Tiểu luận Triết học
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………………… Trang 3
1. Phân tích nội dung của quy luật về quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. … …………… Trang 5
2. Vận dụng lý luận về hình thái kinh tế xã hội để giải thích
quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội nước ta
qua các thời kỳ ……… …………………………………………. Trang 12
3. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay được
xây dựng trên cơ sở nào ……………………………………… Trang 16
KẾT LUẬN…………………………………………………….………. Trang 23
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 2
Tiểu luận Triết học
LỜI NÓI ĐẦU
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử để
chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản
xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan
hệ sản xuất ấy.
Hình thái kinh tế - xã hội có cấu trúc phức tạp, mỗi yếu tố có vị trí, chức
năng riêng và luôn tác động qua lại lẫn nhau. Hình thái kinh tế - xã hội gồm ba mặt
cơ bản:
Lực lượng sản xuất: là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái
kinh tế xã hội. Lực lượng sản xuất là yếu tố suy đến cùng quyết định sự hình
thành và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất là
những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả những quan hệ xã hội khác.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất tương ứng với sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân
biệt xã hội này với xã hội khác. Những quan hệ sản xuất tạo thành “bộ xương” của
hình thái kinh tế xã hội, nó hợp thành cơ sở hạ tầng của xã hội.
- tức là phải có những con người sống và hoạt động.
Con người muốn sống phải có ăn, mặc, ở, đi lại… Những vật phẩm để đáp
ứng nhu cầu đó lại không có sẵn trong thế giới. Muốn có con người phải lao động
sản xuất vật chất. Trên cơ sở ấy con người sáng tạo ra những điều kiện sinh hoạt
cho bản thân mình và cho xã hội. Đó là việc làm thường xuyên liên tục và tất yếu
của con người.
Mặt khác, trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không thoả mãn
với những gì đã có sẵn trong tự nhiên. Trong quá trình tác động vào tự nhiên, con
người luôn tiến hành sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt để đáp ứng
với nhu cầu luôn phát triển của mình. Bằng“việc sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất
của mình”.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, con người đồng thời
sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống xã hội. Vì để hoạt động sản xuất vật chất
đạt hiệu quả cao, ngoài mối quan hệ với tự nhiên con người còn sáng tạo, xây dựng
các mối quan hệ với nhau, các quan hệ đó dựa trên trình độ sản xuất vật chất.
Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn
giáo… đều hình thành, biến đổi trên nền tảng sản xuất xã hội. Lịch sử phát triển
của nhân loại đã được Các Mác khái quát: “việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt
vật chất trực tiếp và chính tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể
chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan
niệm tôn giáo của con người ta”
Thông qua quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biến đổi
tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi chính bản thân mình. Sản xuất vật
chất dù xét dưới góc độ nào trong lịch sử vẫn là cơ sở, nền tảng cho sự tồn tạo và
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 5
Tiểu luận Triết học
phát triển của xã hội. Vì lẽ đó, khi tìm hiểu các hiện tượng xã hội phải tìm hiểu cơ
sở sâu xa của nó là nền sản xuất vật chất của xã hội.
* Phương thức sản xuất :
Tiểu luận Triết học
động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với
quá trình lao động, sức mạnh và kỹ năng của con người ngày càng được tăng lên,
đặc biệt là trí tuệ con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động
ngày càng cao.
Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của
lực lượng sản xuất. Công cụ lao động, là “sức mạnh tri thức đã được vật thể hoá”,
có tác dụng “nối dài bàn tay” và “nhân” sức mạnh của con người trong quá trình
lao động sản xuất. Trong mọi thời đại, công cụ sản xuất luôn là yếu tố động nhất
của lực lượng sản xuất. Cùng với quá trình tích luỹ kinh nghiệm, con người luôn
phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ sản xuất luôn được cải tiến và hoàn thiện.
Chính sự biến đổi thường xuyên của công cụ sản xuất đã làm thay đổi toàn bộ tư
liệu sản xuất. Suy đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội.
Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên
của con người, là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau. Trình độ
của lực lượng sản xuất luôn có sự tương ứng giữa người lao động và công cụ lao
động:
Nếu công cụ sản xuất thô sơ thì nó phù hợp với trình độ sử dụng của một
người lao động. Khi đó nó phản ánh trình độ thủ công của lực lượng sản xuất.
Nếu công cụ sản xuất bằng máy móc hiện đại nó phù hợp với trình độ của
tập thể người lao động. Khi đó, nó phản ánh trình độ cơ khí hiện đại của lực lượng
sản xuất.
Việc chuyển trình độ của lực lượng sản xuất từ thủ công lên cơ khí hiện đại
là bước tiến vĩ đại của lực lượng sản xuất trong quá trình chinh phục tự nhiên của
con người. Nó chỉ rõ sự tương ứng giữa trình độ mọi mặt của người lao động luôn
tương ứng với trình độ của công cụ sản xuất.
Trải qua các cuộc cách mạng khoa học, cùng với sự tiến triển của sản xuất,
khoa học ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất. Khoa học đã phát triển tới
mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và
trong đời sống, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cách thức mà khoa học xâm
của lực lượng sản xuất. Cùng với quá trình tích luỹ kinh nghiệm, con người luôn
phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ sản xuất luôn được cải tiến và hoàn thiện.
Chính sự biến đổi thường xuyên của công cụ sản xuất đã làm thay đổi toàn bộ tư
liệu sản xuất. Suy đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội.
Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên
của con người, là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau. Trình độ
của lực lượng sản xuất luôn có sự tương ứng giữa người lao động và công cụ lao
động:
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 8
Tiểu luận Triết học
Nếu công cụ sản xuất thô sơ thì nó phù hợp với trình độ sử dụng của một
người lao động. Khi đó nó phản ánh trình độ thủ công của lực lượng sản xuất.
Nếu công cụ sản xuất bằng máy móc hiện đại nó phù hợp với trình độ của
tập thể người lao động. Khi đó, nó phản ánh trình độ cơ khí hiện đại của lực lượng
sản xuất.
Việc chuyển trình độ của lực lượng sản xuất từ thủ công lên cơ khí hiện đại
là bước tiến vĩ đại của lực lượng sản xuất trong quá trình chinh phục tự nhiên của
con người. Nó chỉ rõ sự tương ứng giữa trình độ mọi mặt của người lao động luôn
tương ứng với trình độ của công cụ sản xuất.
Trải qua các cuộc cách mạng khoa học, cùng với sự tiến triển của sản xuất,
khoa học ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất. Khoa học đã phát triển tới
mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và
trong đời sống, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cách thức mà khoa học xâm
nhập và thể hiện trong thực tiễn khác nhiều so với vài thập kỷ trước đây, làm cho
lực lượng sản xuất có bước nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ.
Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất, nó
hoàn toàn có thể được coi là cái đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
* Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất :
những thiết chế tương ứng và mối quan hệ nội tại phù hợp với kiến trúc thượng
tầng được xây dựng trên cơ sở của những quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng
xã hội nhất định.
Lênin định nghĩa: “Nhà nước là sản phẩm của những mâu thuẩn giai cấp
không thể điều hòa ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lúc nào. Những mâu thuẩn xét về mặt
khách quan những mâu thuẩn giai cấp không thể điều hòa được thì xuất hiện nhà
nước và sự tồn tại nhà nước chứng tỏ những mâu thuẩn đó không thể điều hòa
được”.
Angghen: “Nhà nước xét về mặt bản chất là bộ máy thống trị của giai cấp
bốc lột đối lập với toàn xã hội.Và vì vậy, không có nhà nước ngoài xã hội. Chừng
nào còn nhà nước thì không còn công bằng tuyệt đối, dân chủ tuyệt đối”.
Như vậy cấu trúc của hình thái kinh tế- xã hội được biểu hiện dưới dạng một
hệ thống trong đó các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế- xã hội không ngừng tác
động qua lại, quy định và ràng buộc lẫn nhau, chúng chịu sự chi phối của những
mối quan hệ cơ bản như: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng của
xã hội quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội. Những quan hệ duy vật nói trên
được Mác nghiên cứu và xem xét trên cơ sở của sự thống nhất giữa thế giới quan
duy vật và phép biện chứng. Từ đó Mác đã vạch ra những quy luật nội tại thúc đẩy
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 10
Tiểu luận Triết học
sự phát triển của xã hội loài người từ thấp lên cao thông qua sự vận động, phát
triển và thay thế lẫn nhau từ thấp lên cao của các hình thái kinh tế- xã hội.
Biểu hiện tập trung của tư tưởng biện chứng về sự vận động và phát triển
của xã hội được Mác chứng minh trong tư tưởng của phép biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, 2 yếu tố hợp thành phương thức sản xuất. Nội
dung của phép biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được Mác
chứng minh như sau:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt không tách rời của một
quá trình sản xuất, chúng kết hợp với nhau tạo thành những phương thức sản xuất
cụ thể ở trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Lực lượng sản xuất là nội dung của
Hình thái kinh tế - Xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử
dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất
đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng
sản xuất và một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan
hệ sản xuất ấy.
Là biểu hiện tập trung của quan niệm duy vật về lịch sử, học thuyết hình thái
kinh tế- xã hội nghiên cứu lịch sử xã hội trên cơ sở xem xét lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, tức toàn bộ các yếu tố
cấu trúc thành bộ mặt của thời đại: Chính trị , kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học,
kỹ thuật … Do đó, nó chỉ ra bản chất của quá trình phát triển của xã hội loài
người. Loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội theo trật tự từ thấp đến
cao đó là: Hình thái kinh tế cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư
bản chủ nghĩa và ngài nay đang quá độ lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa.
Hình thái kinh tế - xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời phát triển và
diệt vong. Chế độ xã hội lạc hậu sẽ mất đi , chế độ xã hội mới cao hơn sẽ thay thế.
Đó là khi phương thức sản cũ đã nên lỗi thời, hoặc khủng hoảng do mâu thuẫn của
quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quá lớn không thể phù hợp thì
phương thức sản xuất này sẽ bị diệt vong và xuất hiện một phương thức sản xuất
mới hoàn thiện hơn, có quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất. Như vậy
bản chất của sự thay thế trên là phụ thuộc vào mối quan hệ biện chứng giữa quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
* Việc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa :
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta
khẳng định: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau. Đó là quy
luật phát triển của cách mạng Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 12
Tiểu luận Triết học
mạng của Đảng. Việc Đảng ta luôn luôn kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã
Ở nước ta, đó là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 13
Tiểu luận Triết học
Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại. Nó là kết quả
của sự phát triển lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định, kết quả của quá
trình phân công lao động xã hội, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, đồng thời nó là
động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Theo quan điểm của Đảng ta, "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc".
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
vừa phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại, vừa phù hợp với yêu cầu
phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta; với yêu cầu của quá trình xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đảng ta
khẳng định: "Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản
xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt
sở hữu, quản lý và phân phối".
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không thể tách rời vai trò
quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. "Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ
nghĩa quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp
quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát
huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ
lợi ích nhân dân lao động của toàn thể nhân dân".
* Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta :
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời với phát triển kinh tế, phải phát triển văn hóa,
xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng
cao đời sống tinh thần của nhân dân; phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; giải quyết tốt các vấn đề xã hội,
thực hiện công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu: "dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh".
Tóm lại, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là một học thuyết khoa học.
Trong điều kiện hiện nay, học thuyết đó vẫn giữ nguyên giá trị. Nó đưa lại một
phương pháp thực sự khoa học để phân tích các hiện tượng trong đời sống xã hội
để từ đó vạch ra phương hướng và giải pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn.
Học thuyết đó đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện cụ thể
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 15
Tiểu luận Triết học
của nước ta, vạch ra đường lối đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ ra: "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10
năm 2001 - 2010 nhằm: đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ
rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng
cao.
3. Theo anh chị nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay được xây
dựng trên cơ sở nào ?
* Sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta :
Một trong những thành tựu lớn nhất của những năm đổi mới ở nước ta là
đổi mới kinh tế, tạo nên những tiềm lực mới cho sự phát triển của đất nước.
Có được thành tựu ấy là do nhiều nguyên nhân, trong đó đổi mới tư duy kinh
tế, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, gắn với thị trường theo định hướng xã
cho những chủ thể kinh tế, các doanh nhân mới năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám
làm, dám chịu trách nhiệm với mình và với đất nước.
Từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn luôn khẳng định thực hiện nhất quán
nền kinh tế nhiều thành phần với ý nghĩa nêu trên và được coi như một giải pháp
chiến lược góp phần giải phóng và khai thác mọi tiềm năng để phát triển lực lượng
sản xuất. Nghị quyết Trung ương 6, khóaVI, chỉ rõ: "Trong điều kiện nước ta, các
hình thức kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho
nền kinh tế và nằm trong cơ cấu nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội". Đại
hội VIII của Đảng nêu 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác,
kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Đại hội IX
của Đảng xác định, ở nước ta hiện nay, cần phát triển 6 thành phần kinh tế, tức là
ngoài 5 thành phần kinh tế nêu trên, có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài và nhấn mạnh các thành phần kinh tế đó đều là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu
dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước cùng với kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Có thể
nói đây là quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, nó
tạo điều kiện cho mọi cá nhân, đơn vị, tập thể khai thác phát huy mọi tiềm năng,
nội lực, tạo ra một tổng hợp lực thật sự cho việc phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 17
Tiểu luận Triết học
Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc xác định và
phát triển các loại hình sở hữu, phân định các thành phần kinh tế là cần thiết, hợp
quy luật làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế nói chung và
tạo điều kiện cho từng thành phần kinh tế nói riêng phát triển, phát huy được mọi
nguồn sức mạnh, giải phóng mọi năng lực sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy, cạnh tranh lẫn
nhau làm cho nền kinh tế của đất nước thực sự năng động phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Những thành phần kinh tế này có diện mạo riêng nhưng đều nằm trong sự
lẫn nhau giữa các thành viên xã hội, giữa các thành phần kinh tế để sản xuất, kinh
doanh đúng pháp luật.
Hợp tác xã kiểu mới đã khắc phục những hạn chế của hợp tác xã kiểu cũ. Nó
do các thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân (người lao động, hộ gia đình,
trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ…), cả người ít vốn và người nhiều vốn, người
góp sức hoặc góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng các nguyên
tắc, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Hợp tác xã không tập thể hóa mọi
tư liệu sản xuất của các thành viên mà dựa trên sở hữu của các thành viên và sở
hữu tập thể. Tổ chức và hoạt động của hợp tác xã không bị giới hạn bởi quy mô,
lĩnh vực và địa bàn, hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm trong cơ chế thị trường. Hình thức phân phối vừa theo lao động, vừa theo cổ
phần và mức độ tham gia, dịch vụ…
Với những ưu việt như vậy, Đại hội IX của Đảng xác định: Kinh tế tập thể
phát triển với nhiều hình thức hợp tác xã đa dạng. Nhà nước phải giúp đỡ hợp tác
xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học – công nghệ, nắm bắt thông tin, mở rộng thị
trường… để cùng với kinh tế nhà nước ngày càng giữ vai trò nền tảng vững chắc
của nền kinh tế quốc dân.
Trong chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, Đại hội IX của Đảng coi kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài.
Loại hình kinh tế này xuất hiện và phát huy tác dụng ở cả thành thị và nông thôn,
cả trong nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Sự phát triển
kinh tế cá thể, tiểu chủ trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa gắn với thị trường có
vai trò quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trong việc thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh phát triển.
Qua thực tế những năm đổi mới cho thấy, kinh tế hộ cá thể, tiểu chủ là loại
hình tổ chức sản xuất, kinh doanh mang tính chất của một xí nghiệp gia đình chứa
đựng những khả năng lớn của sáng kiến cá nhân. ở đây, nguyên tắc kinh doanh,
theo đuổi mục tiêu doanh lợi kết hợp hài hòa với các giá trị gia đình. Những thành
viên trong hộ gắn bó với nhau bằng quan hệ ruột thịt, nên có tính cộng đồng, trách
nhiệm cao dễ thống nhất. Ngoài các hoạt động sản xuất, kinh doanh, chủ hộ còn
cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề
chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển
kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực của đất nước trong hội
nhập kinh tế quốc tế".
Theo V.I. Lê-nin, chủ nghĩa tư bản nhà nước là con đường hữu hiệu nhất để
cải tạo các quan hệ tiểu nông, để phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 20
Tiểu luận Triết học
nghĩa. Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức hợp
tác, liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên
doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài. V.I. Lê-nin cũng nhấn mạnh:
Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa phục tùng sự điều tiết của nhà nước (giám
sát, kiểm tra, quy định các hình thức trật tự, v.v). Chủ nghĩa tư bản nhà nước gắn
liền với nhà nước, phụ thuộc vào bản chất của nhà nước, khả năng điều tiết của nhà
nước và phụ thuộc vào sự vững mạnh của nhà nước. Trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta, chúng ta hoàn toàn có khả năng làm được những điều nêu
trên. Vì vậy, Đảng ta chủ trương phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới
các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân
trong và ngoài nước trong việc khai thác các nguồn vốn, máy móc, thiết bị, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường v.v ,
để mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước.
Từ Đại hội IX Đảng ta khẳng định thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài, phản ánh đúng thực tế đang diễn ra trong nền kinh tế nước ta hiện nay.
Việc triển khai thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một
khối lượng đáng kể năng lực sản xuất, đã tiếp nhận được một số kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến trong một số ngành kinh tế như thông tin viễn thông, thăm dò dầu
khí, sản xuất phụ tùng, lắp ráp xe máy, hóa chất, trồng trọt theo công nghệ tiên
tiến, nuôi tôm nước lợ theo công nghệ mới, xây dựng khách sạn cao cấp, sản xuất
một số mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm có chất lượng cao… Đồng thời đã tiếp thu
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 22
Tiểu luận Triết học
quá trình lao động thì công cụ lao động luôn được cải tiến. Trong các quy luật
khách quan chi phối sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội thì
quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất có vai trò quyết định nhất. Từ lực lượng sản xuất sẽ hình thành nên một
tổng thể đó là kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ những quan điểm tư
tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng
tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định và đều có đặc điểm riêng, có quy
luật phát triển riêng nhưng không tồn tại tác rời nhau mà liên hệ tác động qua lại
lẫn nhau và nảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng.
Vậy xây dựng hình thái kinh tế xã hội ở Việt Nam thì nhất thiết các yếu tố
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, sinh hoạt, văn hoá
không thể thiếu một yếu tố nào được mà nó phải gắn bó, liên kết cùng nhau trên
con đường phát triển của đất nước.Biết tìm ra những phương pháp có hiệu quả phù
hợp với đất nước như xây dựng nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, xây dựng
hệ thống chính trị theo nguyên tắc nhân dân lao động, mở rộng giao lưu quốc
tế sẽ làm cho hình thái kinh tế nước ta phát triển hơn. Chính những điều
đó sẽ có ý nghĩa rất tốt đối với các mặt trong tổng thể hình thái kinh tế xã hội của
nước ta. Nó sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế lực lượng lao động sẽ có việc làm và
không bị dư thừa, đời sống văn minh lịch sự, thu nhập quốc dân tăng thì tổng thể
hình thái kinh tế - xã hội của nước ta sẽ phát triển, nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế của
nước ta đi lên. Muốn vậy nước ta phải thực hiện tốt đường lối đổi mới toàn diện
mà Đảng đã đề ra.
Cao học Kỹ thuật điện tử - K18 Trang 23