Phát triển các hoạt động hỗ trợ khách hàng thông qua giao dịch trực tuyến tại CTCP chứng khoán Châu Á Thái Bình Dương - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Làm thế nào để thu hút được nhà đầu tư đến với công ty mình để tham
gia vào TTCK và quan trọng hơn là giữ được họ ở lại lâu dài bên mình? Đây
là một câu hỏi lớn đặt ra cho bất cứ CTCK nào. Đối với TTCK Việt Nam,
một thị trường còn non trẻ thì câu hỏi này càng trở nên có ý nghĩa.
TTCK ngày càng phát triển chuyên nghiệp hơn, mức độ cạnh tranh giữa
các CTCK ngày càng cao đòi hỏi các công ty phải có chiến lược rõ ràng đồng
thời năng lực cạnh tranh phải cao, điều này biểu hiện cụ thể ở các hoạt động
hỗ trợ khách hàng trong quá trình giao dịch.
Trên thực tế nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán rất đa dạng: nhà đầu
tư là doanh nhân, nhà đầu tư là các nhân viên công ty làm việc ở các lĩnh vực
khác TTCK… do đó mà không phải lúc nào họ cũng có thể đến CTCK để
thực hiện các giao dịch của mình hay tìm hiểu những thông tin liên quan đến
thị trường. Nhưng nhiều CTCK lại chưa chú trọng đến việc đầu tư công nghệ,
các hoạt động hỗ trợ khách hàng còn nghèo nàn làm cho năng lực cạnh tranh
trên thị trường yếu. Chính vì thế mà việc phát triển các hoạt động hỗ trợ
khách hàng thông qua giao dịch trực tuyến của CTCK lại trở nên cần thiết và
không thể thiếu được đối với sự tồn tại và phát triển của các CTCK. Đây
cũng là một xu hướng phát triển tất yếu ở TTCK Việt Nam và của các nước
trên thế giới, nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao văn hóa đầu
tư cho công chúng và thu hút nhà đầu tư về với công ty mình. Tuy nhiên trên
TTCK Việt Nam hiện nay, các hoạt động hỗ trợ khách hàng thông qua giao
dịch trực tuyến vẫn chưa phát triển một các chuyên nghiệp và hiệu quả.
Những suy nghĩ trên cùng với quá trình quan sát trực tiếp việc triển khai
các dịch vụ này trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần chứng khoán
Châu Á - Thái Bình Dương đã dẫn tôi đi đến quyết định lựa chọn đề tài:
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
CHƯƠNG 1: CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC HOẠT
ĐỘNG HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG THÔNG QUA GIAO DỊCH
TRỰC TUYẾN
1.1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của CTCK
1.1.1.1. Khái niệm CTCK
Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền kinh tế
thị trường. Một trong những chỉ tiêu quan trọng và chính xác để đo lường
mức độ phát triển của một nền kinh tế đó là sự phát triển của TTCK.
Sản phẩm trên TTCK không giống với các hàng hóa thông thường khác
ở chỗ chúng là những hàng hóa đặc biệt. Đó không phải là những sản phẩm
hữu hình mà đó là những sản phẩm tài chính còn được gọi với tên phổ biến là
chứng khoán. Thực ra hình thức thể hiện của chứng khoán cũng giống như
tiền – tức là không có giá trị nội tại. Giá trị của chứng khoán chính là các cam
kết lợi ích mà tổ chức phát hành mang lại với những điều kiện ràng buộc cụ
thể. Thuộc tính gắn liền với chứng khoán là tính sinh lợi, tính rủi ro và tính
thanh khoản. Chính vì những đặc điểm này đã làm chứng khoán trở thành một
loại hàng hóa cao cấp, mà việc xác định giá trị thật không đơn giản. Trên
TTCK, không phải trực tiếp những người muốn mua hay bán chứng khoán
trao đổi với nhau mà mọi giao dịch phải được thực hiện qua khâu trung gian,
đó là các CTCK. Trung gian là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTCK
để đảm bảo tính trật tự trên thị trường, hỗ trợ cho công tác quản lý thị trường
đồng thời đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư. Chính vì thế trên TTCK phải có
các nhà môi giới để đảm nhiệm khâu trung gian này.
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK cho thấy ban đầu các nhà
môi giới thường là cá nhân hoạt động độc lập sau đó trải qua quá trình hoạt
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành

các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, sản phẩm và dịch vụ mà CTCK cung cấp
đều liên quan đến chứng khoán đã làm cho CTCK mang những đặc trưng
khác riêng. Không những thế các CTCK ở các nước khác nhau cũng có thể có
điểm khác nhau, thậm chí ở trong cùng một quốc gia các CTCK vẫn có nhiều
sự khác biệt tùy thuộc vào tính chất hoạt động của công ty và mức độ phát
triển của thị trường. Song xét về bản chất các CTCK có một số đặc trưng cơ
bản sau :
• Về loại hình tổ chức của CTCK
Trong lịch sử và trên thực tế, CTCK đã từng được tồn tại dưới nhiều loại
hình tổ chức như công ty cổ phần, doanh nghiệp góp vốn, doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp liên doanh. Mỗi loại hình này
đều có những ưu thế, bất lợi riêng, trong đó loại hình doanh nghiệp: công ty cổ
phần và công ty trách nhiệm hữu hạn với những ưu điểm về quyền sở hữu, khả
năng huy động vốn, năng lực điều hành, tư cách pháp lý… rất phù hợp với
nghiệp vụ chứng khoán đã trở thành sự lựa chọn phổ biến ở các quốc gia.
• Về mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán
Việc xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK không đơn giản
chỉ là quyết định của bản thân công ty mà hơn thế nó mang tính pháp luật, thể
hiện ở chỗ: những người làm công tác quản lý Nhà nước sẽ cân nhắc, lựa
chọn ra mô hình phù hợp nhất với đặc điểm của hệ thống tài chính, hệ thống
pháp luật, mức độ phát triển của nền kinh tế. Từ đó, các CTCK chỉ được phép
hoạt động theo những mô hình đã lựa chọn.
Hiện nay, trên thế giới có hai mô hình phổ biến về CTCK:
- Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các CTCK
độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân
hàng không đuợc tham gia vào kinh doanh chứng khoán.

thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng nếu các ngân
hàng không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh tiền tệ và kinh doanh
chứng khoán.
• Về tính chuyên môn hóa và phân cấp quản lý
Các CTCK chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ phận, từng
phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ.
Nếu như ở các doanh nghiệp sản xuất, trong quy trình sản xuất sản phẩm
giữa các khâu phải có mắt xích kết nối, một sản phẩm ra đời nó phải trải qua tất
cả các công đoạn một, không thể thiếu một công đoạn nào. Trong khi đó, toàn bộ
các nghiệp vụ của CTCK đều phục vụ cho các giao dịch chứng khoán những
mỗi một nghiệp vụ lại liên quan đến một góc cạnh riêng. Các phòng ban khác
nhau đảm nhiệm các công việc khác nhau như: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát
hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và ngay cả trong từng bộ phận các công việc
đều được phân công cụ thể, rõ ràng đến từng nhân viên.
Từ trình độ chuyên môn hóa cao độ dẫn đến phân cấp quản lý và làm
nảy sinh việc có quyền tự quyết. Các bộ phận trong CTCK nhiều khi không
phụ thuộc lẫn nhau (ví dụ bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay môi giới
và bộ phận bảo lãnh phát hành). Giữa các phòng ban có một sự độc lập tương
đối, mối liên kết không phải mật thiết, hữu cơ như trong các doanh nghiệp sản
xuất khác. Chính vì vậy hoạt động hay cơ cấu của phòng ban này không tác
động nhiều đến phòng ban khác.
• Về nhân tố con người
Sản phẩm càng trừu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng. Chứng
khoán là một loại tài sản tài chính đặc biệt mà việc thẩm định chất lượng của
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
nó không phải giống như hàng hóa thông thường. Sự có mặt của môi giới trên
TTCK là cần thiết khi người đầu tư không biết được nhiều thông tin hay
không có khả năng phân tích thông tin một cách thích hợp để từ đó đánh giá

Thị trường tài chính, TTCK càng phát triển càng tạo ra nhiều công cụ tài
chính, có thêm nhiều dịch vụ, mở rộng phạm vi kinh doanh và quan đó một
mặt tạo cơ hội thu lợi nhuận cho CTCK, mặt khác buộc các CTCK phải cải
tiến, sáng tạo không ngừng để thích nghi với môi trường hoạt động.
Tùy thuộc vào mức độ phát triển, quy mô của thị trường, phương thức
kinh doanh của chủ sở hữu, khách hàng… cơ cấu tổ chức của các CTCK cũng
khác nhau để đáp ứng những nhu cầu riêng, từ đơn giản đến phức tạp. Nếu ở
một số nước như Mỹ, Nhật Bản CTCK có cơ cấu tổ chức rất phức tạp thì ở
các nước mới có TTCK như ở Đông Âu, Trung Quốc cơ cấu tổ chức của các
CTCK lại đơn giản hơn nhiều.
• Về cơ cấu tổ chức của CTCK
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào quy mô kinh doanh và các
nghiệp vụ mà công ty được phép hoạt động. Mặt khác nó còn căn cứ vào tính
chất sở hữu của CTCK.
Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một CTCK chia thành 2 khối
chủ yếu: khối nghiệp vụ và khối phụ trợ.
- Khối nghiệp vụ: khối này thực hiện các giao dịch chứng khoán và tạo
ra phần lợi nhuận chủ yếu cho công ty. Tương ứng với các nghiệp vụ do khối
này đảm nhiệm sẽ có những phòng ban nhất định, gồm
+ Phòng môi giới
+ Phòng tự doanh
+ Phong bảo lãnh phát hành
+ Phòng quản lý danh mục đầu tư
+ Phòng tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
+ Phòng ký quỹ
- Khối phụ trợ: khối này không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh mà có chức năng phụ trợ cho các nghiệp vụ này. Thông thường khối

họ. Mặt khác nguyên tắc trung gian của TTCK không cho phép nhà đầu tư và
nhà phát hành trực tiếp mua bán chứng khoán mà phải thông qua tổ chức trung
gian mua bán. Do vậy, các CTCK với cơ cấu tổ chức thích hợp, trình độ chuyên
môn, thành thạo nghiệp vụ thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành, đại lý phát
hành giúp di chuyển dòng vốn từ nhà đầu tư đến tổ chức phát hành.
• Vai trò đối với nhà đầu tư
Trên TTCK, giá cả các loại hàng hóa biến động thường xuyên. Trong khi
đó các nhà đầu tư không phải ai cũng có đủ điều kiện, khả năng nắm bắt hoặc
xử lý được các thông tin, diễn biến trên TTCK để xác định đúng giá trị các
chứng khoán đó.
CTCK có đặc thù riêng. CTCK trở thành nơi tập hợp những nguồn thông
tin đáng tin cậy nhất của thị trường, họ có trình độ và kỹ thuật sàng lọc thông
tin từ đó làm cơ sở cho tư vấn. Từ đó, thông qua các nghiệp vụ môi giới, tư
vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư các CTCK cung cấp một cơ chế giá cả
giúp nhà đầu tư đưa ra được nhận định đúng giá trị khoản đầu tư của mình
cũng như giảm chi phí và thời gian giao dịch.
Bên cạnh đó, với trình độ của một chuyên gia tài chính các CTCK giúp
các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách có hiệu quả.
Sự uy tín của các CTCK làm khơi dậy niềm tin và quan trọng hơn nữa là
tạo ra nhu cầu đầu tư vào TTCK của công chúng.
• Vai trò đối với TTCK
- Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường.
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh chứng khoán
cho các tổ chức phát hành, CTCK thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ
chức phát hành mức giá chào bán hợp lý đối với các chứng khoán. Thông
thường mức giá phát hành do các CTCK xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu
và thõa thuận với các nhà đầu tư tiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư

CTCK có thể thực hiện một hoặc một số hay tất cả các nghiệp vụ trên
TTCK hay không không chỉ phụ thuộc vào quy mô, năng lực của công ty mà
còn tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện hành nghề.
Hiện nay, trên TTCK CTCK đảm nhận các hoạt động cơ bản sau:
1.1.2.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động cơ bản đầu tiên của CTCK. Trong
loại hình kinh doanh này, CTCK đại diện cho khách hàng thực hiện các lệnh
mua, lệnh bán chứng khoán do khách hàng yêu cầu để hưởng phí giao dịch. Ở
đây, quyết định mua bán là do khách hàng đưa ra do đó khách hàng phải chịu
trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình, việc hạch toán các giao dịch
phải được thực hiện trên các tài khoản thuộc sở hữu của khách hàng và CTCK
chỉ được thu phí môi giới theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Ở Việt Nam, theo Luật chứng khoán năm 2006 thì “Môi giới chứng
khoán là việc CTCK làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho
khách hàng”. Và theo nghị định 14/2007/NĐ-CP thì vốn pháp định cho
nghiệp vụ môi giới chứng khoán của CTCK là 25 tỷ đồng Việt Nam.
Nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng cũng như đảm bảo tính ổn định
hiệu quả cho TTCK, pháp luật có những yêu cầu rất cao đối với nhà môi giới.
Người môi giới, trước hết phải được tín nhiệm, phải có lòng tin của khách
hàng. Tiếp đó họ phải có năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp, có khả năng
phân tích tài chính doanh nghiệp. Và các nhà môi giới hoạt động trên thị
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
trường tập trung hay thị trường OTC đều phải đăng ký và được cấp giấy phép
hành nghề.
1.1.2.2. Hoạt động tự doanh
Theo Luật Chứng khoán năm 2006: “ Tự doanh chứng khoán là việc
CTCK mua và bán chứng khoán cho chính mình”.
Song song với hoạt động môi giới, tự doanh chứng khoán cũng là một

phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phân
phối chứng khoán cho các CTCK tự doanh hoặc các thành viên khác.
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối
chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi
phát hành. Như vậy bảo lãnh phát hành gồm:
- Nghiên cứu và tư vấn cho tổ chức phát hành về các thủ tục và phương
pháp phát hành, loại chứng khoán phát hành, cơ cấu giá
- Thỏa thuận với các nhà bảo lãnh khác trong việc tiếp thị, phân phối
chào bán chứng khoán
- Quản lý phân phối và thanh toán chứng khoán
- Thực hiện các công việc hỗ trợ cho trị trường và dịch vụ sau khi phát
hành
- Đại lý phân phối chứng khoán
Thực tế chỉ có những CTCK lớn mới có thể thực hiện loại hình bảo lãnh
phát hành bởi vì người bảo lãnh phải có năng lực tài chính mạnh. Ở Việt
Nam, một CTCK muốn được bảo lãnh phát hành phải có một số vốn tối thiểu
là 165 tỷ VNĐ.
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
Các bước của nghiệp vụ Bảo Lãnh - Phát Hành của một CTCK bao gồm
có các bước sau( Được biểu thị dưới hình vẽ):
Hình 1.1 Các bước nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của CTCK
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
( Nguồn: Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán của UBCK NN)
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
17

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
giá trị doanh nghiệp, giúp tổ chức phát hành cơ cấu lại nguồn vốn, chia tách,
thâu tóm, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp, niêm yết chứng khoán.
- Tư vấn đầu tư: là hoạt động nhà đầu tư tư vấn cho khách hàng về thời
gian mua bán, nắm, giữ, loại chứng khoán, giá trị của chứng khoán, cung cấp
các thông tin. Theo nghị định 14/2007/NĐ-CP thì vốn pháp định cho nghiệp
vụ này là 10 tỷ đồng Việt Nam.
1.1.2.5. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là nghiệp vụ quản lý vốn ủy thác của khách
hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi
cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng.
Đây cũng là một dịch vụ tư vấn của CTCK nhưng ở mức độ cao hơn vì
trong hoạt động này CTCK tiến hành đầu tư trên nguồn vốn của khách hàng
theo thỏa thuận giữa hai bên.
Quy trình thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư có thể gồm
những bước sau:
• Xúc tiến tìm hiểu và nhận yêu cầu quản lý
CTCK sẽ tìm hiều về năng lực tài chính, mức sinh lời kỳ vọng, mức độ
chấp nhận rủi ro của khách hàng để đưa ra các hình thức quản lý danh mục
phù hợp với từng đối tượng khách hàng.
• Ký kết hợp đồng quản lý
Sau khi thiết kế được hợp đồng cho khách hàng thì CTCK và khách hàng
sẽ ký kết hợp đồng quản lý đó. Nội dung của hợp đồng bao gồm: số vốn ủy
thác, thời gian ủy thác, mục tiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên,
phí quản lý danh mục đầu tư
• Thực hiện hợp đồng quản lý
CTCK tiến hành đầu tư vốn của khách hàng theo hợp đống đã ký kết.
Lúc này CTCK là một nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường, họ phải đánh
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
19

Bước 2: ký tên trên phiếu gửi chứng khoán theo hướng dẫn của nhân
viên Lưu ký
Bước 3: CTCK lập bộ chứng từ lưu ký gửi đi Trung tâm Lưu ký Chứng
khoán.
Bước 4: Sau khi nhận chứng từ có xác nhận của Trung tâm lưu ký,
CTCK sẽ báo có chứng khoán vào tài khoản của nhà đầu tư. Nhà đầu tư bắt
đầu thực hiện được mọi giao dịch và hưởng đầy đủ quyền lợi liên quan đến
chứng khoán đã lưu ký.
1.2.1.2. Quản lý sổ cổ đông
Thông qua tài khoản lưu ký của khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình
thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ
tức cho khách hàng.
1.2.1.3. Cầm cố chứng khoán
Cầm cố chứng khoán là việc các NHTM, tổ chức tín dụng cho người đầu
tư vay tiền để đầu tư chứng khoán với thế chấp là chứng khoán do người đầu
tư sở hữu. Vì vậy, đây thực chất là một dạng quan hệ hợp đồng giữa bên cầm
cố (người đầu tư) và bên nhận cầm cố (ngân hàng), mà trong quan hệ này các
tổ chức lưu ký chỉ đóng vai trò là trung gian, trên cơ sở bản hợp đồng cầm cố
đó thực hiện chuyển khoản số chứng khoán cầm cố từ tài khoản chứng khoán
giao dịch vào tài khoản chứng khoán cầm cố để đảm bảo việc duy trì tài sản
thế chấp cho bên nhận cầm cố. Khi hợp đồng cầm cố hết hiệu lực hoặc theo
yêu cầu của bên nhận cầm cố, tổ chức lưu ký sẽ thực hiện giải tỏa số chứng
khoán cầm cố, trả lại cho người đầu tư (bên cầm cố)
1.2.1.4. Ứng trước tiền bán chứng khoán
Ứng trước tiền bán là dịch vụ CTCK phối hợp cùng các Tổ chức tín
dụng, ngân hàng cho Khách hàng ứng trước tiền bán Chứng khoán trong thời
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
gian khách hàng chờ nhận tiền bán Chứng khoán tại CTCK. Dịch vụ này giúp

thế giới. Hình ảnh nhà đầu tư chứng khoán chen lấn tại các sàn chứng khoán,
những bức ảnh đặc trưng về TTCK đặc tả hàng trăm con người cùng ngước
mắt lên một màn hình lớn...dần bị thay thế bởi các giao dịch trực tuyến. Đây
là dự báo không hề xa vời khi hình thức giao dịch trực tuyến đang phát triển
nhanh chóng và ngày càng được nhiều nhà đầu tư lựa chọn chung. Các CTCK
một mặt phát triển giao dịch trực tuyến để cung cấp thêm dịch vụ cho khách
hàng, một mặt để thể hiện "đẳng cấp" của mình. Giao dịch trực tuyến ngày càng
khẳng định được vai trò của nó thông qua rất nhiều lợi ích mà nó đem lại:
- Chi phí giảm
Nhà đầu tư sẽ không phải lên sàn giao dịch đặt lênh, chờ lệnh đi qua nhiều
giai đoạn để vào hệ thống của Sở giao dịch chứng khoán (HOSE) hay Trung
Tâm Giao Dịch Chứng Khoán (HASTC). Vì vậy, chi phí cơ hội (cơ hội cho
công việc hay lĩnh vực đầu tư khác) hay chi phí đi lại được giảm thiểu.
- Thời gian giảm
Khách hàng sẽ giảm thiểu được thời gian cho hoạt động đầu tư chứng khoán
nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả.
- Đặt lệnh nhanh
Khi đặt lệnh trực tuyến, lệnh của bạn sẽ được tự động kiểm tra tiền và chứng
khoán rồi tự động chuyển thẳng vào danh sách chờ nhập lệnh tại sàn. Vì vậy,
lệnh sẽ được đặt và báo kết quả khớp lệnh một cách nhanh chóng.
- Bảo mật cao
Để giữ được khách hàng ở bên mình và tạo niềm tin của khách hàng đối với
công ty vì vậy CTCK luôn nhận biết được tầm quan trọng của bảo mật trong
giao dịch trực tuyến.
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
1.2.2.3. Các hoạt động hỗ trợ khách hàng qua giao dịch trực tuyến
Sau 8 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những
bước tiến vượt bậc, ngày càng có nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường chứng

Các menu sử dụng chính:
1. Order/ Confirmations Full Screen: Xem thông tin các lệnh đã đặt
trong ngày
2. Credit Availble: Xem số dư tiền gửi
3. Portfolio Status: Xem danh mục đầu tư
4. Due information: Thông tin các lệnh được khớp
5. Customer Information: Thông tin nhà đầu tư
6. In các loại báo cáo
Quy ước:
- Để đi đến các Menu trên: chỉ cần nhấn các số thứ tự ở đầu dòng tương ứng
với menu muốn xem vào các ô vuông màu trắng, menu ( ví dụ: 1,2,3)
- Trở lại màn hình trước đó: nhấn Enter
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
25

Trích đoạn CHỨNG KHOÁN CHÂU Á– THÁI BÌNH DƯƠNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status