MỤC LỤC
I _ LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................1
II_NỘI DUNG
A_Lý Thuyết...................................................................................................3
1. Thị trường chứng khoán.........................................................................3
2. Công ty chứng khoán..............................................................................3
a. Khái niệm và phân loại công ty chứng khoán....................................4
b. Vai trò của công ty chứng khoán........................................................5
c. Thành lập công ty chứng khoán..........................................................7
d. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán..............................10
e. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán ........................................11
3. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán.............................................11
a. Các nghiệp vụ chính..........................................................................11
b. Các nghiệp vụ phụ trợ.......................................................................16
B_Thực Tiễn..................................................................................................17
1. Đặc điểm của các công ty chứng khoán ở Việt Nam hiện nay...........17
2. Thực trạng của các công ty chứng khoán hiện na...............................18
a. Ảnh hưởng của luật chứng khoán tới việc thành lập các công ty
chứng khoán hiện nay........................................................................................18
b. Các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán Việt
Nam.....................................................................................................................19
3. Giải pháp để phát triển các công ty chứng khoán Việt Nam..............20
III_KẾT LUẬN.................................................................................................26
VI_TÀI LIỆU THAM KHẢO
VII_ PHỤ LỤC
1
Lời nói đầu
Đôi với sự tăng trưởng của nền kinh tế chúng ta có thể theo dõi thông qua
thị trường chứng khoán, nơi được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế. Và thị
trường chứng khoán của chúng ta chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000.
Như vậy đến nay đã được 6 năm phát triển và tồn tại .Thị trường chứng khoán
chính thức được công nhận là thành viên của WTO, điều đó đem lại cho
2
chúng ta rất nhiều lợi thế, tuy nhiên không hẳn là sẽ không phải đối mặt với
khó khăn và thách thức. Đối với các tổ chức tài chính thì việc phải đối đầu với
những thách thức, cạnh tranh mạnh mẽ từ phía rất nhiều các tổ chức tài chính
trên thế giới với thế về quy mô và kinh nghiệm. Trước những thách thức của
bên ngoài, chúng ta cần có những biện pháp sửa đổi và điều chỉnh phù hợp,
cần thiết để đối phó với những khó khăn. Thị trường chứng khoán là một thị
trường mới còn non yếu về nhiều mặt vì vậy cần rất nhiều sự hỗ trợ, điều
chỉnh để cho phù hợp đủ sức cạnh tranh với các tổ chức nước ngoài. Thị
trường này phát triển được thì các công ty chứng khoán cũng cần đổi mới,
phát triển. Muốn có được những thay đổi chuyển của các công ty chứng
khoán thì trước hết chúng ta hãy cùng tìm hiểu và đánh giá xem hiện tại
chúng ta đang ở vị trí nào. Cũng vì lý do này mà tôi quyết định đi sâu vào
mảng các công ty chứng khoán trong bối cảnh TTCK Việt Nam.
3
I. NỘI DUNG:
A_Lý thuyết :
1.Thị trường chứng khoán :
Quan niệm về thế nào là một thị trường chứng khoán thì hiện nay có
nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm cho rằng thị trường chứng khoán và
thị trường vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm thị
trường tư bản. Nếu xét về mặt nội dung, thì thị trường vốn biểu hiện các quan
hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán chứng khoán. Thị trường chứng
khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Do đó hai thị
trường này không tách biệt nhau nó cùng phản ánh các quan hệ bên trong và
bên ngoài của thị trường tư bản. Quan điểm thứ hai dựa trên những quan sát
trên thị trường, tại đại đa số các sở giao dịch chứng khoán các giao dịch thực
hiện là mua bán chứng khoán. Do đó thị trường chứng khoán có thể coi là thị
trường cổ phiếu, hay là nơi mua bán cổ phiếu, cổ phần của các công ty phát
động trên các thị trường này diễn ra liên tục 24/24.
Thị trường chứng khoán được sự tham gia của rất nhiều chủ thể, có thể
chia thành các nhóm sau chủ thể phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức liên quan
đến thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư là những người có tiền, tham gia
vào thị trường để mua bán kiếm lời. Có hai loại nhà đầu tư là nhóm nhà đầu
tư cá nhân và nhóm các nhà đầu tư có tổ chức. Hai nhóm này khác nhau về
mặt quy mô kinh doanh và chuyên môn, kinh nghiêm, thông tin và ưu thế
luôn thuộc về nhóm nhà đầu tư có tổ chức. Chủ thể thứ ba là các tổ chức có
liên quan đến thị trường chứng khoán bao gồm cơ quan quản lý giám sát hoạt
động thị truờng chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà
kinh doanh chứng khoán, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán,
các tổ chức hỗ trợ, các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam là điều hợp lý phù hợp
với xu hướng hiện nay, khi mà chúng ta gia nhập WTO và yêu cầu của phát
triển kinh tế với tốc độ cao đòi hỏi nhu cầu về vốn rất nhiều. Ngoài những
kênh huy động vốn thông thường từ các tổ chức tín dụng, thị trường chứng
khoán ra đời đã giúp cho việc tăng thêm địa chỉ để cho các doanh nghiệp có
thể huy động vốn phục vụ cho đấu tư phát triển kinh doanh. Thị trường chứng
khoán tạo cho các chứng khoán có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập
trung và phân phối vốn chuyển thời hạn vốn phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế. Nhờ có điều đó mà chúng ta có thể chuyển đổi chứng khoán thành
tiền một cách nhanh chóng, để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn. Thị
trường chứng khoán còn là cơ hội để chính phủ huy động các nguồn tài chính
tài trợ cho ngân sách mà không gây ảnh hưởng đến lạm phát, đồng thời cũng
là các công cụ của các chính sách tài chính tiền tệ để chính phủ điều tiết đến
nền kinh tế. Ngoài ra thị trường chứng khoán còn là một dự báo tuyệt vời về
tình hình nền kinh tế, vì vậy mà có thể coi thị trường chứng khoán như phong
vũ biểu của nền kinh tế. Từ những thông tin từ thị trường có thể giúp cho
chính phủ cũng như các công ty có đuợc những đánh giá hoạt động của mình
từ đó có những điều chỉnh tương thích. Tóm lại thị trường chứng khoán đem
nghiệp vụ nó tạo cho các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, các
chứng khoán có thể trao đổi dễ dàng thuận lợi trền thị trường chứng khoán.
Từ đó huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng, các nhà đầu
tư để phân bổ vào nơi có hiệu quả. Điều đó được thể hiện qua các chức năng
dưới đây của công ty chứng khoán :
-Tạo cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa nhà đầu tư và chủ thể
phát hành, thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành.
-Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch, thông qua hệ thống
khớp lệnh hoặc khớp giá.
- Tạo ra tính thanh khoản cao cho các chứng khoán, thể hiện
qua việc hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt và ngược lại từ tiền mặt đổi
thành chứng khoán.
- Góp phần điều tiết bình ổn thị trường thông qua hoạt động tự
doanh hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường.
b_ Vai trò của công ty chứng khoán:
Với các chức năng trên mà các công ty chứng khoán có các vai trò khá
quan trọng trên thị trường chứng khoán với các chủ thể trên thị trường chứng
khoán. Đối với các tổ chức phát hành mục tiêu của họ khi tham gia vào thị
trường chứng khoán là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng
khoán. Nhưng để phát hành họ phải thông qua các công ty chứng khoán để
được bảo lãnh phát hành. Lúc nay công ty chứng khoán đóng vai trò nhà bảo
lãnh và đại lý phát hành, như vậy công ty đã tạo ra cơ chế huy động vốn phục
vụ cho nhà phát hành.
Đối với các nhà đầu tư thì công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi
phí và thời gian giao dịch từ đó nâng cao hiệu quả cho các khoản đầu tư.
Công ty chứng khoán thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư,
quản lý danh mục đầu tư để thực hiện điều này. Một nhà đầu tư trên thị
trường muốn thực hiện một giao dịch không qua trung gian để hạn chế chi
6
phí, nhưng người đó sẽ phải tốn rất nhiều công sức cũng như chi phí để tìm
Đối với các cơ quan quản lý thị trường, công ty chứng khoán có nhiệm
vụ cung cấp thông tin trên thị trường cho các cơ quan quản lý. Các công ty
cung cấp được thông tin bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành vừa là
người trung gian môi giới mua bán và giao dịch trên thị trường. Công ty cung
cấp thông tin cho các cơ quan quản lý do nguyên tắc hoạt động của công ty
chứng khoán là phải công khai minh bạch, và nó cũng là một quy định của
pháp luật. Những thông tin mà công ty chứng khoán cung cấp được các cơ
quan quản lý sử dụng để kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng lũng
đoạn, bóp méo thị trường .
Tóm lại công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị
trường chứng khoán, có vai trò cần thiết đối với nhà đầu tư, tổ chức phát
hành, cơ quan quản lý thị trường, thị trường chứng khoán nói chung. Những
vai trò đó được thể hiện ở trong phần các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
ở phần sau.
7
c_Thành lập công ty chứng khoán:
- Một tổ chức, hay cá nhân có nhu cầu thành lập một công ty chứng
khoán, họ sẽ phải đứng trước rất nhiều lựa chọn và quy định cho công ty của
mình. Trước tiên, lựa chọn đầu tiên là về mô hình của công ty trên thề giới
hiện nay có hai xu hướng là mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô
hình công ty chứng khoán chuyên doanh. Cơ sở cho sự phân loại này đó là
phạm vi hoạt động của công ty chứng khoán trong lĩnh vực kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh tiền tệ, các dịch vụ tài chính.
* Mô hình công ty chứng khoán đa năng là công ty được tổ chức dưới
hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh tiền tệ, và các dịch vụ tài chình. Có thể hiểu là các ngân
hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán,
bảo hiểm, kinh doanh tiền tệ. Mô hình này được biểu hiện dưới hai hình thức
đa năng một phần và đa năng hoàn toàn . Đa năng một phần là một ngân hàng
muốn kinh doanh nhiều hoạt động phải lập công ty con tương ứng với số
8
nhiệm và các ngân hàng không được tham gia. Mô hình này tách biệt hẳn hoạt
động giữa ngân hàng và công ty chứng khoán, từ đó hạn chế bớt rủi ro cho đối
với ngân hàng và thị trường tài chính. Đồng thời nó giúp cho các công ty
chứng khoán được chuyên môn hoá sâu hơn trong lĩnh vực chứng khoán, từ
đó thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển. Mô hình này hiện nay đang
được ứng dụng khá rộng rãi ở nhiều nơi như Mỹ, Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc...
Ngày nay trong xu thế hình thành các tập đoàn tài chính khổng lồ mà một
thị trường đã cho phép hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên
phải được tổ chức dưới hình thức các công ty mẹ con. Việt Nam hiện nay các
công ty chứng khoán được thành lập chủ yếu theo hình thức kiểu Anh. Một
ngân hàng bỏ vốn ra để thành lập công ty chứng khoán hoạt động độc lập với
ngân hàng mẹ, phù hợp với quy định ngân hàng không dược kinh doanh
chứng khoán.
- Lựa chọn đối với các công ty chứng khoán tiếp theo đó là về loại hình
tổ chức công ty. Hiện nay có ba loại hình tổ chức công ty chứng khoán là
công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.Trước tiên,
chúng ta tìm hiểu về loại hình công ty hợp danh. Công ty hợp danh là doanh
nhiệp có ít nhất là hai thành viên hợp danh, ngoài ra còn có thể có các thành
viên góp vốn. Thành viên góp vốn phải là các cá nhân, có trình độ chuyên
môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu toàn bộ trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Đối với thành viên góp vốn chỉ
phải chịu trách nhiệm trong phần vốn góp của mình. Loại hình công ty hợp
danh không được phép phát hành chứng khoán. Công ty hợp danh được thành
lập chủ yếu đối với những lĩnh vực trọng và có tính chất đặc biệt như tư vấn
tài chính, khám chữa bệnh, chứng khoán...Nhưng để được thành lập công ty
rất khó khăn do đó loại hình này không được phổ biến ở Việt Nam, và chủ
yếu là sử dụng hai hình thức tổ chức công ty cổ phần, và công ty trách nhiệm
hữu hạn. Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công
ty là các cổ đông. Trong đó vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều
kinh doanh thì mức vốn pháp định là tổng số vốn pháp định của từng loại hình
riêng lẻ. Tại Nhật bản, đối với công ty chứng khoán tham gia 3 loại hình kinh
doanh môi giới, tự doanh, bảo lănh phát hành phải có mức vốn điều lệ là 10 tỷ
yên tương ứng với 1345.5 tỷ đồng. Còn bên Trung Quốc thì đối với công ty
chứng khoán đa năng thì vốn điều lệ là 500 triệu NDT, còn các công ty chứng
khoán chỉ chuyên môi giới thì vốn điều lệ là 50 triệu NDT.
Điều kiện về nhân lực đối với các các người quản lý và nhân viên công
ty chứng khoán phải đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn
và kinh nghiệm, cũng như mức độ tín nhiệm, tính trung thực. Hầu hết các
nước đều yêu cầu nhân viên của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành
nghề, ở nước ta những nhân viên môi giới, tư vấn, tạo lập thị trường cũng cần
phải có các chứng chỉ do Ủy ban chứng khoán cấp. Ngoài ra những người giữ
chức danh quản lý đòi hỏi phải có giấy phép đại diện.
Điều kiện về cơ sở vật chất, các tổ chức hay cá nhân sáng lập công ty
chứng khoán phải đảm bảo yêu cầu cơ sở tối thiểu cho công ty chứng
khoán .Do đặc thù của công ty chứng khoán là trung gian trong giao dịch mua
bán cổ phiếu cho nên nó đòi hỏi phải có đầy đủ cơ sở vật chất để thực hiện
các lệnh trong giao dịch. Hiện nay nước ta có trung tâm giao dịch thực hiện
khớp lệnh thông qua hệ thống máy tính công nghệ cao để khớp lệnh. Vấn đề
khớp lệnh đã được máy tính làm thay. Tuy nhiên để đưa được lệnh của nhà
đầu tư từ công ty chứng khoán về sàn giao dịch để khớp lệnh thì phải thực
hiện thông qua hệ thống mạng lưới điện thoại. Điều này làm hạn chế các rủi
ro trong quá trình giao dịch bằng mạng Internet, khắc phục khả năng tấn công
của tin tặc vào hệ thống mạng máy tính đánh cắp dữ liệu, phá hoại các giao
dịch. Sử dụng đường truyền điện thoại để khớp lệnh đòi hỏi phải hệ thống cơ
sở vật chất hiện đại để tăng khả năng khớp lệnh cho nhà đầu tư.
Hoàn thành xong các lựa chọn, điều kiện các nhà sáng lập phải xin cấp
phép của Uỷ ban chứng khoán nhà nước. Hồ sơ thông thường bao gồm các tài
liệu sau : đơn xin cấp phép, giấy phép thành lập doanh nghiệp, phương án
nhân sự, phưong án hoạt động, điều lệ công ty, các tài liệu minh chứng về
hàng trước rồi mới đến lượt mình. Công ty chứng khoán cũng là một nhà kinh
doanh do đó nó không được phép tiến hành các hoạt động gây ra sự hiểu lầm
về giá cả của khách hàng từ đó kiếm lời. Tuy nhiên, hoạt động tự doanh
không phải là hoạt động chính của công ty do đó hoạt động phá hoại thị
trường của các công ty sẽ rất ít hoặc không có. Bản thân các công ty chứng
khoán đều muốn mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho khách hàng của mình, có
như vậy công ty mới thu hút được sự chú ý của khách hàng. Hiện nay một số
nơi các công ty chứng khoán còn đóng góp thành một quỹ để đề phòng rủi ro
mất khả năng thanh toán của công ty cho khách hàng, góp phần bảo vệ lợi ích
cho nhà đẩu tư. Thông qua đó tạo ra một cảm giác an toàn cho khách hàng, từ
đó thu hút được nhiều nhà đẩu tư mở tài khoản giao dịch tại công ty.
* Nhóm nguyên tắc mang tính tài chính có tác dụng làm tách biệt các
quan hệ về tài sản giữa công ty với tài sản của khách hàng. Các công ty chứng
khoán để có thể thực hiện được điều trên trước hết cần phải bảo đảm được các
yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo kết quả kinh
doanh theo quy định của uỷ ban chứng khoán nhà nước. Đồng thời phải bảo
đảm các nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh với khách hàng. Trong đó
11
công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng gửi trong tài
khoản tại công ty. Ngoại trừ các trường hợp phục vụ kinh doanh của khách
hàng. Các công ty cũng không được phép dùng các chứng khoán cùa khách
hàng để đi thế chấp vay tiền phục vụ cho các hoạt động của công ty, điều đó
rất nguy hiểm cho công ty và khách hàng, và cả tổ chức mà công ty thế chấp
chứng khoán. Nhưng công ty có thể thực hiện các hoạt động trên nếu được sự
đồng ý của khách hàng bằng các văn bản.
e_Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán:
Các công ty chứng khoán tổ chức cơ cấu của công ty theo các loại hình
nghiệp vụ chứng khoán mà công ty thực hiện và theo quy mô hoạt động kinh
đoanh chứng khoán. Tuy nhiên các công ty chứng khoán đều có đặc điểm
chung về cơ cấu tổ chức là gồm có hai khối : nghiệp vụ và phụ trợ. Trong đó
đối với các kết quả giao dịch đó. Thông qua hoạt động môi giới, công ty
chứng khoán sẽ cung cấp cho khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu
12