Cố phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay - Pdf 23

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở việt nam hiện nay
lý luận và thực tiễn
PHN M U
Cụng ty c phn l mt hỡnh thc t chc sn xut tin b trong nn kinh
t th trng. nhiu quc gia v vựng lónh th trờn th gii, vic sp xp
chuyn i mt s doanh nghip thnh cụng ty c phn, tin ti hỡnh thnh cỏc
tp on cụng ty a quc gia mnh, hot ng cú hiu qu th trng trong
nc v vn ra th trng quc t l con ng hu hiu i mi khu vc
kinh t nh nc.
nc ta, c phn hoỏ l mt ch trng ln ca ng v Nh nc, l
mt gii phỏp quan trng sp xp li, i mi, phỏt trin v nõng cao hiu qu
hot ng ca cỏc doanh nghip nh nc.
Thc tin hn mi nm thc hin ch trng c phn hoỏ ó khng nh,
c phn hoỏ l quỏ trỡnh a dng hoỏ ch s hu i vi doanh nghip nh nc
nhm thu hỳt cỏc ngun vn v kinh nghim t chc sn xut t cỏc nh u t
v ngi lao ng, to c s cho vic i mi cỏc quan h qun lý v phõn phi
sn phm, to ng lc mi, phỏt huy quyn t ch kinh doanh, nõng cao hiu
qu v sc cnh tranh ca doanh nghip, thỳc y quỏ trỡnh tớch t tp trung vn
nhm hin i hoỏ nn kinh t. C phn hoỏ nc ta khụng phi l t nhõn hoỏ,
khụng bin cỏc cụng ty c phn thnh cụng ty ca mt s ớt c ụng hay ca mt
s cỏ nhõn, m lm cho ụng o ngi lao ng u cú c phn, tr thnh
ngi ch thc s ca cụng ty.
Chớnh vỡ vy, Ngh quyt Hi ngh ln th ba Ban Chp hnh Trung ng
ng khoỏ IX ó ch rừ: Mc tiờu c phn hoỏ cỏc doanh nghip nh nc l
nhm to ra loi hỡnh doanh nghip cú nhiu ch s hu, trong ú cú ụng o
ngi lao ng, s dng cú hiu qu vn, ti sn ca Nh nc v huy ng
thờm vn xó hi vo phỏt trin sn xut kinh doanh, to ng lc mnh m v c
ch qun lý nng ng cú hiu qu cho doanh nghip nh nc; phỏt huy vai trũ
lm ch thc s ca ngi lao ng, ca c ụng v tng cng giỏm sỏt ca xó
hi i vi doanh nghip.
C phn hoỏ doanh nghip nh nc nõng cao nng lc cnh tranh ca

công ty trách nhiệm hữu hạn”. Định nghĩa này của Luật doanh nghiệp nhà nước
năm 2003 chứa đựng nhiều điểm mới phản ánh những thay đổi khá cơ bản trong
nhận thức của các nhà lập pháp và hoạch định chính sách của nước ra đối với
thành phần kinh tế nhà nước cũng như các thành phần kinh tế khác. Khái niệm
doanh nghiệp nhà nước năm 2003 chứa đựng một số điểm mới cơ bản sau đây:
Thứ nhất, việc xác định doanh nghiệp nhà nước không hoàn toàn dựa vào
tiêu chí sở hữu như trước đây.2
Thứ hai, thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu trong
một doanh nghiệp nhà nước.
Thứ ba, pháp luật hiện hành thừa nhận khả năng chuyển đổi doanh nghiệp
nhà nước thành doanh nghiệp thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng,
mua bán cổ phần.
Thứ tư, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp
nhà nước năm 2003 không dựa vào tiêu chuẩn sở hữu và quản lý như đIều kiện
cần và đủ. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhà nước hiện nay là quyền kiếm soát
và chi phối doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam là vấn đề nhạy cảm về chính trị và cũng là vấn đề bức xúc
về mặt pháp lý kinh tế. Hiến pháp 1992 và các văn bản pháp luật khác của Nhà
nước đã khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước mà trong đó doanh
nghiệp nhà nước có vị trí quan trọng. Tồn tại với tư cách là nhân tố trọng yếu
trong vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đang đối mặt
với mâu thuẫn giữa thực trạng hoạt độn với sứ mạng được giao phó. ở Việt Nam,
doanh nghiệp nhà nước trước đây được gọi là xí nghiệp quốc doanh đã phát triển
với quy mố và số lượng lớn trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và được xác
định là thành phần kinh tế chủ đạo. Doanh nghiệp nhà nước đã đóng vàI trò quan
trọng trong việc củng cố nền tảng kinh tế, xã hội của nước ta, góp phần xứng

phiếu để trở thành công ty cổ phần.
2.2. Thực chất của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Để xác định thực chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, trước hết
phải phân biệt hai quá trình: Cổ phần hoá và Tư nhân hoá.
Trong đời sống kinh tế ở nhiều nước đã diễn ra quá trình tăng cường vai
trò của khu vực tư nhân bằng cách giảm thiểu khu vực nhà nước thông qua
chương trình tư nhân hoá. Ví dụ tư nhân hoá ở nước Anh, tư nhân hoá các nước
đang phát triển, tư nhân hoá ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi như ở Liên
Xô (cũ) và Đông Âu... Tại các nước này, tư nhân hoá diễn ra theo ba mức độ : “
1) Thay đổi một phần chế độ sở hữu của xí nghiệp, chuyển một phần từ sở hữu
nhà nước sang sở hữu tư nhân; 2) Tự do hóa việc tham gia những hoạt động mà
trước đây chỉ dành cho khu vực nhà nước; 3) Ủy quyền kinh doanh hoặc cho
phép tư nhân ký hợp đồng thực hiện những dịch vụ công cộng hoặc cho khu vực
tư nhân thuê các tài sản công cộng”.
Cũng tại các nước này, tư nhân hoá còn được hiểu là thị trường hoá, “Nới
lỏng hay bỏ bớt các hạn chế pháp lý dưới nhiều hình thức khác nhau đối với sự
cạnh tranh chống lại các xí nghiệp công cộng”, nó “bao gồm mọi chính sách để
khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công cộng và 4
hạ tầng cơ sở và có khuynh hướng loại trừ hoặc thay đổi vị trí độc quyền của các
doanh nghiệp nhà nước”.
Liên hiệp quốc cũng đưa ra quan niệm: “Tư nhân hoá là sự biến đổi tương
quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo
hướng ưu tiên thị trường”. Quan niệm này cho thấy toàn bộ những chính sách,
luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích, mở rộng và phát triển khu vực kinh tế tư
nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt sự can thiệp trực
tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị cơ sở, dành cho
thị trường vai trò điều tiết đáng kể qua tự do hoá giá cả. Thực chất quan niệm

phần hoá nói chung nêu trên. Để làm rõ hơn nữa thực chất của cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước, cần phải theo dõi cách thức mà các doanh nghiệp nhà
nước chuyển hành công ty cổ phần như thế nào? Thực tế ở các nước, doanh
nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần thông qua một trong hai cách
thức: Một, bán toàn bộ hoặc một phần tài sản hiện có thuộc sở hữu nhà nước tại
doanh nghiệp cho các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân (công chúng) bằng
phương thức phát hành cổ phiếu; Hai, giữ nguyên toàn bộ giá trị tiền vốn hiện có
của Nhà nước tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu ra công chúng để thu hút
thêm vốn mở rộng doanh nghiệp. Cả hai phương thức đều là các quá trình cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước - quá trình chuyển sang một hình thức sở hữu
xã hội có các chủ sở hữu cụ thể. Quá trình này đồng thời chuyển việc quản lý
trực tiếp doanh nghiệp từ chủ sở hữu nhà nước thành quản lý gián tiếp của chủ
sở hữu là các cổ đông thông qua Hội đồng quản trị. Với phương thức trên, không
thể quan niệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là tư nhân hoá, cũng không
nên phiến diện cho rằng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chỉ là quá trình
chuyển tài sản thuộc sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông. Thực chất cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển doanh nghiệp thuộc sở hữu
nhà nước thành công ty cổ phần, là quá trình đa dạng hoá sở hữu tại doanh
nghiệp vốn thuộc sở hữu nhà nước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị
trường và kinh doanh hiện đại. Quá trình này đã và đang diễn ra ở nhiều nước
trên thế giới. Ngay cả ở các nước Tư bản chủ nghĩa đã diễn ra cái gọi là tư nhân
hoá doanh nghiệp nhà nước, nhưng ngoài các doanh nghiệp nhà nước chuyển sở
hữu thành công ty tư nhân, vẫn có các doanh nghiệp nhà nước chuyển sở hữu
thành công ty cổ phần - thực chất đây là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Như vậy cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không phải là tư nhân hoá,
nhưng giữa cổ phần hoá và tư nhân hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau, tuy
nhiên chúng luôn là khái niệm có ranh giới phân biệt. Sự phân biệt này phụ
thuộc vào mức độ chuyển đổi vốn và tài sản.
II. Thực trạng doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
1. Thực trạng doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hoá

về kỹ thuật và công nghệ của các doanh nghiệp còn lạI, tổng giá trị sản phẩm
tuyệt đối của kinh tế nhà nước cũng như tỷ trọng trong tổng sản phẩm không
những không giảm mà còn tăng lên đáng kể.
2. Thực trạng doanh nghiệp nhà nước từ sau khi cổ phần hoá đến nay
2.1. Những thành tựu đã đạt được7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status