là loại động cơ 4 thì, có công suất 1.5kW với vòng quay khoảng 3000vòng/phút và
đường kính xi lanh 60mm, hành trình pitton 46mm. Động cơ chạy khí sinh học đã
vận hành ổn định với công suất 650W và nghiên cứu chuyển đổi động cơ máy phát
điện chạy bằng xăng sang chạy bằng biogas đã qua xử lý nhằm khai thác nguồn
nhiên liệu sẵn có, giá rẻ và không bao giờ cạn kiệt ở nông thôn.
1.2. Lí thuyết các quá trình hấp phụ
1.2.1. Hấp phụ trên bề mặt chất rắn
[5], [6], [7]
Bên trong một vật rắn thường bao gồm các nguyên tử (ion hoặc phân tử), giữa
chúng có các liên kết cân bằng để tạo ra các mạng liên kết cứng (chất vô định hình)
hoặc các mạng tinh thể có quy luật (chất tinh thể). Trong khi đó các nguyên tử (ion
hoặc phân tử) nằm ở bề mặt ngoài không được cân bằng liên kết, do đó vật rắn luôn
có khuynh hướng thu hút và giữ lại trên bề mặt những chất khác bằng những lực
liên kết. Khi chất khí hoặc lỏng thu hút và liên kết trên bề mặt chất rắn thì kết quả là
nồng độ của khí hoặc lỏng trên pha bề mặt lớn hơn trong pha thể tích. Người ta gọi
đó là hiện tượng hấp phụ. Sự cân bằng lực được thiết lập bởi sự hấp phụ khí (lỏng)
trên bề mặt chất rắn. Chất có bề mặt thực hiện sự hấp phụ gọi là chất hấp phụ. Chất
8
bị thu hút lên bề mặt chất hấp phụ gọi là chất bị hấp phụ.
Hấp phụ chất khí lên bề mặt rắn hoặc lỏng là một quá trình tự xảy ra kèm theo
với sự giảm năng lượng tự do của hệ. Hơn nữa chất khí bị hấp phụ thì sẽ giảm độ tự
do so với khi ở trạng thái khí. Kết quả là entropy của hệ giảm trong suốt quá trình
hoạt hóa bề mặt chất hấp phụ, bản chất của chất hấp phụ và chất bị hấp phụ, và
nhiệt hấp phụ. Ví dụ quá trình hấp phụ oxy lên than hoạt tính là quá trình hấp phụ
vật lí xảy ra ở một phạm vi rộng khi nhiệt hấp phụ là -100
o
C, và khi ở nhiệt độ
phòng hoặc cao hơn thì nó là quá trình hấp phụ hóa học.
Bảng 1.3: So sánh hấp phụ vật lí và hấp phụ hóa học
Thuộc tính Hấp phụ vật lí Hấp phụ hóa học
Nhiệt hấp phụ
Bằng hoặc thấp hơn nhiệt
ngưng tụ của chất bị hấp phụ
Hầu như không có
vùng giới hạn
Enthanpy hấp phụ 10-20 kJ/mol 40-400 kJ/mol
Đặc trưng tinh thể
Không phụ thuộc vào cấu trúc
hình học bề mặt
Có sự khác nhau rõ ràng
giữa các mặt tinh thể
Bản chất Thuận nghịch Không thuận nghịch
Lượng chất bị hấp phụ Đa lớp Đơn lớp
Động học hấp phụ Không cần hoạt hóa, nhanh Hấp phụ hoạt hóa
Lực liên kết Vander Waals, liên kết hydro…
Lực ion, liên kết cộ
ng hóa
trị, liên kết phối trí…
1.2.2. Cân bằng hấp phụ và các phương trình đẳng nhiệt hấp phụ
1.2.2.1. Cân bằng hấp phụ
Quá trình hấp phụ là một quá trình thuận nghịch. Các phân tử chất bị hấp phụ
không thay đổi.
=
(
)
=
(1) (2) (3)
Hình 1.1: Các loại đường hấp phụ
Trong đó:
(1) Đường hấp đẳng nhiệt
11
(2) Đường hấp phụ đẳng áp
(3) Đường hấp phụ đẳng lượng
Trong thực tế thì quá trình hấp phụ đẳng nhiệt được sử dụng rộng rãi vì sự đầu
tư cho một quy trình hấp phụ ở nhiệt độ không đổi là thuận lợi nhất. Hơn nữa những
phân tích lí thuyết hấp phụ thường là hấp phụ đẳng nhiệt, chứ không phải là quá
trình hấp phụ đẳng áp hay đẳng lượng. Hấp phụ đẳng áp ít được sử dụng và rất
hiếm khi dùng đo lượng chất hấp phụ. Hấp phụ đẳng áp thường dùng để xác định cơ
chế hấp phụ trong một hệ thống cụ thể. Hấp phụ đẳng lượng để xác định nhiệt hấp
phụ dựa vào phương trình Clasius-Clapeyron. Trong hấp phụ đẳng nhiệt người ta
thường biểu diễn lượng chất bị hấp phụ là millimoles (mmol) của khí (hơi) trên 1g
chất hấp phụ.
1.2.2.2. Các phương trình đẳng nhiệt hấp phụ
Hấp phụ đẳng nhiệt là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để biểu diễn
=
=
.
1
+
.
Vật lí và hóa học
Henry V= k.P Vật lí và hóa học
Freundlich
=
.
/
(n>1)
Vật lí và hóa học
Temkin V = k
T
.logk.P Hóa học
Vật lý
Trong các phương trình trên thì V là thể tích chất bị hấp phụ tính cho một gam
chất rắn, V
m
là thể tích chất hấp phụ cần thiết để tạo ra một đơn lớp chất bị hấp phụ
trên bề mặt một gam chất rắn ở áp suất cân bằng P, P
0
áp suất hơi bão hòa của chất
bị hấp phụ, =
gọi là phần bề mặt bị hấp phụ. Các kí hiệu còn lại là hằng số.
1.2.3. Một số chất hấp phụ trong công nghiệp
1.2.3.1. Zeolite
Là dạng khoáng từ aluminosilicat, là khoáng tự nhiên được tổng hợp để phát
triển những đặc tính quý giá của nó. Zeolit được gọi là “rây phân tử” nghĩa là tách
được các chất dựa vào sự khác nhau về kích thước phân tử. Quá trình tách xảy ra
13
nhờ mạng tinh thể tạo ra cấu trúc giống như các “lồng”, trên “lồng” có các “cửa sổ”
có kích thước nhất định chỉ cho phép những phân tử nhỏ hơn đi qua.
1.2.3.2. Silicagel
Tác dụng muối silicat với axit mạnh tạo thành tủa dưới dạng keo polyme tổ
hợp từ các hạt rất nhỏ, chứa nhiều nước. Sau đó, tiến hành sấy ở 120
o
C÷150
o
C làm
luyện kim. Vào những năm 1700, nhiệt phân than được thực hiện để sản xuất than
cốc thay thế cho than trong công nghiệp luyện kim và để sản xuất khí dùng để thắp
sáng. Đầu những năm 1800, việc sản xuất nhiên liệu khí bởi quá trình nhiệt phân
than được sử dụng cho việc thắp sáng ở đường phố, trước tiên là ở London, sau đó
là Newyork, Baltimore và một loạt thành phố lớn khác trên thế giới. Theo thời gian,
kỹ thuật khí hoá và hoá lỏng đã chứng tỏ rằng việc chuyển than thành nhiên liệu khí
và lỏng là có hiệu quả hơn. Việc khám phá ra trữ lượng lớn dầu thô với chi phí thấp,
đã chấm dứt việc áp dụng vào thương mại trong thực tế cho việc chuyển đổi than,
đá phiến có dầu thành nhiên liệu khí và lỏng bởi nhiệt phân và những kỹ thuật khác.
Sau đó, để cố gắng phát triển kỹ thuật này đã tiếp tục nghiên cứu ở Mỹ, Nhật Bản,
Braxin và một số nước ở châu Âu nhằm đáp ứng lại tình hình khủng hoảng năng
lượng thế giới và cũng là kỹ thuật cho việc tái sử dụng lại rác thải. Việc đưa ra tầm
quan trọng của môi trường đã tìm lại được sự quan tâm đến nhiệt phân biomass ở
nhiệt độ thấp cho sản phẩm nhiên liệu sinh học và nhiệt phân ở nhiệt độ cao cho sự
phá huỷ những chất thải nguy hiểm. Ngày nay, nhiệt phân biomass được thu hút bởi
vì biomass rắn và chất thải rất khó và tốn kém để quản lý, và nó cũng sẵn sàng biến
đổi thành sản phẩm khí, lỏng. Những sản phẩm lỏng này như dầu thô bio thuận lợi
trong vận chuyển, lưu trữ, đốt cháy và linh động trong sản xuất và thị trường. Mặt
khác, với cách thức đốt trực tiếp thì hiệu quả năng lượng thấp và làm ô nhiễm
không khí.
1.3.1. Khái niệm
Nhiệt phân là sự phân huỷ hoá học của vật liệu hữu cơ bởi nhiệt trong điều
kiện không có oxy.Sản phẩm của quá trình nhiệt phân là khí, dầu nhiệt phân và
than. Tỉ lệ sản phẩm nhiệt phân phụ thuộc vào phương pháp nhiệt phân, tính chất
nguyên liệu, thiết bị sử dụng cho quá trình [22]