BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIĐẶNG THỊ XUYÊN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
SẦM SƠN, THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT
Hà Nội, 2014
i
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ XUYÊN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
SẦM SƠN, THANH HÓA
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã Số: 603801
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TSKH. ĐÀO TRÍ ÚC
Hà Nội, 2014
iii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết
hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tập tại Chi cục Thuế Thị xã Sầm
Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cùng với sự nổ lực cố gắng của bản thân.
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý
ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Diễn giải
1
NQD Ngoài quốc doanh
2
TX Thị xã
3
QLT Quản lý thuế
4
SXKD Sản xuất kinh doanh
5
KTXH Kinh tế xã hội
6
DN Doanh nghiệp
7
NSNN Ngân sách nhà nước
8
UBND Uỷ ban nhân dân
9
`
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
10
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
11
TK – TN Tự khai – Tự nộp
iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG 2.1: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN TX SẦM SƠN 25
BẢNG 2.2: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP, VỐN ĐẦU TƯ THEO NGÀNH NGHỀ KINH
1.2.2.1. Giai đoạn trước 2006 13
1.2.2.2.Giai đoạn từ năm 2006 đến nay 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17
vi
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN THỊ XÃ SẦM SƠN VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SẦM SƠN, THANH HÓA 17
2.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI SẦM SƠN VÀ CƠ CẤU LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TRÊN ĐỊA BÀN 18
2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội Thị xã Sầm Sơn 18
2.1.2. Tình hình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã 24
2.1.2.1. Số lượng doanh nghiệp, vốn đăng ký kinh doanh 24
2.1.2.2. Số lượng doanh nghiệp, vốn đăng doanh ký theo ngành nghề kinh doanh 27
2.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ 29
2.2.1. Hệ thống pháp luật về quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam 29
2.2.2 Nội dung cơ bản của Luật QLT và các văn bản hướng dẫn thi hành luật 34
2.2.2.1. Trong công tác quản lý thuế: 35
2.2.2.2. Trong xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế 37
2.2.2.3. Thực hiện quy định của Luật Quản lý thuế 38
2.2.2.4. Cơ quan quản lý thuế được giao quyền sử dụng một số biện pháp để đảm bảo thu đủ tiền
thuế cho Ngân sách nhà nước 39
2.2.3. Những bất cập của pháp luật về quản lý thuế 45
2.3. THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ 54
2.3.1. Hiệu quả đạt được trong công tác thi hành pháp luật thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế
nói riêng 54
2.3.2. Thực trạng thực hiện Pháp luật về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn Thị Xã Sầm Sơn, những hạn chế của công tác quản lý thuế đối với DNNQD. 58
2.3.2.1. Bên cạnh những kết quả khả quan như trên, công tác quản lý thuế còn tồn tại một số hạn chế
như sau : 58
2.2.3.2. Hạn chế trong công tác của các cơ quan thuế,cán bộ thuế 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia, đối với đời sống xã
hội và sự phát triển kinh tế của quốc gia đó. Thuế là công cụ hiệu quả để Nhà
nước điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết
nhiều vấn đề kinh tế xã hội của đất nước, để điều tiết một phần tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu
chi tiêu chung của nhà nước và xã hội. Nó góp phần bảo đảm công bằng xã
hội và hội nhập quốc tế.
Hoạt động quản lý thuế là một hoạt động không thể thiếu trong việc
quản lý nền kinh tế - tài chính của đất nước, nhận thấy được tầm quan trọng
của nó, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã đưa ra những chính sách,
biện pháp, giải pháp quản lý hữu hiệu nhất, pháp luật thuế nói chung và pháp
luật quản lý thuế nói riêng đã từng bước hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu đó.
Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, nhưng bên
cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục.Vì vậy
cần một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thích hợp để
góp phần đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo tính dân chủ cao.
Đại hội Đảng lần thứ IV đã nhận định: Trong xã hội ta còn nhiều người
có sức lao động chưa có việc làm, chưa sử dụng hết thời gian lao động. khả
năng thu hút sức kao động của khu vực Nhà nước là có hạn trong khi nguồn
vốn của Nhà nước eo hẹp thì nguồn dự trữ vốn trong nhân dân hầu như chỉ để
đưa vào tiêu dùng, cất giữ. Phải có chính sách mở đường cho người lao động
tự tạo việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất kinh doanh, mở
Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn hiện nay, đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp ngoài Quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, tỉnh Thanh Hóa.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn Pháp luật về quản lý
thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Đánh giá đúng thực trạng Pháp luật về quản lý thuế đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện Pháp luật về
quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã
Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Là tài liệu tham khảo, nghiên cứu đối với các cán bộ thuế thực hiện
các chức năng quản lý thuế tại Chi cục thuế Thị Xã Sầm Sơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trên địa bàn TX Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Tập trung nghiên cứu về pháp luật các loại thuế sử dụng để quản lý các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Từ đó kiến nghị đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả các
chính sách pháp luật thuế đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và thu chi ngân
sách trên địa bàn.
+ Phạm vi về không gian
Tại địa bàn TX Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
+ Phạm vi về thời gian
Đề tài sử dụng thông tin được công bố trên các tài liệu, báo cáo, trong
các năm từ (2006- 2013).
3
4. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
là việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế; bao gồm các hoạt
động nghiệp vụ mang tính chất hành chính trong lĩnh vực thuế; là hoạt động
chấp hành theo kế hoạch và trình tự nhất định được thực hiện bởi các cơ quan
QLT
Luật QLT của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10, số 78/2006/QH11
ngày 29/11/2006, tiếp cận vấn đề quản lý thuế theo nghĩa hẹp. Luật không
đưa ra khái niệm cụ thể về QLT mà chỉ nêu ra các nội dung trong quản lý thuế
5
tại Điều 3. Nội dung quản lý thuế bao gồm : Đăng ký thuế, khai thuế, nộp
thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế,
tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế;
Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về
thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
Từ điều luật này có thể thấy, pháp luật quản lý thuế bao gồm các quy
định mang tính thủ tục được xây dựng để thực hiện các chính sách thuế của
nhà nước.
Bản chất của QLT là quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế.
Vì vậy, QLT được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý hành chính.
Chủ thể trong quan hệ QLT bao gồm 2 đối tượng :
+) Đối tượng quản lý : về cơ bản, trách nhiệm tham gia QLT là của nhà
nước và mọi tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, để đảm bảo thực thi trách nhiệm
QLT, nhà nước trao quyền hạn, trách nhiệm QLT trực tiếp cho cơ quan QLT
cụ thể là cơ quan thuế (gồm Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế) và cơ
quan hải quan (gồm Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan).
+) Đối tượng chịu sự QLT của nhà nước là đối tượng nộp thuế được
xác định trong luật quản lý thuế 2006 gồm:
‘‘ a) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế;
b) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân
sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý
thu theo quy định của pháp luật;
Cơ chế QLT là tổng hợp của các yếu tố: phương châm quản lý, cách
thức tiến hành hoạt động quản lý và bộ máy tổ chức của cơ quan thực hiện
hoạt động này. Nếu như cơ chế quản lý thuế truyền thống là quản lý theo chế
độ chuyên quản (một cán bộ chuyên quản thực hiện toàn bộ các khâu và trực
7
tiếp thu thuế từ đối tượng nộp thuế rồi sau đó nộp vào kho bạc) với phương
châm là chủ yếu dùng quyền lực mang tính áp đặt đối với người nộp thuế, thì
phương châm của cơ chế quản lý thuế hiện đại là làm cho người nộp thuế hiểu
và tự giác tuân thủ nghĩa vụ thuế của mình. Theo đó, cách thức tiến hành là:
người nộp thuế sẽ tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế, cơ quan QLT chỉ ấn định
thuế trong trường hợp người nộp thuế vi phạm pháp luật thuế, không tự tính
được số thuế phải nộp hoặc các trường hợp đặc biệt khác theo quy định tại
điều 37, 38, 39 của Luật QLT. Cơ chế QLT này đã được triển khai áp dụng ở
nước ta từ năm 2007 và tỏ ra có nhiều ưu điểm vượt trội so với cơ chế cũ như:
Một là: Tiết kiệm thời gian, công sức của cán bộ QLT: cán bộ QLT
không phải mất thời gian tính toán số liệu trên tờ khai, số thuế phải nộp,
không mất thời gian gửi thông báo thuế và đôn đốc thu nộp.
Hai là: Tiết kiệm chi phí quản lý hành chính thuế : không phải gửi
hàng triệu thông báo thuế cho các đối tượng nộp thuế, tiết kiệm chi phí in ấn,
cước phí bưu điện.
Ba là: Người nộp thuế giảm thời gian chờ cơ quan thuế chấp nhận tờ
khai hàng tháng trước khi phát hành thông báo thuế.
Bốn là: Nâng cao trách nhiệm pháp lý của đối tượng chịu thuế, phải
chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của số liệu kê khai, tính chính
xác của việc tính toán chính xác số thuế phải nộp.
Năm là: Tạo tiền đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế của cơ
quan thuế. Do không mất thời gian tính lại số thuế phải nộp, gửi thông báo
thuế, cán bộ thuế có điều kiện tập trung thời gian, công sức cho các công việc
quản lý như công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thu nộp.
Ngoài ra, cơ quan QLT còn thực hiện quản lý thuế dựa trên kỹ thuật
9
sẽ được cung cấp như: hướng dẫn cho phép người nộp thuế tiếp cận các văn
bản pháp quy, hướng dẫn, biểu mẫu cần thiết cho họ hiểu rõ nghĩa vụ của
mình; cung cấp thông tin giúp người nộp thuế có thể thực hiện nghĩa vụ thuế
một cách thuận tiện, nhanh chóng và đảm bảo tính công bằng, minh bạch cho
hệ thống thuế; tư vấn cung cấp thông tin có tính chuyên môn cao từ các
chuyên gia trong lĩnh vực thuế cho người nộp thuế. Các phương thức hỗ trợ sẽ
được đa dạng hóa nhằm thuận tiện cho các đối tượng nộp thuế như qua điện
thoại, dịch vụ internet Để thực hiện những yêu cầu trên thì cơ cấu tổ chức
của cơ quan QLT được sắp xếp thành những bộ phận theo nhóm người nộp
thuế, với các chức năng chuyên sâu nhằm quản lý và cung cấp dịch vụ cho
từng nhóm người nộp thuế. Cơ quan QLT đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu và
đáp ứng nhu cầu của người nộp thuế hơn là buộc người nộp thuế phải đáp ứng yêu
cầu của mình.
1.2. KH I QU T CHUNG V PH P LU T QU N LÝ THUÁ Á Ề Á Ậ Ả Ế
1.2.1. Khái niệm Pháp lu t v Qu n Lý thuậ ề ả ế
Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện hệ thống thuế
thường được quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật
thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý
thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế. Hiểu theo
nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể
được gói gọn trong một thuật ngữ là “Pháp luật về quản lý thuế” và tùy thuộc
vào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ
luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo
luật về quản lý thuế.
Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung
về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ. Trong bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định
về nội dung cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về
10
trình tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và
thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho nhà nước, trên cơ sở chịu sự
kiểm tra, giám sát trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan quản lý thuế - với
tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong hoạt động hành thu thuế. Như
đã phân tích ở trên, việc chuyển sang mô hình hành thu thuế theo cơ chế tự
đăng ký, tự khai, tự tính và tự nộp là bước đột phá quan trọng trong tiến trình
cải cách hành chính thuế ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam
nói riêng. Xét từ phương diện pháp luật, các quy định về cơ chế tự đăng ký, tự
kê khai, tự tính và tự nộp thuế nhằm hướng tới mục tiêu mở rộng quyền năng
cho người nộp thuế, đồng thời thông qua đó cũng đề cao ý thức trách nhiệm
của họ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Hai là: Các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp
luật thuế. Đây là những quy định thể hiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý
hành chính của Nhà nước đối với xã hội nói chung và đối với người nộp thuế
nói riêng. Trước đây, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế thường được tiến
hành trước khi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, gọi là cơ chế
“tiền kiểm”. Tuy nhiên, gần đây, những nỗ lực trong quá trình cải cách hành
chính thuế đã dẫn đến việc chuyển đổi từ cơ chế “tiền kiểm” sang cơ chế “hậu
kiểm”, theo đó cơ quan quản lý thuế chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra sau khi
người nộp thuế đã tự thực hiện các thủ tục chính yếu của quá trình quản lý
thuế như đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế, quyết toán thuế,
hoàn thuế hay xin miễn giảm thuế. Dựa trên cơ sở kết quả thanh tra và kiểm
tra, cơ quan thuế có quyền áp dụng các chế tài xử lý đối với những hành vi vi
phạm pháp luật thuế. Việc quy định theo hướng này không những làm giảm
gánh nặng công việc cho cơ quan quản lý thuế, đảm bảo tính hợp lý của quá
trình quản lý thuế mà còn tạo điều kiện để cơ quan thuế nâng cao tính chuyên
12
nghiệp trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế - với tư cách là những công cụ
quản lý thuế hiệu quả nhất.
Ba là: Các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế. Tranh
chấp nói chung và tranh chấp về thuế nói riêng là hậu quả khó tránh của quá
chế tự khai, tự nộp thuế, cơ quan Thuế chuyển từ quản lý thuế tiền kiểm sang
hình thức hậu kiểm và cung cấp dịch vụ công nhằm giúp người nộp thuế thực
hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế ngày
càng được nâng cao, vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác quản
lý thuế từng bước được tăng cường. Nhiều tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt
nghĩa vụ nộp thuế đã được cơ quan Nhà nước tôn vinh. Dư luận xã hội ngày
càng quan tâm nhiều đến công tác thuế, tích cực phối hợp với cơ quan quản lý
thuế trong công tác quản lý thuế, phản ánh và phê phán những hành vi trốn
thuế và gian lận tiền thuế.
Công tác quản lý thuế đã hình thành một tổ chức thống nhất trong cả
nước và từng bước được củng cố, tăng cường, kiện toàn cả về tổ chức bộ máy
quản lý thuế và quy trình nghiệp vụ quản lý. Trình độ công chức thuế ngày
càng được nâng lên theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, nhờ đó mà số thu
từ thuế và phí vào ngân sách Nhà nước luôn vượt dự toán Nhà nước giao hàng năm.
Song bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác quản lý
thuế, trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế,
công tác quản lý thuế còn bộc lộ một số tồn tại như :
Nước ta chưa có một văn bản luật thống nhất về QLT, các quy định về
QLT nằm rải rác trong nhiều các văn bản pháp luật khác nhau như trong các
văn bản pháp luật ở từng sắc thuế có những quy định về QLT riêng như : quy
14