Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
Danh mục các chữ viết tắt, các ký hiệu
• CN : Chi nhánh.
• CBNV : Cán bộ nhân viên.
• ĐH : Đại học.
• GĐ : Giám Đốc.
• HBT : Hai Bà Trưng,
• KVII : Khu vực hai.
• NHCT : Ngân hàng công thương.
• NHTM : Ngân Hàng thương mại.
• NQ : Nghị quyết.
• TGĐ : Tổng giám đốc.
• TTCK : Thị trường chứng khoán.
• TNHH : Trách nhiệm hữu hạn.
• XNK : Xuất Nhập Khẩu.
• KH1 : Khách hàng 1
• KH2 : Khách hàng 2
• VNĐ : Việt Nam Đồng.
• SCK : Séc chuyển khoản.
• SBC : Séc bảo chi.
• UNT : Ủy nhiệm thu.
Đỗ Thanh Minh 1 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
Danh mục bảng biểu
Bảng 1: Hoạt động huy động vốn của ngân hàng 2003-2005…................…40
Bảng 2: Hoạt động tín dụng của ngân hàng 2003-2005………................….43
Bảng 3: Báo cáo tài chính 2003-2005…………………................…………45
Bảng 4: Danh mục phục vụ ngân hàng……………….................…………..46
Bảng 5: Doanh số thanh toán qua ngân hàng…………................………….48
các nghiệp vụ truyền thống phát triển theo. Do đó việc thường xuyên duy trì,
cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ Ngân hàng luôn là mối quan tâm hàng
đầu của hầu hết các Ngân hàng hiện đại và trở thành lợi thế cạnh tranh chủ
yếu để đưa đến sự thành công và phát triển của Ngân hàng trong điều kiện
Ngân hàng càng ngày càng đông đúc, với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay bước đầu đã
hoà nhập vào kinh doanh theo cơ chế thị trường và đã có những cải tiến đáng
kể về dịch vụ Ngân hàng, trong đó có chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu
Đỗ Thanh Minh 3 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
vực Hai Bà Trưng. Mặc dù loại hình dịch vụ cung cấp chưa phải là nhiều song
nó cũng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, nâng cao uy tín
Ngân hàng và đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập của Ngân hàng.
Qua quá trình nghiên cứu thực tế tại Ngân hàng Công thương Khu vực
II - Hai Bà Trưng, nhận thấy đây là một vấn đề có tính chất sống còn trong
hoạt động của một Ngân hàng Thương mại. Được sự ủng hộ giúp đỡ của
Banh lãnh đạo, tập thể cán bộ nhân viên đang làm việc tại chi nhánh, cùng sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Văn Nam, em xin đề cập tới một số
khía cạnh thuộc vấn đề nêu trên qua đề tài được chọn triển khai và nghiên cứu
" Mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ tại Ngân hàng Công thương
khu vực II- Hai Bà Trưng”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm có 03 chương :
- Chương I : Ngân hàng thương mại và các dịch vụ của ngân hàng thương mại
- Chương II : Thực trạng hoạt động dich vụ tại Ngân hàng Công thương
Khu vựcII- Hai Bà Trưng.
- Chương III : Những giải pháp nhằm mở rộng và phát triển hoạt động dịch
vụ tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vựcII- Hai Bà
Trưng.
Để hoàn thành bản luận văn này, em đã sử dụng phương pháp phân
tích, tổng hợp từ lý luận đến thực tiễn, kết hợp phương pháp duy vật biện
là nơi có khả năng đảm bảo chất lượng của các loại tiền được đưa ra trao đổi,
vì đó là nơi được dân chúng tin tưởng để ký gửi tài sản và tiền bạc của mình.
Theo đó nghiệp vụ giữ hộ của cải, thanh toán hộ dần dần phát triển. Trong
việc nhận giữ hộ tài sản trong thanh toán cho khách hàng, mặc dù việc thanh
toán được thực hiện rất thường xuyên nhưng trong quỹ luôn tồn tại một số dư.
Đỗ Thanh Minh 5 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
Vì vậy họ cho rằng không nhất thiết phải giữ lại 100% số tiền mà khách hàng
ký gửi và hoạt động Ngân hàng được mở rộng với nghiệp vụ chiết khấu và
cho vay, phát hành giấy bạc Ngân hàng....Như vậy Ngân hàng đã tác động
trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, với tư cách là một tổ chức trung gian cho
những người có tiền nhàn rỗi và những người cần tiền để đầu tư sản xuất kinh
doanh, Ngân hàng được chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Hiện nay hệ thống Ngân hàng là hệ thống Ngân hàng hai cấp bao gồm:
- Hệ thống Ngân hàng Trung ương làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô hoạt
động của toàn hệ thống Ngân hàng và đưa ra những quyết định, chính sách và
thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền.
- Hệ thống Ngân hàng Thương mại với chức năng chủ yếu là kinh
doanh tiền tệ để thu lợi nhuận.
Ngân hàng Thương mại cùng với sự phát triển của công nghệ Ngân
hàng đã trở thành Ngân hàng đa năng, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ về
Ngân hàng. Và cùng với sự phát triển của xã hội thì Ngân hàng Thương mại
trở thành một thực thể không thể thiếu được trong nền kinh tế, nó có vai trò
ngày càng quan trọng mà không ai có thể phủ nhận.
1.1.2 - Các hoạt động chính của Ngân hàng Thương mại
Trước hết là hoạt động nhận tiền gửi.
Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ hay nói cách
khác, trong hoạt động Ngân hàng thì tiền là một thứ nguyên liệu độc tôn. Một
Ngân hàng muốn tiến hành kinh doanh thì trước hết phải có nguồn vốn của
nó. Nguồn tiền mà Ngân hàng có được đó chính là nguồn tiền gửi từ các cá
mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chế tài
chính của mỗi nước. Để hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của Ngân hàng
Thương Mại đối với sự phát triển của nền kinh tế, ta cần phải nghiên cứu xem
Ngân hàng có những vai trò chủ yếu nào ?
Đỗ Thanh Minh 7 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
Thứ nhất : Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và nhà nước trong nền kinh tế, vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu
nhập quốc doanh và giảm nhịp độ tiêu dùng. Để tăng thu nhập quốc dân tức là
để mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng
hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có
vốn, ngược lại khi nền kinh tế càng phát triển sẽ tạo ra càng nhiều nguồn vốn.
Ngân hàng Thương mại là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất
kinh doanh. Ngân hàng Thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn
rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân. . .rồi đem cho vay. Bằng vốn
huy động được trong xã hội và thông qua nghiệp vụ tín dụng, Ngân hàng
Thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu
vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất, và nhờ có hoạt động của hệ
thống Ngân hàng Thương Mại, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản
xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả
kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh.
Thứ hai : Ngân hàng Thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô
nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, Ngân hàng Thương mại
hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của
mình sẽ thực sự là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bằng
hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng Thương mại trong hệ
thống các Ngân hàng Thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung
ứng trong lưu thông. Thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành
dựng mô hình Ngân hàng hiện đại với các hình thức dịch vụ đa dạng đang là
hướng đi chung của tất cả các Ngân hàng phát triển trên thế giới nói chung và
các Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói riêng.Vậy thế nào thì được quan
niệm là một Ngân hàng hiện đại. Trong thực tế, một Ngân hàng hiện đại là
một Ngân hàng hoạt động theo hướng đa năng- Ngân hàng đa năng là Ngân
Đỗ Thanh Minh 9 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
hàng hoạt động trong nhiều lĩnh vưc khác nhau và thực hiện hầu hết các
nghiệp vụ vốn có của Ngân hàng. Nếu như hoạt động của một Ngân hàng đơn
năng chỉ bó gọn trong một vài nghiệp vụ truyền thống của Ngân hàng thì với
độ chuyên môn hoá cao thì tầm hoạt động của Ngân hàng đa năng rộng lớn và
bao quát hơn nhiều. Đặc điểm nổi bật của các Ngân hàng hiện đại (Ngân hàng
đa năng) là dịch vụ chiếm tỷ lệ rất lớn trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng. Nó được coi là tiêu chí đánh giá sự phát triển của một Ngân hàng hiện
đại.
Với các thế mạnh của mình, mô hình Ngân hàng đa năng đã chứng tỏ là
xu hướng phát triển tất yếu của các nước trên thế giới trong quá trình mở rộng
và hiện đại hoá Ngân hàng. Qua đó ta thấy việc mở rộng và phát triển các loại
hình dịch vụ tại các Ngân hàng Thương mại là một tất yếu khách quan và cần
thiết bởi những tính ưu việt của nó, nó không chỉ giúp cho Ngân hàng đi theo
định hướng phát triển của các Ngân hàng phát triển trên thế giới đó là Ngân
hàng đa năng, mà còn đem lợi ích cho Ngân hàng, khách hàng của Ngân hàng
và nền kinh tế. Để chứng minh điều này, chúng ta hãy nhìn nhận một cách
khách quan của sự mở rộng các loại hình dịch vụ Ngân hàng từ những khía
cạnh sau:
1.2.1. Từ phía khách hàng.
Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng
lớn, họ không chỉ dừng lại ở mong muốn "ăn no mặc ấm" mà họ còn đòi hỏi
được sử dụng các loại hình dịch vụ cao hơn ví dụ như: Phương tiện đi lại,
giao tiếp, trao đổi, buôn bán thông tin... Nhu cầu của con người chính là động
khách hàng nhờ NH cung cấp các dịch vụ cho họ thì bản thân khách hàng
cũng tăng được uy tín cho mình. Như vậy việc NH mở rộng các loại dịch vụ
cung cấp cho khách hàng và cần thiết và tất yếu khách quan.
1.2.2 Từ phía Ngân hàng.
Sự cần thiết của mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ Ngân hàng
xét từ góc độ Ngân hàng được thể hiện ở những điểm sau:
Đỗ Thanh Minh 11 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
- Trước hết : việc một Ngân hàng có thể đứng vững, tăng khả nămg
cạnh tranh của mình do việc đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng
thông qua những sản phẩm với tên gọi là " dịch vụ Ngân hàng " là một tất
yếu. Cũng như mọi qui luật của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là qui luật
hoạt động không phụ thuộc vào con người có nhận biết nó được hay không?
Có ưa thích nó hay không ? Hiện nay do sự phát triển không ngừng của Khoa
học - Công nghệ, sản xuất hàng hoá phát triển với qui mô hết sức rộng lớn,
nó không chỉ giới hạn ở đường ranh giới giữa quốc gia mà còn mở rộng ra
trên phạm vi toàn thế giới. Chính điều này làm cho cạnh tranh này ngày càng
quyết liệt và sâu rộng. cạnh tranh được coi là yếu tố nội tại của quá trình kinh
doanh và tiếp xúc với cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi.
Xét về "cảm quan" bên ngoài, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại khá bình lặng, chúng ta không thấy có sự cạnh tranh trực tiếp như
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc nghành kinh tế khác.
Nhưng trong thực tế, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng lại trong một môi
trường cạnh tranh gay gắt. Chính vì thế, việc đa dạng hoá các dịch vụ nhằm
đáp ứng nhu cầu cho tất cả khách hàng sẽ tạo cho Ngân hàng ưu thế nổi trội
để đứng vững trong cạnh tranh.
Hơn thế nữa, khách hàng luôn có xu hướng muốn duy trì quan hệ lâu
dài tin tưởng đối với một Ngân hàng. Do đó, họ muốn cho Ngân hàng nào có
khả năng cung cấp các tất cả các loại hình dịch vụ, sẵn sàng đáp ứng tất cả
nhu cầu đến với Ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện
triển. Một Ngân hàng hoạt động rất hiệu quả tất yếu sẽ không bỏ qua lĩnh vực
này. Ngân hàng sẽ trực tiếp tham gia vào thị trường chứng khoán thông qua
các dịch vụ như : Ký thác uỷ thác, tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng
khoán......Hệ thống Ngân hàng là cầu nối giữa người đầu tư với thị trường
chứng khoán. Người đầu tư có thể yêu cầu Ngân hàng mua bán hộ chứng
khoán cho mình. Bên cạnh việc thực hiện dịch vụ uỷ thác, các Ngân hàng
Thương mại với đội ngũ cán bộ có chuyên môn giỏi về phân tích sẽ trở thành
người tư vấn cho khách hàng. Hiện nay ở Việt Nam thị trường chứng khoán là
Đỗ Thanh Minh 13 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
một trong những dịch vụ quan trọng của Ngân hàng Thương mại. Các hoạt
động này một mặt thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán, mặt khác đem
lại món lợi đáng kể cho Ngân hàng. Vậy Ngân hàng đã bổ sung thêm vào hoạt
động của mình một lĩnh vực hoạt động hiệu quả, đem lại thu nhập không nhỏ
nâng cao uy tín của mình thông qua các hình thức " tư vấn miễn phí" đây là
một biện pháp hữu hiệu để thực hiện " chiến lược khách hàng" của Ngân
hàng. Thực tế cho thấy bản thân các Ngân hàng Thương mại, thị trường
chứng khoán và các tổ chức tín dụng khác... là thành phần liên kết hữu cơ với
nhau trong một hệ thống tài chính thậm chí không tồn tại được nếu đứng tách
biệt. Việc tăng cường các dịch vụ có ý nghĩa kinh tế riêng trong hoạt động
NH nhưng nó còn có tác động đến các dịch vụ truyền thống của NH đó.
Qua phân tích trên, ta dễ thấy dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong
hoạt động của một Ngân hàng Thương mại. Thực tế trên thế giới chỉ ra rằng
các Ngân hàng hiện đại, mà điển hình là hệ thống Ngân hàng Thương mại
Anh quốc, có từ 40-60% thu nhập là từ hoạt động dịch vụ Ngân hàng với các
hình thức đa dạng và chất lượng cao. Có thể nói số lượng và chất lượng dịch
vụ là tiêu chí đánh giá sự phát triển của một Ngân hàng. Do nhận thức được
các thế mạnh của các loại hình dịch vụ và tính phù hợp của nó trong điều kiện
nền kinh tế phát triển hiện nay, các Ngân hàng hiện đại đều khẳng định rằng
việc mở rộng và phát triển các hình thức dịch vụ Ngân hàng là một xu hướng
+ Từ phía khách hàng : Khách hàng muốn sử dụng dịch vụ chi trả của
Ngân hàng, qua đó sẽ giảm được chi phí quản lý quỹ tiền mặt hình thành
trong quá trình kinh doanh. Nếu như các đơn vị kinh tế sau khi chuyển hàng
hoá cho nhau để thanh toán đòi hỏi có lượng tiền vốn. Để điều chuyển lượng
tiền lớn, doanh nghiệp phải bỏ ra rất nhiều chi phí như bảo quản, kiểm tra,
vận chuyển....Khi các doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua Ngân hàng thì
những chi phí này sẽ giảm đi rất nhiều, mặt khác trong môi trường trao đổi
ngày nay khi mà các doanh nghiệp đều mở tài khoản tại Ngân hàng thì việc sử
dụng dịch vụ thanh toán hộ góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ
chu chuyển vốn và đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đồng thời tránh được
Đỗ Thanh Minh 15 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
những phiền toái trong thanh toán cũng như rủi ro chiếm dụng vốn, nợ dây
dưa, nhầm lẫn khi đếm tiền. Ngoài ra, việc chấp nhận sử dụng dịch vụ chi trả
hộ của Ngân hàng còn đem lại cho doanh nghiệp một khoản thu nhập từ số dư
trên tài khoản của mình và đảm bảo an toàn.
+ Từ phía Ngân hàng : Khi Ngân hàng sẵn sàng chấp nhận việc chi trả
hộ cho khách hàng, đó là điều kiện tiên quyết để cho Ngân hàng có được
nguồn tiền lớn. thực hiện cho vay và kiếm lời thông qua hoạt động cho vay.
Để có thể nhờ Ngân hàng chi trả hộ, khách hàng phải gửi một số tiền cho
Ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng một phần trong số này để cho vay
trong khi vẫn giữ lại một tỷ lệ hợp lý, đảm bảo cho thanh toán. Có thể nói,
đây là nguồn vốn rẻ nhất mà Ngân hàng có thể huy động. Ngoài ra, thông qua
việc thực hiện các dịch vụ thanh toán nhận theo dõi các tài khoản của khách
hàng, Ngân hàng biết được rõ hơn, kỹ càng hơn về tình hình hoạt động kinh
doanh, đánh giá chính xác khả năng tài chính của khách hàng, từ đó sẽ quyết
định chấp nhận hay không chấp nhận một khoản vay. Đồng thời Ngân hàng
có thể theo dõi sát sao quá trình giải ngân vốn vay, hay có kế hoạch đòi nợ
hợp lý, vừa đảm bảo thu hồi vốn và lãi cho Ngân hàng, vừa đảm bảo không
gây khó dễ cho khách hàng. Ngoài việc tạo vốn trong thanh toán, các Ngân
đầu tiên là phải gửi tiền vào Ngân hàng, luôn có đủ tiền để thực hiện các lệnh
chi trả. Các đơn vị kinh tế có thể lựa chọn các hình thức thanh toán cho phù
hợp với nhu cầu chi trả của mình.
+ Điều kiện đối với Ngân hàng.
Do nhu cầu chi trả của khách hàng rất đa dạng, vì vậy, Ngân hàng
muốn thực hiện tốt vai trò trung gian trong thanh toán thì điều kiện đầu tiên là
phải thiết lập nên nhiều hình thức thanh toán, đáp ứng yêu cầu thanh toán đa
dạng của khách hàng.
Điều kiện thanh toán chính xác kịp thời, mọi sai lầm do Ngân hàng gây
ra ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế, Ngân hàng
phải có trách nhiệm bồi thường.
- Các loại hình dịch vụ chi trả hộ.
Đỗ Thanh Minh 17 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
+ Thanh toán bằng séc.
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu do Ngân hàng
Nhà nước quy định, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản
tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hay người cầm
tờ séc đó. Về nguyên tắc, người phát hành chỉ được phát hành séc trong phạm
vi số dư tài khoản của mình hoặc số dư của sổ séc định mức đã lưu ký tại
Ngân hàng, kho bạc Nhà nước.
Có các loại séc sau:
- Séc chuyển khoản
- Séc bảo chi
- Séc định mức
- Séc cá nhân
* Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là loại séc được sử dụng rộng rãi, nó có giá trị thanh
toán trực tiếp như tiền mặt, do đó, trên tờ séc phải có đầy đủ các yếu tố bắt
buộc theo luật định. Thông thường, séc được in sẵn, người phát hành séc chỉ
lại có nhiều nhược điểm với người mua, vì người mua phải lưu ký tiền vào tờ
séc trong một thời gian nên bị ứ đọng vốn, vả lại thủ tục bảo chi phức tạp hơn
nhiều so với séc chuyển khoản
* Sổ séc định mức
Sổ séc định mức (SSĐM) là một quyển sổ bao gồm nhiều tờ séc chuyển
khoản, đựơc Ngân hàng đảm bảo chi trả không phải cho từng tờ séc như séc
bảo chi mà cho cả quyển séc trong phạm vi số tiền xác định trước.
SSĐM khắc phục nhược điểm của SCK, SBC là mỗi lần chỉ được phát
hành một tờ,vì vậy nếu trong cùng một thời gian ngắn có nhiều lần phát hành
sẽ phức tạp ngay lúc phát hành đơn vị mua đã kiểm tra được tính hợp pháp
của tờ séc, không chấp nhận những tờ séc phát hành quá số dư hiện có của
quyển séc. Khác với séc bảo chi, việc trả tiền của SSĐM hiện nay khi người
bán nộp tờ séc vào Ngân hàng, kho bạc phục vụ mình. Tuy nhiên nó có nhược
Đỗ Thanh Minh 19 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
điểm là ứ đọng vốn lâu ngày, làm chậm tốc độ luân chuyển vốn của đơn vị
mua. Pham vi áp dụng của nó chỉ được áp dụng thanh toán trong tỉnh thành
phố. Nếu ngoài thì phải cùng hệ thống. Mỗi sổ séc chỉ thanh toán cho một
hoặc nhiều người bán nhưng cùng một bộ chủ quản.
* Séc cá nhân
Séc cá nhân ( SCN) được áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền
gửi đứng tên cá nhân tại Ngân hàng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ và
các khoản thanh toán khác.
Séc cá nhân có phạm vi thanh toán giữa các chi nhánh Ngân hàng trong
cùng hệ thống nhưng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành
phố. Trường hợp séc cá nhân có số tiền trên 5 triệu động thì người phát hành
phải đến Ngân hàng (nơi mở tài khoản) để làm thủ tục bảo chi tờ séc.
Đây là hình thức thanh toán rất mới ở nước ta. Và chủ chương của
Ngân hàng Nhà nước VN là mở rộng và khuyến khích mọi cá nhân có tiền mở
tài khoản tiền gửi tại các Ngân hàng, trên cơ sở đó sử dụng séc cá nhân một
- Cơ sở hình thành dịch vụ thu hộ
+ Từ phía khách hàng
Trong quan hệ trao đổi mua bán không phải lúc nào người mua cũng trả
tiền trực tiếp hoặc viết thương phiếu cho người bán. Nhiều trường hợp, đối
với quan hệ quen biết thì người viết thương phiếu lại là người bán, hoặc trong
trường hợp người bán cần tiền nhưng người mua chưa trả thì người bán sẽ
nhờ Ngân hàng thu hộ tiền giúp cho người bán thuận tiện hơn trong việc tự
mình đi đòi và giúp cho nguồn vốn cuả doanh nghiệp quay vòng nhanh hơn.
+ Từ phía Ngân hàng
Một Ngân hàng thường có nhiều mối quan hệ giao dịch nối mạng với
nhiều Ngân hàng trong và ngoài khu vực. Do vậy việc Ngân hàng thu hộ tiền
cho khách hàng là dễ thực hiện và là một trong những nghiệp vụ trung gian
thanh toán. Một mặt Ngân hàng còn thu được khoản lệ phí, mặt khác Ngân
hàng có thể tận dụng được khoản vốn thông qua việc bù trừ phần chênh lệch
trong quá trình thanh toán giữa các Ngân hàng.
Đỗ Thanh Minh 21 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
Hầu hết tại các Ngân hàng, dịch vụ thu hộ được thực hiện thông qua
chứng từ uỷ nhiệm thu.
Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu (UNT)
UNT là hình thức bên bán lập chứng từ để đòi nợ bên mua những
khoản tiền hàng hoá đã giao hoặc dịch vụ đã cung cấp trên cơ sở hợp đồng
kinh tế hay đơn đặt hàng.
Phạm vi áp dụng của hình thức này là giữa các đơn vị mở tài khoản
trong một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng trong cùng hệ
thống hoặc khác hệ thống. Bên mua và bên bán phải thống nhất thoả thuận
dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, đồng thời phải thông báo bằng văn
bản cho Ngân hàng bên thụ hưởng để có căn cứ thực hiện uỷ nhiệm thu. Bên
bán lập giấy uỷ nhiệm thu theo mẫu của Ngân hàng, kèm theo hoá đơn, vận
đơn gửi tới Ngân hàng. Khi nhận được giấy uỷ nhiệm thu, Ngân hàng bên
về đến NH ở VN. Sở dĩ các NH làm được như vậy là vì hầu hết các NH trong
nước đều tham gia nối mạng với các NH đại lý ở nước ngoài. Đây là dịch vụ
khá phổ biến hiện nay, không chỉ có các NH thực hiện dich vụ này mà còn có
rất nhiều công ty cung cấp khác. Ở VN, chính phủ khuyến khích nguồn tiền
này nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ thu hút vốn kiều bào ở nước ngoài.
Dịch vụ chuyển tiền được thực hiện ở hầu hết các NH vì tính đơn giản,
nhanh chóng. Song mỗi NH lại quy định cho mỗi hình thức chuyển tiền lại
khác nhau.
1.3.2- Dịch vụ uỷ thác
a - Sự cần thiết để phát triển dịch vụ uỷ thác
- Từ phía nền kinh tế.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của xã hội và nền kinh tế về dịch
vụ uỷ thác ngày càng tăng. Sở dĩ như vậy là vì nền kinh tế phát triển thì có
nhiều việc mà một người, một nền kinh tế không thể tự làm lấy được mà cần
có sự hỗ trợ của nhiều người. Ví dụ như mộ cá nhân khi chết đi muốn thực
hiện di chúc chia tài sản cho người khác hay một cá nhân muốn nhờ Ngân
hàng đầu tư cho họ chứng khoán của công ty... Như vậy, nếu để một mình họ
Đỗ Thanh Minh 23 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B
Luận văn tốt nghiệp Ngân hàng – Tài chính
thì sẽ rất khó khăn và khả năng rất hạn chế. Do đó, họ muốn nhờ một tổ chức
có uy tín, kinh nghiệm, năng lực để thực hiện ý muốn của mình. Mặt khác bản
thân mối cá nhân thường gặp một "rào chắn" khi thực hiện dịch vụ nào đó là
thiếu thông tin vì vậy họ uỷ thác cho NH thực hiện.
- Từ phía Ngân hàng
Ngân hàng là một tổ chức có uy tín, với đội ngũ các bộ được chuyên
môn hoá cao và có kinh nghiệm, năng động, sáng tạo và trung thành thì việc
cung cấp dịch vụ uỷ thác hay đứng ra thực hiện những mong muốn của người
uỷ thác là việc hợp lý và có khả năng. Hơn nữa, khi Ngân hàng đứng ra cung
cấp dịch vụ uỷ thác, thì đây là một hướng để mở rộng hoạt động kinh doanh
cảu Ngân hàng. Mặt khác, khi thực hiện dịch vụ uỷ thác Ngân hàng nằm trong
hiện di chúc tiến hành hoặc người quản lý tài sản dưới sự hướng dẫn của toà
án. Trong di chúc của mình, người chết chỉ định người thực hiện các ý muốn
của họ thường là phòng uỷ thác của Ngân hàng Thương mại. Người phân chia
tài sản không có di chúc để lại được gọi là người quản lý tài sản và được toà
án chỉ định. Trách nhiệm này cũng có thể giao cho phòng uỷ thác của Ngân
hàng Thương mại. Nghĩa vụ cơ bản của một người quản lý tài sản hay thực
hiện di chúc là xin phép toà án để hành động, thu thập và bảo vệ các tích sản,
chi trả các chi phí điều hành và các khoản nợ, trả thuế phân phát tài sản ròng
và cung cấp các dịch vụ cá nhân cho các thành viên trong gia đình.
Mặt khác của dịch vụ thanh lý tài sản là các cá nhân có thể nhờ Ngân
hàng đứng ra thanh lý tài sản để thu tiền về. Trong hầu hết các trường hợp
thanh lý tài sản thì Ngân hàng và những bên liên quan đều phải đảm bảo chắc
chẵn là mình thực hiện đúng những quy định pháp lý về thanh lý tài sản.
+ Điều hành các tài sản được uỷ thác quản lý.
Một trong những chức năng quan trọng nhất được các phòng uỷ thác
của Ngân hàng Thương mại thực hiện là điều hành các tài sản được uỷ thác.
Uỷ thác nảy sinh từ một thoả thuận giữa người uỷ thác với người thụ thác và
bao gồm việc chuyển nhượng tài sản từ người khởi xướng hay người uỷ thác
sang cho người thụ thác để người này nắm giữ và điều hành tài sản vì lợi ích
Đỗ Thanh Minh 25 Tài Chính Doanh Nghiệp 44B