A-Lời Mở Đầu
Môi trờng kinh doanh không còn là một khái niệm mới lạ,mà đã xuất
hiện từ khá sớm cùng với sự xuất hiện của môn kinh tế học.Môi trờng kinh
doanh của doanh nghiệp thơng mại là tập hợp những điều kiện,những yếu tố,bên
ngoài và bên trong có ảnh hởng gián tiếp hay trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.Nhng trong khuôn khổ của đề tài tôi chỉ xin trình bày
một phần trong môi trờng kinh doanh đó là môi trờng vĩ mô.
Điều tất nhiên là các doanh nghiệp thơng mại chỉ hoạt động tring môi
trờng kinh doanh nhất định.Các doanh nghiệp ngày càng hiểu rõ mức độ ảnh h-
ởng của các yếu tố môi trờng kinh doanh đến kết quả và hiệu quả kinh
doanh.Trong đó các yếu tố của môi trờng vĩ mô có ảnh hởng rất lớn đến sự
thành công của các doanh nghiệp thơng mại.
Đây là một đề tài đã đợc tiến hành nghiên cứu bởi cả những nhà kinh
học trong và ngoài nớc.Các nhà kinh tế học đã nghiên cứu môi trờng kinh doanh
từ rất sớm và hoàn thiện dần qua các giai đoạn,những nghiên cứu sau góp phần
bổ xung hoàn thiện những lý thuyết trớc và mang tính thực tế cao.Hiện nay môi
trờng vĩ mô đã đợc tổng kết thành một hệ thống lý thuyết toàn diện. Mặc dù đay
là một đề tài không mới mẻ và còn có phần cổ điển, khô khan song việc nghiên
cứu về nó (môi trờng kinh doanh nói chung và môi trờng vĩ mô nói riêng)
không bao giờ là thừa. Qua việc nghiên cứu,tìm hiểu về nó ta có đợc cái nhìn
tổng quát hơn,bổ xung thêm vào các lý thuyết của các nhà nghiên cứu trớc
những yếu tố thời đại ,những điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp, của ngành
của nền kinh tế đẻ tìm đợc những cơ hội kinh doanh từ môi trờng đó.Điều đó
càng khẳng định tầm quan trọng của môi trờng vĩ mô đối với hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp thơng mại..
Trong quá trình thực hiện đề án không thể tránh khỏi những sai lầm và
thiếu sót, mong đợc sự nhận xét và đánh giá của thầy để bài viết đợc hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
1
Căn cứ theo cấp độ ngành và nền kinh tế quốc dân thì môi trờng kinh
doanh đợc chia làm 3 nhóm:
2.1.1.Môi trờng vĩ mô:
Môi trờng vĩ mô là môi trờng của toàn nền kinh tế quốc dân.Môi trờng
vĩ mô tác động đến tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân và đến từng
doanh nghiệp.Môi trờng vĩ mô bao gồm các yếu tố:yếu tố chính trị và luật pháp,
yếu tố kinh tế, yếu tố khoa học công nghệ, yếu tố văn hoá - xã hội, yếu tố cơ
sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên, và cuối cùng là yếu tố quốc tế.Mức độ ảnh h-
ởng của mỗi yếu tố đến từng doanh nghiệp là khác nhau và xu hớng tác động là
thuận nghịch không giống nhau.Đối với từng doanh nghiệp cụ thể phải xác định
đợc đâu là yếu tố có ảnh hởng lớn và xu hớng của nó để có kế hoạch kinh doanh
đúng đắn .
2.1.2.Môi trờng tác nghiệp :
Môi trờng tác nghiệp đợc xác định đối với một ngành kinh doanh hoặc
từng doanh nghiệp kinh doanh trong các mối quan hệ với các đối tác hữu quan .
Môi trờng tác nghiệp bao gồm các yếu tố :đối thủ cạnh tranh hiện tạ, khách
hàng , nhà cung ứng, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.Môi trờng vĩ mô và môi trờng
tác nghiệp đợc gọi chung lch môi trờng bên ngoaifcuar doanh nghiệp thơng mại
hay môi trờng nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghệp.
2.1.3.Môi trờng bên trong.
Môi trờng bên trong bao gồm các yếu tố nội tại trong một doanh nghiệp
thơng mại. Nó bao gồm các nguồn lực nội bộ của doanh nghiệp thơng mại đó
là: nguồn nhân lực, hệ thống cơ sở vật chất và mang lới kinh doanh, vốn kinh
doanh, mặt hàng kinh doanh, hệ thống thông tin, thị trờng và thị phần của
doanh nghiệp, nề nếp văn hoá ...Đây là môi trờng kiểm soát đợc đối với doanh
nghiệp.
2.2.Xét theo các nhóm yếu tố của môi trờng kinh doanh.
Nếu cơ sở là nhóm yếu tố của môi trờng kinh doanh thì có thể chia môi tr-
ờng kinh doanh thành 3 nhóm:
3
4
biện pahps khắc phục những khó khăn, bất lợi để giảm thiểu rủi ro và hạn chế
tổn thất. Điều này phụ thuộc rất lớn vào khả năng t duy nhận biết vấn đề cũng
nh kinh nghiệm của nhà quản lý doanh nghiệp.
2.3.2.Môi trờng bên trong.
Môi trờng bên trong bao gồm toàn bộ các yếu tố và quan hệ kinh tế, tổ
chứ, kĩ thuật nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp thơng mại sử dụng nguồn lực nội
bộ kết hợp với môi trờng bên ngoài để đạt mục đích của hoạt động kinh
doanh.Môi trờng bên trong_hoàn cảnh nội bộ đợc coi là chủ thể của hoạt động
kinh doanh.Muốn kinh doanh thành công doanh nghiệp thơng mại phải huy
động sử dụng hợp lý nguồn lực của doanh nghiệp, chỉ khi quản lý tốt điều kiện
chủ quan của mình thì mới có điều kiện kết hợp nó vơi điều kiện khách quan
của môi trờng.
Tuỳ theo đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp mà ta lựa chọn cách thức
phân loại môi trờng sao cho hợp lý. Vấn đề phân loại môi trờng kinh doanh
không phải là yếu tố quyết định mà quan trọng hơn đó là phân tích đợc môi tr-
ờng kinh doanh nà ảnh hởng của nó tới doanh nghiệp mình và hớng thích nghi
đối với từng doanh nghiệp trong từng hoàn cảnh cụ thể.
II-Môi trờng vĩ mô và ảnh hởng tớ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp thơng mại.
1.Khái niệm về môi trờng vĩ mô.
Ta có thể nhận thấy tuy các nhà kinh tế học có nhiều cách định nghĩa khác
nhau vê môi trờng vĩ mô song điểm chung và chính là quan trọng nhất đó là họ
đều cho rằng môi trờng vĩ mô bao gồm những yếu tố có ảnh hởng tới tất cả các
ngành kinh tế, không loại trừ đơn vị kinh tế nào.Từ đó ta có thể quan niệm rằng
môi trờng vĩ mô là môi trờng của toàn nền kinh tế quốc dân , có ảnh hởng đến
các doanh nghiệp và ngành kinh doanh .Các yếu tố trong môi trờng vĩ mô tác
dộng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại với mức độ và xu h-
ớng khác nhau, chúng có thể tác động một cách độc lập hoặc trong mối liên kết
với các yếu tố khác.
pháp luật chặt chẽ , hoàn chỉnh đồng bộ là điều kiện thuận lợi đảm bảo cho
6
doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình . Rõ ràng về
trách nhiệm và quyền lợi đợc hởng sẽ tạo động cơ thúc đẩy các nhà kinh doanh
tiến hành kinh doanh làm lợi cho bản thân và xã hội. Luật thơng mại 2005 của
nớc ta là hệ thống luật chung điều chỉnh hoạt động kinh doanh của nền kinh tế
bên cạnh hệ thống các luật khác nh luật đầu t nớc ngoài, luật doanh nghiệp nhà
nớc...Điều quan trọng nhất là hệ thống luật phải đợc đầu t xây dựng để đạt tới
trình độ hoàn thiện đảm bảo điều tiết tất cả các ngành, giảm thiểu kẽ hổng là
điều kiện cho tình trạng lách luật. Bên cạnh đó là tính ổn định của hệ thống luật
pháp cũng rất quan trọng .Nếu chỉ trong một thời gian ngắn các văn bản luật ra
sau lại phủ định hoặc chồng chéo lẫn nhau thì gây trở gại cho hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp .
Đối với doanh nghiệp ta không thể điều chỉnh hay tác động vào yếu tố
chính trị luật pháp mà cách tốt nhất để thích nghi là phải nghiên cứu, phân tích ,
dự báo chính trị và luật pháp cùng với xu hớng vận động của nó. Ttong đó công
tác dự báo đóng vai trò rất quan trọng.Góp phần xây dựng hoàn thiện luật thơng
mại cũng là cơ hội để doanh nghiệp tạo điều kiện tạo điều kiện cho hoạt động
kinh doanh của mình. Những vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp cần nghiên cứu,
phân tích và dự báo có thể kể nh là:
Sự ổn định về chính trị, đờng lối ngoại giao, chính sách ngoại thơng .Hệ
thống pháp luật , chính sách, sự hoàn thiện, minh bạch và hiệu lực thi hành .
Các luật về thuế, về bảo vệ môi trờng sinh thái, ô nhiễm
Các chiến lợc quy hoạch, kế hoạch phát triển thơng mại của nhà nớc, của
các địa phơng
Sự điều tiết và khuynh hớng can thiệp của chính phủ vào đời sống kinh tế
xã hội.
Các quy định của chính phủ về cạnh tranh , chống độc quyền, về việc cho
khách hàng vay tín dụng, về việc cho thuê mớn và khuyến mại...
Các quy định về bảo vệ quyền lợi của các công ty, bảo vệ quyền lợi ngời
xác định yếu tố kinh tế có ảnh hởng chủ yếu đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp thì ngời ta phải chú ý tới dự báo kinh tế.Dự báo kinh tế ở 3 cấp
8
độ: từ dự báo kinh tế của cả nền kinh tế nói chụng do các cơ quan nhà nớc và
các nhà kinh tế hoạ dự báo về tỷ lệ phát triển kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất,
tiêu dùng của dân chúng, tỷ giá hối đoái, kim ngạch xuất nhập khẩu...Từ dự báo
đó chúng ta có thể xác định đợc các chỉ số về GDP,GNP của cả nền kinh tế , kết
hợp với các chỉ số khác chung ta dự báo sự phát triển của ngành kinh doanh .
Sau đó doanh nghiệp tiến hành dự báo kinh doanh của doanh nghiệp để ớc tính
khả năng tham gia thị trờng, mở rộng thị phần của doanh nghiệp trên thị trờng
cụ thể.
Kinh doanh trên thị trờng luôn tồn tại cả cơ hội và nguy cơ do yếu tố
kinh tế tạo ra, khi có nghiên cứu đánh giá thoả đáng thì doanh nghiệp sẽ tận
dụng cơ hội để phát triển và có biện pháp né tránh hoặc giảm thiểu rủi ro cho
hoạt động kinh doanh của mình. Một nền kinh tế tăng trởng, sự phát triển của
nền kinh tế có khuynh hớng làm dịu bớt áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm tăng nhu cầu tiêu dùng của xí nghiệp
sản xuất và dân chúng là điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thơng mại hoạt
động. Khi đó doanh nghiệp cần tích cực đầu t phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh tìm tòi và làm nảy sinh những nhu cầu mới ở khách hàng và đáp ứng nó
một cách tốt nhất tiến tới mở rộng thị trờng và có chỗ đứng vững chắc trên thị
trờng. Ngợc lại khi hoạt động kinh doanh trong một nền kinh tế suy thoái làm
giảm nhu cầu tiêu dùng, dễ tạo cạnh tranh về giá trong các ngành kinh doanh
thuộc giai đoạn bão hoà thì sự đầu t là không hiệu quả và lãng phí mà doanh
nghiệp cần sử dụng tối đa hiệu quả của nguồn lực sẵn có để tăng khả năng cạnh
tranh, trong một số trờng hợp có thể có chiến lợc rút lui bảo toàn kinh doanh.
Các doanh nghiệp thơng mại nớc ta đang ngày càng phát triển về số lợng
và quy mô cũng là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế tăng trởng. Tốc độ tăng
trởng của nớc ta trong 2 năm gần đây đều đạt khoảng 8% và đứng thứ 2 thế giới
về tốc độ tăng GDP cho thấy tiềm năng kinh doanh của các doanh nghiệp thơng
cao chất lợng sản phẩm và hạ gía thành. Công nghệ mới ra đời sẽ xoá bỏ công
nghệ trớc đó, thời gian cho một công nghệ mới ra đời ngày càng giảm làm cho
chu kì sống một sản phẩm còn rất ngắn.Công nghệ là yếu tố dễ lạc hậu nhất,
cần đổi mới và cập nhật thờng xuyên để theo kịp thời đại.Chính vì vậy mà nó
10
ảnh hởng rát lớn tới hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp thơng mại, thông
qua việc tác động tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm và bán hàng. Đối với doanh
nghiệp thơng mại thì việc thoả mãn nhu cầu khách hàng là điều kiện đảm bảo
sự thành công trong kinh doanh.Để thoả mãn nhu cầu đó thì việc cung ứng sản
phẩm mới, tiên tiến, phù hợp với xu thế và sở thích tiêu dùng là một đòi hỏi cấp
thiết. Để chiến thắng trong cạnh tranh thì sản phẩm là một yếu tố quan trọng
nhng bên cạnh đó cạnh tranh bằng dịch vụ ngày càng quan trọng. Dịch vụ tạo
sự khác biệt cho sản phẩm của doanh nghiệp cũng nh hoàn thiện quá trình bán
hàng. Hai doanh nghiệp cung ứng cùng một loại sản phẩm nhng doanh nghiệp
có dịch vụ tốt hơn thì chắc chắn sẽ tiêu thụ đợc nhiều hơn và tạo đợc sự hài lòng
cũng nh sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp. Để hoàn thiện
hoạt động dịch vụ thì một yếu tố quan trọng đó là phải ứng dụng tiến bộ mới
của khoa học-công nghệKhi ứng dụng đợc các tiến bộ khoa học công nghệ
trong hoạt động thơng mại làm thay đổi nhanh chóng phơng thức và cung cách
phục vụ khách hàng nh giao nhận , thanh toán, mua bán, đặt hàng, kiểm kê...
Hiên nay việc áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ của các
doanh nghiệp thơng mại nớc ta còn nhiều hạn chế do những khó khăn về cơ sở
hạ tầng, trình độ nhận thức...Song cũng có rất nhiều điều kiện thuận lợi để áp
dụng vì hiện nay công nghệ thông tin rất phát triển, mọi doanh nghiệp đều có
thể tiếp cận những thông tin mới nhất về tất cả các lĩnh vực.Doanh nghiệp cần
có sự đầu t thích đáng trong việc đỏi mới công nghệ, áp dụng các tiến bộ khoa
học vào sản xuất kinh doanh bởi nh đã nhận định và phân tích đây là yếu tố có
ảnh hởng quan trọng và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp có dây truyền công nghệ hiện đại tiên tiến sẽ có cơ hội là
ngời tiên phong trong việc đa ra sản phẩm mới và thu đợc siêu lợi nhuận.Doanh
giáo, nghề nghiệp, địa phơng, gia đình và ở cả hệ thoonggs kinh doanh sản xuất
dịch vụ. Các giá trị này có ảnh hởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp từ việc quyết định kinh doanh sản phẩm gì, khách hàng là ai,
hình thức kinh doanh đều phải phù hợp với quan niệm xã hội và phong tục tập
quán của thị trờng kinh doanh.Kinh doanh sẻ thất bại nếu ngay từ đầu nó đã bị
bài trừ do không phù hợp với văn hoá cũng đồng nghĩa không còn cơ hội cho
12
doanh nghiệp phát triển.Để có đợc chiến lợc và kế hoạch kinh doanh đúng đắn
thì việc am hiểu các yếu tố văn hoá - xã hội là rất cần thiết. Các yếu tố văn hoá -
xã hội thờng tiến triển chậm nên đôi khi khó nhận biết, chỉ có những giá trị văn
háo thứ phát, ngoại lai là bị thay đổi khi các điều kiện xã hội thay đổi.
Cũng giống nh các yếu tố vĩ mô khác, những thay đổi của các yếu tố
văn hoá - xã hội cũng tạo ra các cơ hội hoặc nguy cơ cho các doanh nghiệp kinh
doanh thơng mại. Đặc biệt những doanh nghiệp cung ứng hàng tiêu dùng cho
dân c , những mặt hàng liên quan đến nghề nghiệp, phong tục, tập quán, tôn
giáo, lễ tiết...Dù cuộc sống hiện đại đã xoá mờ nhiều quy tắc, ràng buộc đối với
con ngời nhng mỗi dân tộc, mỗi gia đình và cá nhân đều có những chuẩn mực,
quan niệm, ý thức hệ nhất định, có sự tiếp nối truyền thống văn hoá . Do đó khi
tiến hành kinh doanh , doanh nghiệp không đợc coi nhẹ yếu tố văn hoá.Chỉ cần
một sự thiếu hiểu biết mà có hành động trái với truyền thống , phong tục , tập
quán của thị trờng cũng có thể làm tiêu tan cơ hội kinh doanh trên thị trờng đó.
Những yếu tố quan trọng trong nhóm yếu tố văn hoá - xã hội có thể
kể đế nh: đạo đức, quan niệm về vinh dự, thấp hèn;thu nhập của các tầng lớp
dân c, phân bổ thu nhập; dân số, tỷ lệ tăng, cơ cấu dân số; việc làm; dân tộc, tôn
giáo, phong tục tập quán và các đặc điểm tâm lý...
Các yếu tố xã hội nh thu nhập , dân số.. cũng có ảnh hởng lớn tới hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Với nhóm khách hàng có thu nhập ổn định
tăng trởng thì có thể phát triển hoạt động kinh doanh và tăng sự thoả mãn của
khách hàng về nhiều yếu tố phi vật chất khác. Dân số quyết định lớn tới quy mô
tiêu thụ , có thể thị trờng ta lớn về dân số song điều doanh nghiệp quan tâm là l-