Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội ở việt nam hiện nay (tóm tắt) - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ “Hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật, chính sách về đất đai nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi
ích của người sử dụng đất, lợi ích của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để sử
dụng có hiệu quả nguồn đất đai cho sự phát triển; khắc phục tình trạng lãng phí
và tham nhũng đất đai”.
Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ
chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục
đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy
định của pháp luật." Ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
đô thị hóa. Để triển khai được các dự án đầu tư phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, Nhà nước phải thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư cho các hộ dân có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, công tác thu hồi đất vẫn
đang là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, còn nhiều tồn tại, vướng mắc bởi
nó liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều chủ thể. Tình hình khiếu nại, tố cáo
liên quan đến đền bù, thu hồi đất chiếm tới 80% trong các loại khiếu kiện. Khi
thu hồi đất để phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội còn gặp không ít khó
khăn trong vấn đề định giá đất, bồi thường thiệt hại chưa phù hợp từ đó gây ra
sự căng thẳng, bức xúc trong nhân dân. Điển hình có một số vụ việc nổi cộm
gần đây gây xôn xao dư luận là việc thu hồi đất dự án Ecopark ở huyện Văn
Giang, tỉnh Hưng Yên, hay vụ một người nông dân nổ súng bắn một số cán bộ
của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình…. Qua đó
cho thấy, có nhiều trường hợp người dân không chấp nhận việc bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư theo quyết định thu hồi đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành, dẫn đến khiếu kiện kéo dài, nhiều dự án phải thực hiện bằng biện
pháp cưỡng chế thu hồi đất.
Các quy định pháp luật về thu hồi đất nhiều và thường xuyên thay đổi,
nhưng còn thiếu đồng bộ, chưa hoàn chỉnh, chưa thống nhất và chưa tạo được
đầy đủ căn cứ pháp lý để triển khai trong thực tiễn, đặc biệt là cơ chế thực hiện

định. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về thực hiện pháp luật về thu
hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Kế thừa những thành quả
nghiên cứu của các công trình kể trên, Luận văn đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống,
toàn diện và tập trung về thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với
các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Đánh giá thực trạng pháp luật để đưa ra giải pháp bảo đảm thực hiện pháp
luật về thu hồi đất nhằm giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ hài hòa giữa
lợi ích Nhà nước, lợi ích người bị thu hồi đất và lợi ích nhà đầu tư.
2
Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ các hình thức thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích bất cập thực hiện pháp luật về thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục bất cập.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về thực
hiện pháp luật về thu hồi đất.
- Các văn bản quy phạm pháp luật thực định về thực hiện thu hồi đất đối với
các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực tiễn, thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển
kinh tế - xã hội.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn giới hạn ở việc tìm hiểu các quy phạm pháp luật về thực hiện pháp
luật về thu hồi đất, thời gian đánh giá từ khi có Luật Đất đai 2003 đến nay, trên
phạm vi cả nước.

đó. Thu hồi đất thể hiện quyền lực Nhà nước, người đại diện chủ sở hữu toàn
dân về đất đai.
Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 đưa ra khái niệm thu hồi đất: “Thu
hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
quản lý theo quy định của Luật này”.
Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đưa ra khái niệm:“Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của
người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử
dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
Các khái niệm nêu trên, thu hồi đất xét về mặt hình thức là văn bản hành
chính; nhưng xét về mặt nội dung, là việc sử dụng quyền lực nhà nước để thu lại
quyền sử dụng đất để phục vụ cho các mục tiêu của Nhà nước.
- Việc thu hồi đất do cơ quan quản lý hành chính nhà nước tiến hành theo
một thủ tục, trình tự nhất định. Thẩm quyền thu hồi đất được xác định theo thẩm
quyền giao đất, cơ quan có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đối với
loại đất đó.
- Thu hồi đất được thực hiện thông qua quyết định thu hồi đất của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Xác định rõ chủ thể bị thu hồi, lý do thu hồi, diện tích
thu hồi, mục đích thu hồi làm căn cứ cho việc chấm dứt quan hệ pháp luật đất
đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
- Phương pháp mệnh lệnh được dùng trong mọi trường hợp thu hồi đất. Đây
là quan hệ một bên là Nhà nước với một bên là người sử dụng đất, hai chủ thể
này không có sự bình đẳng với nhau về mặt pháp lý.
- Thu hồi đất là một biện pháp pháp lý quan trọng nhằm thể hiện quyền sở
4
hữu toàn dân đối với đất đai mà nhà nước là người đại diện chủ sở hữu. Để thực
hiện nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của
Nhà nước, xã hội và lập lại kỷ cương của Nhà nước trong trường hợp vi phạm
luật đất đai.

Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi
tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai.
5
Nếu xét ở góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ để tiến hành một
công việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn lực
nhất định và khoảng thời gian nhất định.
Nếu xét về góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một kế hoạch chi tiết về đầu
tư phát triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hóa,
làm cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển.
Luật Đấu thầu năm 2005 tại khoản 7 Điều 4 đưa ra khái niệm về dự án như
sau: “Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc
nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa
trên nguồn vốn xác định”
Như vậy, một dự án có thể được xem xét như là một chuỗi các công việc và
nhiệm vụ: Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất định;
được xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc; có hạn chế nhất định về tài chính;
sử dụng các nguồn lực nhất định về phương tiện, thiết bị, con người.
1.2.2. Đặc điểm của dự án phát triển kinh tế - xã hội
Một dự án phát triển kinh tế - xã hội thường có 4 bộ phận:
Một là: Mục tiêu của dự án gồm có hai cấp mục tiêu: Mục tiêu phát triển và
mục tiêu trực tiếp. Mục tiêu phát triển là mục tiêu dự án góp phần thực hiện,
được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, của vùng. Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được
trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.
Hai là: Kết quả dự án là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các
hoạt động của dự án, kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp
của dự án.
Ba là: Các hoạt động của dự án là những công việc do dự án tiến hành nhằm
chuyển hóa các nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động dự án đều
đem lại kết quả tương ứng.

thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi pháp
luật cho phép). Khác với hình thức thi hành pháp luật, ở hình thức này, các chủ
thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý
chí của mình, không bị bắt buộc phải thực hiện.
- Áp dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà
nước thông qua các cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức cho các
chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn
cứ vào các quy định pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể. Hình thức này luôn có sự tham gia
của Nhà nước.
Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã
hội là thực hiện pháp luật thông qua hình thức áp dụng pháp luật, theo đó cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành một quyết định hành chính cá biệt để áp
dụng đối với việc thu hồi một diện tich đất cụ thể phục vụ cho việc triển khai
một dự án kinh tế - xã hội cụ thể. Ví dụ, Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định
thu hồi 20ha đất nông nghiệp của 50 hộ gia đình để phục vụ cho dự án xây dựng
7
khu đô thị mới.
Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với cá dự án phát triển kinh tế -
xã hội là quá trình hoạt động có mục đích, thể hiện ý chí của Nhà nước, do
cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thu hồi đất bằng hành vi của mình làm
cho những quy định pháp luật về thu hồi đất đi vào cuộc sống, trở thành
hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật, bảo đảm nguyên tắc
dân chủ, công khai, minh bạch và công bằng.
1.3.2. Chủ thể, khách thể, hình thức, cơ chế điều chỉnh và vai trò của thực
hiện pháp luật về thu hồi đất
1.3.2.1. Chủ thể thực hiện pháp luật về thu hồi đất
- Cơ quan nhà nước: có thẩm quyền tham gia vào quá trình thực hiện pháp
luật về thu hồi đất gồm UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện và UBND cấp xã.
UBND cấp tỉnh thu hồi đất của các tổ chức. UBND cấp huyện thu hồi đất

- Thi hành pháp luật về thu hồi đất
Đây là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể pháp luật
thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Ví dụ: Cơ quan
nhà nước thu hồi đất phải thông báo trực tiếp tới người có đất bị thu hồi và niêm
yết công khai tại trụ sở UBND xã nơi có đất bị thu hồi về phương án thu hồi đất,
người bị thu hồi đất phải có trách nhiệm kê khai tài sản của mình
- Sử dụng pháp luật về thu hồi đất
Đây là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể pháp luật
thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi pháp luật cho phép).
Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật ở chỗ:
chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép
theo ý chí của mình, không bị ép buộc phải thực hiện. Ví dụ: Người bị thu hồi
đất có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được khiếu nại, tố cáo của
mình về quá trình thu hồi đất theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.
- Áp dụng pháp luật về thu hồi đất
Hình thức áp dụng pháp luật luôn thể hiện ý chí của Nhà nước thông qua
quyết định thu hồi đất. Đây là quyết định hành chính cá biệt cần phải tuân thủ
triệt để những quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể
thức văn bản Ví dụ: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi
đất không đúng quy định của pháp luật, thì người bị thu hồi đất có quyền khởi
kiện quyết định đó ra toà án để yêu cầu toà án giải quyết để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình
1.3.2.4. Cơ chế thực hiện pháp luật về thu hồi đất
Trong lĩnh vực thu hồi đất hiện nay có 2 cơ chế thực hiện gồm :
- Cơ chế Nhà nước thu hồi đất áp dụng đối với các trường hợp sau:
Thứ nhất, Nhà nước thực hiện thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (quy định tại điều 39 Luật Đất đai 2003, điều
40 khoản 1, khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.

bộ có thẩm quyền trong quá trình tổ chức thực hiện việc thu hồi đất. Trên cơ sở
đó cấp có thẩm quyền kịp thời uốn nắn và có những giải pháp đồng bộ để khắc
phục những tồn tại, yếu kém đã phát hiện.
Thứ tư, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước. Do đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuyệt
đối tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước. Thực hiện đúng pháp luật
10
trên thực tế sẽ làm cho pháp chế được bảo đảm.
1.4. Một số điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất
1.4.1. Điều kiện đảm bảo về chính trị, tư tưởng
Thông qua sự lãnh đạo của Đảng bằng đường lối chủ trương chính sách đúng
đắn, phản ánh đúng các yêu cầu thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước và công tác thu hồi đất. Đặc biệt là các chủ trương của Đảng và Nhà
nước đối với những người bị thu hồi đất. Đó là cơ sở chính trị quan trọng cho các
cơ quan Nhà nước thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên
quan đến thu hồi đất, tạo cơ sở pháp lý cho việc đưa những chủ trương, chính
sách của Đảng vào cuộc sống.
1.4.2. Điều kiện đảm bảo về pháp lý
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thu hồi đất bao gồm:
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Hiến pháp 2013 có hiệu lực pháp
luật 1/1/2014; Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp quy hướng dẫn một
số quy định về thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2003 như Nghị định số
181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số
197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thu hồi đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, quy định bổ sung về quy hoạch
sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, cũng như một
số thông tư liên tịch và các văn bản của chính quyền địa phương quy định về

- xã hội phải có cơ chế điều chỉnh hợp lý có hiệu quả mà đặc biệt là chủ thể,
khách thể, hình thức và vai trò thực hiện pháp luật về thu hồi đất.
3. Để thực hiện pháp luật về thu hồi đất có hiệu quả đáp ứng được mục đích
phát triển kinh tế - xã hội phải đảm bảo các điều kiện về chính trị tư tưởng, pháp
lý kinh tế và việc làm, chính sách và trình độ năng lực phẩm chất của cán bộ
công chức.
12
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THU HỒI ĐẤT ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1. Hệ thống văn bản pháp luật về thực hiện thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội
Từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung có
cả một hệ thống đồ sộ các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thu hồi,
bồi thường về đất.
Song hành với những quy định của Hiến pháp năm 2013 và sự phát triển của
Luật Đất đai năm 2013, các quy định về thu hồi đất sẽ được quy định chi tiết tại
Nghị định về thu hồi đất, bồi thường và tái định cư. Các văn bản kể trên đã tạo
cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thu hồi đất.
2.1.2. Quy định về thẩm quyền thu hồi đất
Trên cơ sở qui định thẩm quyền giao đất, cho thuê đất tại Điều 37, Điều 44
Luật Đất đai năm 2003 qui định thẩm quyền thu hồi đất nói chung như sau:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi
đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá
nhân tổ chức nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam.
- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu

được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng
đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình,
cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất (khoản 2 Điều 40 Luật Đất
đai 2003).
2.1.4. Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.4.1. Đối tượng bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 197/2004/NĐ-CP quy định về đối tượng
được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm tổ chức, cộng đồng
dân cư, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất đất bị Nhà nước thu hồi đất.
Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng
mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá
trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
2.1.4.2. Giá đất để tính bồi thường
Giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là căn cứ quan trọng để
thực hiện việc bồi thường cho người bị thu hồi; là nội dung chủ yếu giải quyết
mối quan hệ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất về lợi ích kinh tế.
Luật Đất đai 2003 tại Điều 56 quy định các nguyên tắc định giá đất trong
14
trường hợp giá đất được hình thành do Nhà nước quy định như sau:
- Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, kết cấu hạ
tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo
quy hoạch thì có mức giá như nhau.
- Sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong
điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền
sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp.
- Đất thuộc khu giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có
điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại,
và mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau.
2.1.4.3. Một số chính sách hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Một là, quy trình thu hồi đất còn thiếu dân chủ, minh bạch, công bằng.
Hai là, quy định trong hệ thống pháp luật, văn bản pháp luật còn thiếu nhất
quán, mâu thuẫn còn bất cập.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Những thành tựu đạt được
Luật Đất đai năm 2003 cùng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi
hành về lĩnh vực thu hồi đất ngày càng được hoàn thiện, giải quyết được nhiều
vấn đề cụ thể vướng mắc trong triển khai thực hiện Luật Đất đai. Các văn bản
pháp luật về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã góp phần to lớn vào
công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo Báo cáo của Bộ TN&MT về tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai
năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai (ngày 6/9/2012), thống kê chưa
đầy đủ của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau gần 7 năm triển khai
thực hiện Luật Đất đai năm 2003, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha
(trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
và phát triển kinh tế. Nhìn chung, diện tích được thu hồi đã đáp ứng được mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo được an ninh quốc phòng của đất nước.
Trên thực tế, chúng ta đã xây dựng được hàng trăm khu công nghiệp, thu hút
được rất nhiều các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài với số vốn vài chục tỷ
USD. Chính vì vậy, cơ cấu nền kinh tế nước ta chuyển dần theo hướng tiến bộ,
tỷ trọng khu công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên. Cơ sở hạ tầng kinh tế -
xã hội được xây dựng mới ngày càng nhiều, hiện đại và đồng bộ. Trình độ công
nghệ của các ngành sản xuất được cải thiện rõ rệt. Các dự án xây dựng được mở
mang ngày càng nhiều, càng hiện đại. Giải quyết được việc làm ổn định thu
nhập cho hàng triệu lao động.
2.2.2. Những tồn tại, bất cập
Thực hiện thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong giai
đoạn hiện nay đang là một trong những vấn đề còn nhiều bất cập và vướng mắc

Tổng
số ý
kiến
trả lời
Trả
lời
không
biết
Tổng
số
Số lượng ý kiến 3 14 86 310 175 588 12 600
% tổng ý kiến trả lời 0,5 2,4 14,6 52,7 29,8 100,0
% tổng ý kiến được hỏi 0,5 2,3 14,3 51,7 29,2 98,0 2.0 100,0
Nguồn: Nghiên cứu về có chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư ở Việt Nam. Ngân hàng thế giới, Hà Nội 2011
Theo bảng thống kê cho thấy, có 600 người bị thu hồi đất được hỏi (có 12
người không trả lời) trong đó trên 50% trả lời là không hài lòng và gần 30% trả
lời là rất không hài lòng, tức là có tới trên 80% người được hỏi đã trả lời không
hài lòng hoặc rất không hài lòng về giá đất áp dụng vào tính bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư.
2.2.2.2. Cơ chế tự thỏa thuận trong việc thu hồi đất còn nhiều bất cập
Vướng mắc khi thực hiện cơ chế này chủ yếu là có đất, có nhà thuộc
diện giải tỏa luôn đòi mức bồi thường cao hơn rất nhiều so với qui định của
pháp luật.
Thu hồi đất được thực hiện theo hai cơ chế làm phát sinh tình trạng có nhiều
dự án thực hiện theo những cơ chế khác nhau trong cùng một khu vực, dẫn đến
chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khác nhau. Nhà đầu tư thương
lượng, bồi thường đối với các dự án nhà ở, trung tâm thương mại để kinh doanh
17
có giá cao hơn giá đất Nhà nước bồi thường đối với những dự án làm đường,

làm, nhưng trên thực tế có ngành nghề đào tạo đơn giản, có ngành nghề đào tạo
phải cơ bản, dài hạn trong khi mức hỗ trợ cho đào tạo nghề còn quá thấp, khiến
đào tạo nghề đạt hiệu quả thấp.
18
2.2.2.5. Ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưa tốt
Tình trạng làm nhà trái phép, lấn chiếm đất công, chuyển nhượng, sang tên
nhà đất dưới hình thức trao tay diễn ra khá phổ biến, tạo ra sự lộn xộn trong
quản lý và sử dụng đất đai, khó khăn thu hồi đất.
Ở một số dự án, những người chây ỳ không chấp hành pháp luật lại được đền
bù cao hơn người có ý thức chấp hành tốt, vì vậy dẫn đến khiếu kiện kéo dài.
2.2.2.6. Một số vấn đề khác phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích và giáo dục pháp luật về thu
hồi đất còn nặng về tính phong trào, bề nổi. Hiện nay một số cán bộ, công dân
nắm pháp luật còn không vững, thậm chí còn hiểu sai các quy định của pháp
luật. Do đó tình trạng khiếu nại, khiếu kiện về đất đai ngày càng có xu hướng
tăng lên.
- Trình độ, năng lực của cán bộ làm công tác thu hồi đất còn hạn chế.
Trong quá trình thực hiện pháp luật, hoạt động nhận thức pháp luật, việc xác
định động cơ, mục đích, lựa chọn phương án xử xự bao giờ cũng xảy ra trước
khi thực hiện hành vi pháp luật. Do đó, nhận thức pháp luật có vai trò quan
trọng trong sự tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật và chấp hành pháp luật.
Ý thức pháp luật và trình độ pháp luật của cán bộ có thẩm quyền áp dụng
pháp luật như thế nào để có hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thu hồi
đất. Trên thực tế, đội ngũ làm công tác thu hồi đất phần lớn chưa được đào
tạo đúng chuyên môn.
Kết luận chương 2
Thứ nhất: Các quy định pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển
kinh tế - xã hội đang trong quá trình hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 và Luật
Đất đai năm 2013 sửa đổi đã có những quy định cơ bản về vấn đề này, đặc biệt
là các quy định cụ thể về giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

3.1. Phương hướng bảo đảm thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các
dự án phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất: Cần sớm đưa Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 có hiệu lực pháp
luật ngày 1/7/2014 vào cuộc sống, thông qua các Nghị định và các văn bản có
liên quan hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013.
Thứ hai: Cần ban hành Luật Quy hoạch để khớp nối quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội với các loại quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch tổng thể, quy
hoạch chi tiết) làm căn cứ cho kế hoạch thu hồi đất.
Thứ ba: Phải có chính sách, cơ chế cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
của những người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ tư: Cần sớm tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về thu hồi đất và bồi
thường về đất theo hướng dân sự hóa các vấn đề liên quan về thu hồi đất.
21
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
3.2.1. Cần gấp rút hoàn thành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất
đai năm 2013.
Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013,
có hiệu lực từ ngày 1/7/2014. Để thi hành chúng, chính phủ cần gấp rút hoàn
thiện và ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành, đặc biệt là nghị định về thu
hồi đất.
3.2.2. Rà soát các loại quy hoạch
Phải rà soát lại toàn bộ quy hoạch từ tổng thể tới chi tiết để loại trừ các quy
hoạch treo, và thu hồi đất của dân sau đó không triển khai xây dựng.
Công bố toàn bộ các loại quy hoạch để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến và
biết để thực hiện.
3.2.3. Công khai, minh bạch trình tự, thủ tục thu hồi đất
Quy trình thu hồi đất không chỉ là việc công khai, minh bạch trình tự, thủ tục
mà phải cho phép người dân được tham gia bàn bạc ngay từ đầu đối với các dự
án thu hồi đất. Nếu thiếu công khai, minh bạch, chắc chắn các dự án về thu hồi

xã hội
Cần lập quỹ quốc gia về bồi thường đối với thu hồi đất; Xác định công thức
quy chuẩn để tính mức bồi thường khi người dân bị thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội.
- Đối với vấn đề tái định cư phải có quy hoạch tái định cư gắn kết phát triển
giao lưu với các khu vực dân cư đã sẵn có cân đối vùng dân cư và phát triển
vùng miền.
Kết luận chương 3
Cần sớm đưa Luật Đất đai năm 2013 vào cuộc sống, nhanh chóng xây dựng
quy hoạch tổng thể về các dự án phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, công
khai, minh bạch trình tự, thủ tục thu hồi đất, tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế định giá
đất cho phù hợp với giá thị trường, đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật cho người
dân khi thu hồi đất, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thu hồi đất, ổn định
cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất, tổ chức bộ máy, có chính sách cụ thể về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho những người bị thu hồi đất để thực hiện các
dự án phát triển kinh tế - xã hội.
23
KẾT LUẬN
Thu hồi đất là một chế định cần thiết đối với các dự án phát triển kinh tế - xã
hội của pháp luật đất đai. Chế định này luôn được rà soát, sửa đổi, bổ sung và
hoàn thiện nhằm đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn.
Việc thực hiện pháp luật về thu hồi đất luôn gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Nó không chỉ đụng chạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất;
quyền và lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích của chủ đầu tư mà còn phải giải
quyết hàng loạt vấn đề xã hội phát sinh trực tiếp từ việc Nhà nước thu hồi đất
gây ra. Từ đó, phải có cơ chế điều chỉnh hợp lý, có hiệu quả mà đặc biệt là chủ
thể, khách thể, hình thức và vai trò của thực hiện pháp luật về thu hồi đất đáp
ứng được mục đích phát triển kinh tế - xã hội phải đảm bảo các điều kiện về
chính trị tư tưởng, pháp lý kinh tế và việc làm, chính sách và trình độ năng lực
phẩm chất của cán bộ công chức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status