PHÂN TÍCH NỘI DUNG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA CÁC SĨ PHU DUY TÂN
I. DẪN NHẬP
II. CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG SỰ ĐỔI MỚI TƯ TƯỞNG THEO
KHUYNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA CÁC NHO SĨ DUY TÂN
1. Khái niệm và khởi nguồn của phong trào Duy tân
1.1. Duy tân là gì?
1.2. Khởi nguồn của phong trào Duy tân
2. Nho sĩ duy tân phê phán thực trạng xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX
2.1. Phê phán sự lỗi thời của Nho giáo
2.2. Phê phán xã hội phong kiến thuộc địa
3. Nho sĩ duy tân – Tư tưởng chính trị, xã hội, đạo đức và giáo dục
3.1. Duy tân tư tưởng về chính trị
3.2. Duy tân tư tưởng về xã hội
3.3. Duy tân tư tưởng về giáo dục
3.4. Duy tân tư tưởng về đạo đức
III. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA CÁC SĨ PHU DUY TÂN
1. Phan Bội Châu và phong trào Duy tân
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp
1.2. Tư tưởng yêu nước trong thơ văn Phan Bội Châu
2. Phan Châu Trinh và phong trào Duy tân
2.1. Cuộc đời và sự nghiệp
2.2. Tư tưởng yêu nước trong thơ văn Phan Châu Trinh
3. Nguyễn Thượng Hiền
4. Huỳnh Thúc Kháng
5. Một số gương mặt tiêu biểu khác
IV. KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
I. DẪN NHẬP
Cuối thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam là một lòng chảo nóng đầy biến động và sục
sôi với nhiều mầm mống đe dọa từ các nước chủ nghĩa đế quốc – thực dân. Tính chất
thời sự đó đã chi phối toàn bộ đời sống văn học và thay đổi diện mạo văn học. Văn
Bản, Trung Quốc và của các Nho sĩ thế hệ đi trước như Phạm Phú Thứ, Nguyễn
Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch…, qua đó họ tiếp biến tư tưởng dân chủ
phương Tây, xây dựng tạo nên hệ thống quan điểm, tư tưởng của mình từ quá trình
nhận thức rõ bản chất của thực tiễn xã hội đến khả năng tự phê phán trên tinh thần yêu
nước, trách nhiệm với sự hưng vong của đất nước mà đó chính là bước khởi đầu cho
sự sáng tạo và phát triển.
1. Khái niệm và diễn biến phong trào Duy tân
1.1. Duy tân là gì?
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam chuyển sang một giai đoạn
mới. Tương đương với điều kiện hoàn cảnh mới, nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân
tộc cũng mang khuynh hướng khác. Một trong những khuynh hướng nổi bật trong giai
đoạn này là các nhà tri thức khởi xướng phong trào Duy tân. Hoạt động cơ bản của
phong trào này là nhằm cổ vũ ý thức tự cường của dân tộc. Thúc đẩy những cải cách
văn hóa và xã hội trước hết là cải cách giáo dục và thi cử. Trọng tâm của phong trào
đặt vào sự đổi mới đầu óc của mọi người, đổi mới tri thức, từ bỏ cái học cũ và những
tri thức lỗi thời cổ xưa để hướng tới nền học vấn Âu Tây trong khoa học kỹ thuật. Như
vậy, duy tân có nghĩa là quá trình cải cách nhằm khắc phục những định kiến và lề thói
cũ, kể cả những cái từng được ngộ nhận là “khuôn vàng, thước ngọc” đã lỗi thời.
1.2. Khởi nguồn của phong trào Duy tân
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp xâm lược và biến
nước ta thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Chế độ phong kiến Việt Nam cùng
1 Viện Triết học: Nho giáo tại Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr. 21.
3
với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống
ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, các nhà Nho tri thức đề xướng
cải cách hệ thống chính trị với tất cả tính nghiêm trọng và cấp bách của vấn đề
này. Các vị đả kích hệ thống quan lại mục nát, tham nhũng, hủ lậu, bất lực và nêu ra
vấn đề chức trách, phẩm giá và cơ chế hoạt động của cả tập đoàn quan liêu từ triều
đình đến những tên nha lại hào lý hằng ngày sách nhiễu đè nén những người dân
lương thiện. Nhưng không dừng lại ở sự phê phán tầng lớp quan liêu hào lý mà còn
nói đến dân, dân chỉ ngồi không mà chờ người trên sắp đặt lo liệu cho mình mà thôi.
Không những dân không cần lo việc mình mà lại cho dân là hư hỏng không tự lo
được nữa. (…) Huống ở thế giới ngày nay mà đem cái chính trị của cụ Khổng ra mà
ứng phó, thật không khác gì chèo thuyền nan mà đua với tàu thủy, cưỡi ngựa trạm mà
chạy theo xe hơi, chỉ mệt nhọc mà không công hiệu gì”
2
.
Đúng với tinh thần duy tân, trong đó duy tân về mặt tư tưởng là một vấn đề nan
giải. Vì vậy mà nhà Nho yêu nước Huỳnh Thúc Kháng đã dũng cảm nhìn nhận lại vấn
đề, mạnh dạn tự phê phán những “thói hư, tật xấu” của hiện thực để cải thiện hiện
thực, và ông đã tự đề xuất: “Chúng ta sinh gặp thời đại triết học khoa học thịnh hành
này, cần nhất là phải có cái trí não tự do phán đoán, bất kỳ là xưa nay Đông – Tây,
điều gì mà hợp với chân lý và sự thực thì cho là chân chính mà gắng sức học theo,
điều gì mặc vọng mà trái với chân lý và sự thực thì nhất thiết cào bỏ cho sạch. Như
vậy thì cõi tư tưởng ta may khỏi bị cái gì đó ngăn đón che lấp mà được bước lên con
đường tự do để làm mẹ đẻ cho sự thực chăng”
3
.
- Tư tưởng thiên mệnh: quan niệm này được xem là quan trọng trong hệ thống tư tưởng
Nho giáo. Bằng tri thức thời đại, các chí sĩ duy tân cho rằng tư tưởng thiên mệnh này
là một rào cản cho bước phát triển của con người. Con người với “thiên mệnh”, họ
cam chịu số phận, và không thể sáng tạo ra những giá trị mới ngoài những gì mà cha
ông để lại. Tư tưởng này kết hợp với Đạo giáo, Thiên chúa giáo… đã trở thành một
niềm tin mù quáng giữa thế giới thực và thế giới ảo của thần, tiên, thánh… Vì thế các
Nho sĩ tiến bộ đã dùng cái “thiên mệnh” để “biết mệnh”, nó cũng giống như sự tận
dụng khoảng thời gian còn lại của kiếp người để làm nhiều việc tốt hơn khi con người
2 Chương Thâu (1989), Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Đà Nẵng, ĐN, tr.289-290.
3 Chương Thâu (1989), Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Đà Nẵng, ĐN, tr.291-292.
5
ta biết mình sắp chết nhưng cũng không thể thoát ra khỏi cái vòng vây của cái gọi là
chính thể chuyên chế, cái hạng bình dân đã không vào ngạch ngữ nào rồi; huống
trong đám bình dân lại sa xuống một bậc nữa đến cái hầm lao động thì còn ai đếm
6
xỉa gì đến (trong bình dân mà hạng giàu cũng có nhiều quyền lợi khác)”
4
. Đó là vị trí,
vai trò của người dân lao động trong xã hội, bị xem nhẹ cho dù họ chính là lực lượng
tạo ra sản phẩm phục vụ cho xã hội. Trong khi ấy, quan lại không làm ra của cải vật
chất cho xã hội nhưng tự cho mình là đẳng cấp trên, dùng quyền lực để mưu đồ gian
xảo hại nước hại dân. Không chỉ có lỗi của vua quan mà còn là lỗi của đội ngũ trí thức
xã hội, bởi tầng lớp trí thức có vai trò quan trọng trong vận mệnh hưng vong của nước
nhà. Vì thế, trước nỗi đau thời đại, các nhà Nho yêu nước duy tân đã phê phán mạnh
mẽ thực trạng về lối sống của tầng lớp trí thức trong xã hội lúc bấy giờ. Trần Quý Cáp
với nỗi niềm cay đắng, ông nhận rõ thực trạng giới trí thức học rộng, có tài nhưng lại
sống thật bi thương:
“Đông Kinh, Tây Cống hỏi ngài đâu
Ngẩn ngơ ngài chỉ lắc đầu”
5
.
Hay:
“Tò mò hỏi năm châu lớn nhỏ,
Ủa, việc ngoại dương, tau có biết mô na”
6
.
Các Nho sĩ duy tân muốn đánh tan tư tưởng cổ hủ của chế độ quân chủ, mộng
khoa cử mới mong phục hồi lại tinh thần dân tộc mà đi đến độc lập, tự do. Một mặt
vạch rõ những tệ nạn nơi làng quê như tục cưới xin, giỗ chạp, tang ma linh đình…,
hay chế độ thi cử quan liêu chốn quang trường,… mặt khác là chỉ bày cho dân chúng
được thấy tình trạnh hủ bại, thối nát, cơ cấu tổ chức bất hợp lý của tổ chức xã hội lúc
bấy giờ.
những biểu hiện tiêu cực của Nho giáo trong điều kiện thực tế xã hội Việt Nam đầu
thế kỷ XX không nằm ngoài mục đích đổi mới xã hội, văn hóa, tư tưởng Việt Nam
một cách toàn diện, giành lại ngọn cờ độc lập, tự do và cuộc sống ấm no cho nhân
dân.
3. Nho sĩ duy tân – Tư tưởng chính trị, xã hội, giáo dục và đạo đức
Thông qua tiếp thu tư tưởng cải cách, duy tân, từ tân thư, tân văn và những quan
sát, trải nghiệm về duy tân, cải cách, cách mạng ở Nhật Bản và Trung Quốc, các Nho
sĩ duy tân yêu nước đầu thế kỷ XX đã tiếp thu tinh hoa và cải biến sao cho phù hợp
với hoàn cảnh Việt Nam. Nhờ sức ảnh hưởng của nguồn tư tưởng mới từ phương Tây,
đặc biệt qua hai tác phẩm nổi tiếng thế giới là Khế ước xã hội của J.J Rousseau và
Bàn về pháp luật của Charles Louis Montesquieu mà tư duy chính trị của các Nho sĩ
thay đổi nhanh chóng. Theo họ, cái cốt yếu để thay đổi vận mệnh đất nước, giành độc
7 Phan Bội Châu: Toàn tập, sđd, t.1, tr.146.
8
lập tự chủ là vấn đề của dân chủ, dân quyền. Và họ đã thể hiện tư duy “duy tân” ấy
một cách rõ nét trên nhiều phương diện.
3.1. Duy tân về chính trị
Các Nho sĩ duy tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã tự phủ định tư tưởng chính trị
phong kiến nòng cốt là tư tưởng tôn quyền để tiếp thu tư tưởng dân chủ, dân quyền tư
sản, học tập kinh nghiệm từ công cuộc duy tân của Nhật Bản, cách mạng tư sản Trung
Quốc. Nho sĩ duy tân quan tâm nhiều đến vấn đề chính thể, vấn đề nhà nước theo kiểu
phương Tây và tinh thần dân tộc dân chủ của Tôn Trung Sơn.
Tiêu biểu là Huỳnh Thúc Kháng, ông có quan điểm hết sức rõ ràng, ông tỏ thái
độ bất hợp tác với chính phủ bù nhìn, vì ông nhận thấy rõ đó chỉ là “Tiếng gọi Việt
Nam độc lập”. Ông không hề bi quan trước thời cuộc, ngược lại ông hy vọng dân tộc
ta sẽ có một vị anh hùng nào đó vạch đường chỉ lối. Ông cảm thấy cảnh đất nước độc
lập, chính trị mới được sinh ra, nhân dân được tự do, no ấm:
“Trái đất đương xoay vòng thế giới
Số phận đã định phận sơn hà
Chắc quân xâm lược rồi tiêu diệt
Sự đồng lòng của những người con em có mối thù nhà,
Sự đồng lòng của người trong ngoài nước ta”
10
.
3.2. Duy tân về xã hội
Nho sĩ vừa căm thù kẻ thù phương Tây đến xâm lược, bóc lột dân mình nhưng
cũng vừa khâm phục nền văn minh của họ. Họ nhận thức được để giành độc lập cho
dân tộc là duy tân đất nước toàn diện theo cách kết hợp văn minh Đông – Tây và biện
pháp hữu hiệu nhất để thực hiện giải phóng dân tộc, tiến tới xây dựng bình đẳng là:
khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
*Tư tưởng khai dân trí:
9 Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn): Phan Bội Châu về một số vấn đề văn hóa – xã hội – chính trị, Sđd, tr. 231.
10 Phan Bội Châu (1990) Toàn tập, Nxb Thuận Hóa, Huế, T.1, tr. 205-206.
10
“Khai dân trí là mở mang hiểu biết, trí tuệ cho dân”
11
. Nhà Nho Phan Châu
Trinh quan niệm việc học là của toàn dân, không phân biệt, bỏ lối học phù phiếm, thơ
văn của người xưa, cần mở trường dạy chữ quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng,
bài trừ những hủ tục lạc hậu, xa hoa.
“Từ những đấng hoàng thân quý tộc,
Chẳng ai không đi học lấy nghề
…
Còn những kẻ sĩ, nông, công, cơ,
Đều học cho trí đủ làm ăn.
Cũng là nữ tử, phụ nhân
Ai ai cũng có trong thân một nghề”
12
.
Tư tưởng khai dân trí còn làm cho dân thay đổi nhận thức cũ kỹ để vươn tới tầm
Chớ để nước chịu nhục mãi”
15
.
*Tư tưởng hậu dân sinh:
“Hậu dân sinh tức là phải làm cho cuộc sống nhân dân ngày càng đầy đủ, tiến
tới văn minh. Hậu dân sinh trước hết là làm cho mọi người phát triển kinh tế, mở
mang ngành nghề, làm cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc”
16
. Phan Châu Trinh quan
niệm rằng phát triển kinh tế gắn liền với việc thúc đẩy các ngành công thương, cải tạo
nghề nông, sản xuất hàng hóa nông lâm xuất khẩu, dựa vào chính sách của Pháp để
phát triển kinh tế:
“Nghề càng ngày càng đua càng tới,
Vật càng ngày càng mới dễ coi.
13 Nguyễn Thượng Hiền: Tuyển tập thơ văn, Sđd, tr. 402
14 Trần Thị Hạnh (2012), Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX,
Nxb CT – QG, Hà Nội.
15 Nguyễn Thượng Hiền: Tuyển tập thơ văn, Sđd, tr. 246
16 Trần Thị Hạnh (2012), Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX,
Nxb CT – QG, Hà Nội
12
Chở chuyên đi bán nước người,
Lợi trong đã được, lợi ngoài lại thêm
Được nhiều lời càng thêm tư bổn,
Rộng bán buôn khắp bốn phương trời”
17
.
3.3. Duy tân tư tưởng về giáo dục
Vì xuất thân từ tầng lớp trí thức của xã hội, nhận thức được vai trò của việc học,
vì thế tư tưởng duy tân về giáo dục được xem là vấn đề cơ bản và quan trọng, giữ vị
nhiệm xã hội, phụng sự dân tộc. Thực hiện đạo hiếu với việc tham gia giải phóng dân
tộc, giành độc lập dân tộc. Hơn thế nữa, nền đạo đức đạt đến sự hoàn thiện khi họ xác
định “lẽ sống” với tiêu chí sống thức tỉnh, sống có ý chí và sống phải tự tân. Tác phẩm
Bài thuốc 10 vị của Phan Bội Châu như thông điệp gửi đến nhân dân Việt Nam: chí
khí kiên cường, lòng thành thật, gan quả quyết, trí thức mới,… Có thể nói, các nhà trí
thức yêu nước Duy tân đã biết dùng tài lực của mình để phụng sự dân tộc, cách tân tư
tưởng, đổi mới đất nước, phát triển hệ thống quan niệm đạo đức theo chủ nghĩa nhân
đạo cao cả. Đó là lòng yêu nước, thương dân, lên án phong kiến, thực dân, là lý tưởng
giải phóng dân tộc. Tiêu biểu như Tỉnh quốc hồn ca, Dạy con…(Phan Châu Trinh),
Tân nữ huấn ca (Nguyễn Hữu Cầu), Nữ quốc dân tu trí (Phan Bội Châu), Bài ca cứu
nước (Huỳnh Thúc Kháng)….
III. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA CÁC SĨ PHU DUY TÂN
1. Phan Bội Châu với phong trào Duy tân
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp
Phan Bội Châu - nhà chí sĩ yêu nước, danh nhân văn hoá dân tộc, tên thật là Phan
Văn San, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại tỉnh Nghệ An. Cha ông là Phan Văn
Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, có ý chí phấn đấu nhiệt
tình yêu nước, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu
sách Luận Ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện.
Năm 17 tuổi đã viết hịch “Bình tây thu bắc”; năm 19 tuổi lập Đội sĩ tử Cần
Vương để hưởng ứng “Chiếu Cần Vương” chống Pháp. Năm 1904, thành lập Hội Duy
Tân chủ trương “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt”. Từ năm 1905 – 1909
trực tiếp lãnh đạo phong trào Đông Du, tổ chức gần 200 thanh thiếu niên yêu nước
xuất dương sang Nhật Bản học tập quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật… Tháng
3/1909, tổ chức Đông Du bị giải tán, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi Nhật Bản. Ông
14
về Trung Quốc rồi sang Xiêm (Thái Lan) xây dựng cơ sở cách mạng. Tại Trung Quốc
ông lập ra Việt Nam Quang Phục Hội.
Sau cách mạng Tân Hợi 1911, ông trở lại Trung Quốc và thành lập “Hội Việt
Nam Quang Phục” và “Hội Chấn Hoa Hưng Á”, cũng năm này ông bị giặc bắt giam
nhân dân để phân biệt với văn chương yêu nước thời trung đại. Có thể nói Phan Bội
Châu là một trong những trí thức tiên phong đầu tiên trong sáng tác văn học mang tư
tưởng duy tân tiến bộ. Ông đã làm cho văn học yêu nước có nội dung dân tộc dân chủ
cao hơn, có tính chiến đấu, tính nhân đạo cao hơn. Thơ văn yêu nước của Phan Bội
Châu tiêu biểu cho một giai đoạn văn học mới, giai đoạn đầu của thời kỳ văn học hiện
đại.
“Theo Phan Bội Châu, để thực hiện duy tân, trước hết phải xây dựng con người.
Trong toàn bộ những sáng tác thơ văn của Phan Bội Châu đều là sự phản ánh nỗi đau,
nỗi nhục mất nước của dân tộc Việt Nam, mà nguyên nhân được ông chỉ ra là xuất
phát từ con người”
20
. Như vậy, có thể thấy rằng quan niệm duy tân của ông đã mang
một diện mạo mới, khác hẳn quan niệm thiên mệnh của các nhà Nho cũ. Phan Bội
Châu cho rằng con người chính là chủ tể, là người quyết định vận mệnh của quốc gia
dân tộc. Chính vì thế, ông rất đề cao vai trò quan trọng của nhân dân bởi vì nhân dân
là rường cột, là chủ nhân của dân tộc, dân còn thì đất nước còn, dân mất thì đất nước
mất. Do vậy, mỗi người dân trong nước phải luôn tự thức tỉnh chính mình, khẳng định
lòng yêu nước, ý chí độc lập tự cường, nhận ra thực trạng đen tối của đất nước có như
thế mới bảo vệ được đất nước.
Yêu nước là một nội dung chủ yếu của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đọc
thơ văn yêu nước của Phan Bội Châu ta sẽ thấy rõ điều đó. Đây là điểm sáng trong tư
tưởng của Phan Bội Châu, góp phần mở ra hướng đi mới cho phong trào duy tân của
nước Việt Nam.
- Yêu nước trước hết là yêu cái đẹp của quê hương đất nước:
20 PGS.TS. Trương Văn Chung – PGS.TS. Doãn Chính chủ biên (2005), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam từ cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 192.
16
“Bằng cái nhìn lịch sử và thời đại, Phan Bội Châu đã đưa ra qua niệm mới về đất
nước với một tình yêu nước nồng cháy, thiết tha. Vốn xuất thân là một Nho sĩ trí thức
đương thời, tuy còn mang quan niệm phong kiến nhưng Phan Bội Châu đã biết phá bỏ
4. Đổi mới tinh thần trách nhiệm đới với dân, nước
5. Đổi mới sự nghiệp công đức.
6. Đổi mới nhận thức và đổi mới thực hành, mối quan hệ giữa lẽ sống và cái
chết; đổi mới quan hệ giữa tri và hành; danh và lợi; họa và phúc
21
.
Những điều đổi mới trên đã cho thấy sự quyết tâm của Phan Bội Châu trong việc
rèn luyện ý chí bản thân của con người. “Theo Phan Bội Châu, ta phải tự mài “gương
tri thức cho trong”, ta phải tự khêu “đèn tri thức ta” cho sáng, ta phải biết tự mình suy,
tự mình nghĩ, tự mình làm, ta phải biết “tự tân” để “tự tồn”, ta phải biết tự trọng tự
chủ, tự bái “cái dã man”, tự mua “cái văn minh trong tủy””
22
. Phan Bội Châu đã không
bỏ phí thời gian cho cuộc sống vô liêu mà người đã sống một cách có ích, trở thành
một học giả uyên bác, một nhà tư tưởng thời đại với nhiều tâm huyết để cải cách văn
hóa xã hội. Ông luôn tự coi mình có trách nhiệm phải thức tỉnh, làm cho quần chúng
nhân dân giác ngộ lý tưởng cách mạng. Đặc biệt, tư tưởng đổi mới của Phan Bội Châu
có xu hương quan tâm đến thanh niên và phụ nữ. Bài Ca chúc tết thanh niên, được
Phan Bội Châu gọi là bài hát yêu nước và cũng là bài gọi hồn thiêng sông núi về giúp
cho con dân hợp sức cứu nước. Lời kêu gọi cho công cuộc quang phục tổ quốc vẫn là
việc đồng tâm, đoàn kết. Trong một quốc gia dân tộc mà biết đoàn kết thì mới giữ
vững được nền độc lập tự chủ và bảo toàn mạng sống cho mình, cho gia đình mình.
21 PGS.TS. Trương Văn Chung – PGS.TS. Doãn Chính chủ biên (2005), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam từ cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 194.
22 Nguyễn Văn Hòa (2000), Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết
học, Hà Nội, tr.174.
18
“Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng
quốc “Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa/ Xối máu nóng rửa vết dơ nô lệ”. Làm được
như thế là đổi mới, là yêu nước, là dám xả thân vì tự do. Chính vì thế mà người khẳng
định ở câu thơ cuối của bài thơ “Nhật nhật tân, hựu nhật tân”. Rõ ràng lời chúc tết
thanh niên của Phan Bội Châu cũng chính là khát vọng, là hoài bão một đời của Phan
Bội Châu. Và, đấy cũng chính là khát vọng của cả dân tộc, khát vọng tự do, độc lập.
Người anh hùng xuất hiện trong Bài ca chúc tết thanh niên của Phan Bội Châu là
những con người bình thường nhưng làm được việc phi thường. Với ông không có sự
phân biệt nam nữ, đẳng cấp, tôn giáo, giàu nghèo trong quan niệm về người anh
hùng. Không những thế, Phan Bội Châu còn dành tặng cho thế hệ trẻ Việt Nam nhiều
sự yêu mến và trân trọng trong bài Khóc thanh niên như sau:
“Ôi đáng kính thay thanh niên! Đáng sợ thay thanh niên!
Nếu ai nói rằng: Thanh niên lay trời, trời phải rung
Thanh niên xoay đất, đất phải chuyển, cũng không phải là quá đáng vậy!…”.
“Đối với phụ nữ, Phan Bội Châu muốn phụ nữ phải được giáo dục nghiêm chỉnh
và phải trao cho họ những vị trí xứng đáng trong xã hội và họ sẽ đem tài năng ra giúp
nước không kém gì nam giới”
23
. Để thực hiện điều này, theo Phan Bội Châu phải vận
động giới phụ nữ trên bốn nội dung sau:
“Mở mang về đường tri thức của phụ nữ
Liên kết đoàn thể của phụ nữ
Chấn hưng chức nghiệp của phụ nữ
Nâng cao địa vị của phụ nữ”
24
.
23 PGS.TS. Trương Văn Chung – PGS.TS. Doãn Chính chủ biên (2005), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam từ cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 194.
24 Chương Thâu (2000), Phan Bội Châu về một số vấn đề văn hóa – xã hội – chính trị, Nxb Thuận hóa, Huế, tr.50
20
Tuy Phan Bội Châu đã không nêu sự bình đẳng về quyền lợi giữa nam giới và nữ giới
lòng, khi hồi tưởng lại thế hệ cha ông ta ngày xưa đã từng sống trong tình trạng "mất
nước" vào đầu thế kỷ XX:
“Nước ta mất bởi vì đâu?
Tôi xin kể hết mấy điều tệ nhân
Một là vua sự dân chẳng biết,
Hai là quan chẳng thiết gì dân,
Ba là dân chỉ biết dân,
Mặc quân với quốc, mặc thần với ai…”
(Hải hoại huyết thư)
Cơ nghiệp ngàn năm của dân tộc ông cha ta giờ đây đã bị kẻ thù xâm lược:
“Hồn cố quốc biết đâu mà gọi
Thôi khóc than rồi lại xót xa
Trời Nam xanh ngắt bao la
Ngàn năm cơ nghiệp ông cha còn gì…”
(Gọi hồn quốc dân)
Trong hàng ngũ các sĩ phu yêu nước vào đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu có lẽ là
người đã đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thức tỉnh hồn nước. Thơ văn Phan
Bội Châu có ảnh hưởng sâu rộng đối với người đọc không chỉ vì những dòng thơ Phan
mang nhạc điệu trầm hùng thiết tha, khi rạo rực sôi nổi, mà cũng vì những gì Phan nói
lên thường khơi dậy nỗi nhục mất nước và kích động những cảm xúc sâu xa của tình
tự dân tộc. Đồng thời, ông kêu gọi quần chúng nhân dân phải đoàn kết đoàn kết chống
giặc ngoại xâm để rửa nỗi nhục mất nước:
“… Hợp muôn sức ra tay quang phục
Quyết có phen rửa nhục báo thù
22
Mấy câu ái quốc reo hò
Chữ đồng tâm ấy phải cho một lòng”.
(Ái quốc – Phan Bội Châu)
Phan Bội Châu đã thấy được điều tai hại của việc mất đoàn kết, việc chia rẽ dân
tộc. Ông cho rằng một trong những nguyên nhân giúp Pháp chiếm được đất nước ta và
gia dân tộc nào muốn phát triển giàu mạnh thì cũng phải xây dựng quần chúng nhân
dân theo 3 tiêu chí trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Một dân tộc dốt là một
dân tộc yếu”. Phan Bội Châu đã nhận thức được thực trạng rối ren của nền giáo dục
đương thời nên ông chủ trương giáo dục là mục tiêu và nhiệm vụ quan trong của quốc
dân. Trong tác phẩm Lưu cầu huyết lệ tân thư, ông đề ra những mục tiêu cấp bách đối
với đất nước ta bấy giờ là: Khai dân trí (mở trí khôn cho dân), Chấn dân khí (làm cho
nhân dân phấn chấn, tự tin), Thực dân tài (vun trồng dân tài). Ngoài ra, Phan Bội
Châu cũng đã phê phán lối giáo dục đương thời của thực dân Pháp nhằm tạo ra cho
chúng những lớp người tay sai phục vụ cho việc xâm lược, đàn áp dân tộc ta; đồng
thời ông còn phê phán cả lối giáo dục của chế độ phong kiến chỉ biết tạo ra những
Nho sinh nhút nhát, tư tưởng lạc hậu, hẹp hòi… không biết nghĩ đến lợi ích và vận
mệnh của quốc gia dân tộc. Ông đề ra cải cách giáo dục với nội dung và chương trình
giảng dạy mới như: văn học, lịch sử, triết học, kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp,
thương nghiệp… Tư tưởng về giáo dục của Phan Bội Châu góp phần xây dựng nền
văn hóa mới vừa mang tính thời đại, vừa mang đậm bản sắc của dân tộc.
Tóm lại, thơ văn Phan Bội Châu chứng minh hùng hồn cho chân lí “tác dụng lớn
lao của văn học với cuộc sống” và thể hiện tư tưởng duy tân hợp có giá trị không cho
gia đoạn đương thời của đất nước trước sự xâm lược của thực dân Pháp mà còn có giá
trị cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay. Về mặt nội dung, sáng tác của
Phan Bội Châu đã thể hiện được nhiều vấn đề mới, có đóng góp đáng kể cho tiến trình
hiện đại hoá văn chương Việt Nam.
25 Phan Bội Châu: Toàn tập, Nxb Thuận hóa, Huế, 1990, t.10, tr.151
24
2. Phan Châu Trinh với phong trào Duy tân
2.1. Cuộc đời và sự nghiệp
Phan Châu Trinh (Phan Chu Trinh; 1872 – 1926), hiệu Tây Hồ, Hy Mã, tự là Tử
Cán, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ nay thuộc xã Tam Lộc,
huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
Ông là một nhà thơ, nhà văn, nhà chí sĩ yêu nước thời cận đại của Việt Nam,
người mở đầu phong trào Duy Tân và có công lớn trong việc lập Đông Kinh nghĩa