Thực trạng và giải pháp để phát triển thị trương fhangf hóa trên thị trường chứng khoán Việt nam - Pdf 23

MỤC LỤC
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chứng khoán: CK
Công ty cổ phần: CtyCP
Cổ phần hóa: CPH
Cổ phiếu: CP
Doanh nghiệp Nhà nước: DNNN
Sở giao dịch chứng khoán: SGDCK
Ủy ban CK Nhà Nước: UBCKNN
Thị trường CK: TTCK
Thị trường sơ cấp: TTSC
Thị trường thứ cấp: TTTC
Trung tâm giao dịch CK: TTGDCK
Trái phiếu: TP
2
LỜI MỞ ĐẦU.
Thị trường CK (TTCK) là một bộ phận của thị trường tàì chính.Việc hình thành
TTCK là bước phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường. Ở nước ta, với nền kinh
tế thị trường vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà
nước thì việc ra đời TTCK cũng là bước phát triển tất yếu, phù hợp với các quy luật
phát triển kinh tế xã hội. TTCK là một trung gian tài chính quan trọng để đưa các
nhà đầu tư gặp gỡ nhau, giữa một bên là nhóm người có vốn tiền tệ nhàn rỗi và
nhóm người có nhu cầu sử dụng vốn, nhằm phục vụ cho nhu cầu đầu tư và phát
triển nền kinh tế. Hơn nữa, quá trình hội nhập kinh tế cũng đòi hỏi phải có TTCK
làm chiếc cầu nối giữa các nhà đầu tư, tạo ra sự liên kết bình đẳng trong hoạt động
kinh doanh giữa các đối tác trong và ngoài nước. Sự đáp ứng kịp thời giữa người có
vốn cho người có nhu cầu về vốn góp phần đẩy nhanh tiến trình lưu thông vốn trong
xã hội. Do đó, các hoạt động trong nền kinh tế được kích hoạt và điều này sẽ thúc
đẩy sự phát triển kinh tế.
TTCK Việt Nam đã thành lập và chính thức đi vào hoạt động vào tháng 7/2000.

thành những nguồn vốn quan trọng lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất tăng trưởng kinh tế hay cho các dự
án đầu tư.
TTCK trong nền kinh tế hiện đại là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các CK
(CK) trung hoặc dài hạn thường từ một năm trở lên. Nội dung của các mối quan hệ
về giao lưu vốn dài hạn trên TTCK được thể hiện tập trung bằng các hoạt động kinh
doanh CK trên TTCK. Vậy, TTCK là nơi mua bán giao dịch các loại CK đã được
phát hành và đang lưu hành trên thị trường. Như vậy, xét về mặt hình thức, thị
trường CK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các
loại CK, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ CK. TTCK có những chức năng cơ bản
sau: Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế; Cung cấp môi trường đầu tư cho công
chúng; Tạo tính thanh khoản cho các CK; Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp;
Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô.
Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK.
Hoạt động của TTCK tuân thủ theo ba nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc trung gian.
TTCK không phải trực tiếp giữa người mua và người bán mà do những người
trung gian thực hiện. Nguyên tắc này đảm bảo các loại CK giao dịch là CK thực và
TTCK hoạt động được lành mạnh, đều đặn, hợp pháp, phát triển và bảo vệ lợi ích
của người đầu tư.
Vì những người đầu tư không phải ai cũng có thể xác định được giá trị thực và
không dự đoán được một cách chính xác giá trị tương lai mà chỉ có những người
môi giới. Có hai loại môi giới: môi giới trung gian và thương gia CK. Điểm phân
biệt giữa hai loại môi giới này là ở mục đích của việc mua bán CK. Môi giới trung
gian là người trung gian mua, bán CK cho khách hàng để hưởng hoa hồng còn
thương gia CK lại là những người trung gian mua bán CK nhưng không phải cho
khách hàng mà là cho chính họ, bằng nguồn vốn của họ, để lợi từ chênh lêch giữa
mua và bán.
Nguyên tắc đấu giá.
Việc định giá CK trên thị trường hoàn toàn do các nhà môi giới quyết định. Mỗi

CK là một hàng hóa vốn, rất trừu tượng và giá trị của nó không liên quan gì
đến hình thức vật lý của nó, mà dựa vào trái quyền hợp pháp trên một lợi ích tương
lai nào đó, không có giá trị sử dụng như gạo, thịt, xăng dầu, sắt thép, nhà cửa, xe cộ,
bằng phát minh sang chế, sức lao động… Như vậy các hàng hóa thông thường là
hàng hóa vật chất để tiêu dùng, còn CK là hàng hóa vốn của hoạt động sản xuất. Do
là hàng hóa vốn không có giá trị sử dụng như vậy, có thể nói người mua CK đang
mua giá trị tương lai, hay nói nôm na hơn, là người ta bỏ tiền mặt ra mua một tờ
giấy chứng nhận cho những khoản tiền thu lại được trong tương lai với hy vọng lớn
hơn số tiền đã bỏ ra (nhưng hy vọng này không bao giờ chắc chắn cả). CK là những
tờ giấy, việc mua bán không phải là vì những tờ giấy, mà vì khả nắng mang lại thu
nhập do số tiền được chứng nhận trên tờ giấy đó.
Quá trình tiêu thụ CK là quá trình giữ nó trong tay như một phương tiện để sáng
tạo ra “giá trị mới là tiền lãi”, giống như cho vay. Hàng hóa “CK” chỉ bị đào thải
khi nó đến hạn thu hồi.
Không có hàng hóa thì không có chợ, không có CK sẽ không có TTCK. Như vây,
CK là nhân tố cơ bản hình thành TTCK. CK là một loại hàng hóa đặc biệt – hàng
hóa vốn – là công cụ huy động vốn từ những nơi thừa sang nơi thiếu, từ những
người cung ứng vốn đến những người cần vốn.
5
Nói một cách nôm na cho dễ hiểu, CK là chứng chỉ thể hiện quyền lợi sở hữu chủ
sở hữu CK đối với người phát hành.
2.2. Các loại CK:
CK bao gồm: CK vốn (CP), CK nợ (TP) và các chứng chỉ có nguồn gốc CK
(chứng quyền, chứng khế, chứng chỉ thụ hưởng, các CK phái sinh…)
2.2.1. CK vốn (CP-CP).
CP là một chứng thư, chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một
CtyCP, hay nói cách khác, CP là một giấy chứng nhận việc đầu tư vốn của một chủ
thể vào một CtyCP. Như vậy chúng ta có thể hiểu CPlà loại CK gắn liền với quyền
lợi sở hữu chủ một phần của một doanh nghiệp nào đó. Chính CtyCP đã khai sinh ra
CP và chỉ có CtyCP mới có CP. Các cổ đông – người mua CP của công ty –

tích xem xét kỹ lưỡng để chọn đúng hướng đầu tư, nhằm thu được lợi tức cao.
2.2.1.2. CP ưu đãi (Preferred stock).
6
CP ưu đãi là loại CK lai tạp những đặc điểm vừa giống CP thường, vừa giống TP.
CP ưu đãi hay còn gọi là CP đặc quyền – là loại CP được hưởng những quyền ưu
tiên hơn so với CP thường. Nếu như cổ tức của CP thường không cố định, thì ngược
lại cổ đông của CP ưu đãi được hưởng một mức cổ tức cố định hàng năm (nghĩa là
không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty). Nếu như CP
thường chỉ cho phép cổ đông quyền truy đòi cuối cùng đối với tài sản của công ty
phát hành, thì CP ưu đãi cho phép cổ đông được ưu tiên chia lãi cổ phần trước CP
thường, được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty (khi công ty bị phá sản
hoặc giải thể) trước so với CP thường. Như vậy, CP ưu đãi mang tính rủi ro ít hơn
CP thường, những nhà đầu tư mà có nắm giữ CP ưu đãi không muốn tham dự vào
rủi ro, chính vì lẽ đó, giá cả của CP ưu đãi trên thị trường không dao động lên
xuống nhiều như giá cả của CP thông thường. Tuy nhiên để tạo sự hấp dẫn cho loại
CP này, người ta đa dạng hóa CP ưu đãi bằng cách phân chia CP ưu đãi ra làm bốn
loại: CP ưu đãi dồn lãi và CP ưu đãi không dồn lãi; CP ưu đãi tham dự chia phần
(participating preferred stocks) và CP ưu đãi không tham dự chia phần; CP ưu đãi
có thể chuyển đổi thành CP thường (convertible preferred stocks); CP ưu đãi có thể
bồi hoàn (hay còn gọi là CP ưu đãi chuộc lại – redeemable preferred stocks).
Tóm lại, với những đặc trưng của mình, CP đã tạo cho các CtyCP những ưu thế
tuyệt diệu: có khả năng huy động tập trung được một khối lượng vốn khổng lồ cho
sự phát triển từ những số vốn lẻ tẻ trong dân chúng. Nhờ có CP, vốn đầu tư của các
cổ đông không bị bất động, họ có thể chuyển vốn đầu tư từ lĩnh vực này sang lĩnh
vực khác, từ công ty này sang công ty khác bằng cách mua bán CP trên TTCK thứ
cấp.
2.2.2. TP (CK nợ) (Bonds).
Khác với CP là một CK vốn, TP (TP) là một CK nợ dài hạn của chủ thể phát
hành, tức là người phát hành TP là người mắc nợ đối với người mua TP và phải
hoàn trả vốn góp của TP cho chủ sở hữu khi đáo hạn.

ứng ký thác tại cơ quan ủy thác để đảm bảo chắc chắn khả năng hoàn trả của TP; TP
tín chấp (debenture) còn gọi là TP không bảo đảm (unsecured bonds) là loại TP chỉ
dựa vào uy tín của công ty phát hành mà không đưa ra bất kỳ tài sản nào làm vật
bảo đảm; TP có khả năng chuyển đổi thành CP thường (convertible bonds) là loại
TP rất hấp dẫn và khi công ty làm ăn có lãi thì thì giá CP thường cao hơn trên thị
trường khi đó người chủ sở hữu được hưởng lợi; TP thu nhập (income bonds) là
loại TP mà lợi tức được trả tùy thuộc vào lợi nhuận của công ty và không cao hơn
lãi suất ghi trên TP; TP chiết khấu khống (zero-coupon bonds) còn gọi là TP lãi suất
chiết khấu là loại TP lãi suất được trả ngay khi phát hành , được khấu trừ vào tiền
mua TP; TP lãi suất thả nổi (floating rate bonds) là loại TP mà lãi suất được điều
chỉnh theo tưng thời kỳ phù hợp với lãi suất thị trường (lãi suất tín dụng); TP hỗ trợ
hàng hóa là loại TP khi phát hành và khi thanh toán có mệnh giá phụ thuộc chặt chẽ
vào giá thị trường của hàng hóa giao dịch trên thị trường quốc tế.
2.2.3. Các công cụ phái sinh hay còn gọi là các chứng chỉ có nguồn gốc CK
(Derivaties):
2.2.3.1. Chứng chỉ thụ hưởng do công ty tín thác đầu tư hay các quỹ tương hỗ
phát hành. Công ty tín thác đầu tư hay các quỹ tương hỗ là các tổ chức đầu tư
chuyên nghiệp thực hiện đầu tư theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Các tổ chức phát
hành chứng chỉ thụ hưởng để xác nhận quyền lợi của khách hàng là những nhà đầu
tư cá nhân trong các quỹ đầu tư nhất định. Chứng chỉ thụ hưởng này có thể được
mua bán, giao dịch trên TTCK như các giấy tờ có giá khác.
2.2.3.2. Chứng quyền (Pre-emptive Right): là giấy xác nhận quyền được mua
CP mới phát hành tại mức giá bán của công ty. Các chứng quyền thường được phát
hành cho các cổ đông cũ, sau đó chúng có thể được đem ra giao dịch.Giấy xác nhận
quyền được mua số CP mới phát hành do công ty cấp gọi là giấy bảo đảm quyền
mua CP. Giấy bảo đảm quyền mua CP cũng là một CK được gọi là chứng quyền.
Chứng quyền là một CK, cung cấp cho sở hữu chủ quyền tiên mãi hoặc quyền đặt
mua (quyền dự tính) một lượng nhất định CP mới phát hành, với giá cả nhất định,
8
trong một thời hạn nhất định (thường là kỳ hạn ngắn). Giá trị của chứng quyền được

nước) phát hành TP chính phủ. Các lọai TP trung và dài hạn trở thành nguồn cung
cấp CK trên TTCK. Ngoài ra, nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung
Ương (NHTƯ) (theo sự ủy nhiệm của Bộ tài chính) thường phát hành loại TP ngắn
hạn (còn gọi là tín phiếu kho bạc hay hối phiếu kho bạc) để thực hiện nghiệp vụ thị
trường mở (open market). Khi NHTƯ thấy cần rút bớt khối lượng tiền tệ trong lưu
thông về thì NHTƯ bán tín phiếu ra. Ngược lại, khi cần thiết phải đưa thêm tiền vào
lưu thông thì NHTƯ mua tín phiếu về. Số tín phiếu này thường được giao dịch trên
thị trường tiền tệ.
Sự tham gia của Nhà nước đảm bảo cho thị trường được hoạt động theo đúng
các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư, đảm bảo cho thị
9
trường được hoạt động công bằng, công khai, trật tư, tránh những tiêu cực có thể
xảy ra.
3.1.2. Các doanh nghiệp.
Sau nhà nước, loại chủ thể thứ hai cũng có nhu cầu rất lớn và thường xuyên về
vốn tiền tệ, đó là các doanh nghiệp, bất luận doanh nghiệp đó thuộc loại hình tổ
chức theo mô hình quản lý nào: doanh nghiệp tư nhân, công ty liên doanh hay
CtyCP. Nhưng chỉ có CtyCP mới có liên quan nhiều tới hoạt động phát hành CK
trên thị trường.
Xét về lịch sử, CtyCP mới xuất hiện trong vòng 2 thế kỷ nay, nhưng về lịch sử
nó có tốc độ phát triển thần kỳ. CtyCP (corporation) biến những hoạt động kinh
doanh chỉ có tính chất cá nhân và riêng lẻ trở thành những tổ chức mà trong đó tài
năng, tiền bạc, nhân lực và vốn liếng các loại được quy tụ lại, kết hợp với nhau
hướng về mục đích chung như lợi nhuận phát triển, sản phẩm và phát triển cuộc
sống. CtyCP sản sinh ra CP và gắn chặt với TTCK như hình với bóng. CtyCP là
công ty mà số vốn là sở hữu chung của nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ
phần, do đó vốn tự có của CtyCP. Người mua CP gọi là cổ đông cũng đồng thời là
chủ sở hữu một phần doanh nghiệp tương đương với tỷ lệ vốn góp. Cổ đông chỉ
chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty trong giới hạn số vốn của mình nên công
ty còn được gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn. CtyCP tồn tại độc lập với sỡ hữu

giới như vậy để trao đổi tiền và hàng.
Có thể phân chủ thể cho vay thành hai loại:
3.2.1. Nhà đầu tư cá nhân: Là chủ thể quan trọng tham gia TTCK với tư cách là
người mua bán CK. Bộ phận này chính là công chúng, một loại chủ thể có khả
năng cung ứng một khối lượng tiền tệ rất lớn. Nguồn tiết kiệm từ thu nhập của bộ
phận này là nguồn cung cấp rất quan trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng cùng
với sự tăng trưởng GDP ở mỗi quốc gia. Công chúng khi có tiền nhàn rỗi tạm thời
họ tham gia mua CK với mục đích đầu tư kiếm lời. Khi có nhu cầu vốn họ đem bán
các CK trên thị trường thứ cấp.
3.2.2. Các tổ chức đầu tư: các quỹ hưu bổng, quỹ tương hỗ, các công ty bảo
hiểm, các ngân hàng thương mại các công ty đầu tư quốc gia, các quỹ tài chính
công, các quỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ. Các tổ chức này tham gia TTCK
với tư cách vừa là người mua, vừa là người bán để kiếm lợi nhuận thông qua hình
thức nhận cổ tức, lãi TP hoặc tìm kiếm giá trị thặng dư, hoặc tìm kiếm thanh khoản.
Vai trò của các tổ chức này ở các nước có TTCK phát triển ngày càng to lớn. Các
Ngân hàng thương mại tham gia TTCK với tư cách là người phát hành CP để tạo
nguồn vốn khi mới thành lập hoặc tăng vốn bổ sung, cũng như phát hành TP để huy
động vốn. Ngân hàng thương mại còn thực hiện các dich vụ trên TTCK như: tư vấn
về phát hành, làm đại lý phát hành để hưởng phí hoa hồng, hoặc bảo lãnh phát hành
toàn bộ để hưởng phí bảo lãnh.
Ngoài ra, NHTM còn thực hiện các dịch vụ khác với tư cách là nhà trung gian
môi giới CK như mua bán CK hộ cho khách hàng để hưởng phí hoa hồng, lưu giữ
CK, nhận và trả cổ tức cho khách hàng, làm dịch vụ thanh toán CK.
3.3.Chủ thể trung gian CK.
Trung gian là đưa đường dẫn lối để hai bên gặp nhau. Những trung gian CK này
làm nhiệm vụ đưa đường dẫn lối để người bán và người mua gặp nhau theo đúng
yêu cầu của cả hai bên bởi vì không phải ai cũng có đầy đủ thông tin để có thể tìm
thấy người mua và người bán hợp nhau. Để làm được công việc này thì những
người trung gian phải có kiến thức rộng, am hiểu tình hình kinh tế chung và rất rành
hoạt động của các công ty. Do vây, các trung gian CK không phải là người môi giới

Là người cung cấp địa điểm và phương tiện để phục vụ cho việc mua bán CK,
đó là SGDCK. Ngoài ra, người tạo lập thị trường còn thực hiện chức năng quản lý,
điều hành các hoạt động diễn ra tại đây bảo đảm cho TTCK hoạt động theo đúng
các qui định của pháp luật để đảm bảo sự minh bạch, công bằng tránh những yếu tố
tiêu cực có thể xảy ra trong giao dịch CK, bảo vệ được lợi ích cho những người đầu
tư – người đó chính là người điều hòa.
Vai trò người điều hòa thuộc về nhà nước. Để thực hiện vai trò này, phải hình
thành một cơ quan quản lý giám sát và điều chỉnh thị trường – cơ quan đó chính là
Hội đồng CK quốc gia (có nước gọi là Ủy ban CK quốc gia). Hội đồng CK quốc gia
(UBCK quốc gia) có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Nghiên cứu, vạch kế hoạch, dự thảo các văn bản pháp luật và các thể lệ chế độ
về tổ chức và hoạt động TTCK để trình cấp có thẩm quyền quyết định ban hành
- Quản lý và giám sát hoạt động của TTCK, đưa ra các giải pháp điều chỉnh hữu
hiệu để đảm bảo thị trường hoạt động tốt; cấp, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép
trong lĩnh vực và phát hành và kinh doanh CK (giấy phép kinh doanh CK của các
công ty CK, giấy phép đăng ký CK tại SGDCK cho các công ty phát hành CK…)
4. Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK.
Có nhiều tiêu thức để phân loại cấu trúc TTCK
4.1. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn phân thành: thị trường sơ cấp
và thị trường thứ cấp.
4.1.1. Thị trường sơ cấp (Primary market).
12
Thị trường sơ cấp (TTSC) là nơi các CK được phát hành và phân phối lần đầu
tiên cho các nhà đầu tư. Nguồn vốn chủ yếu của thị trường này là nguồn tiết kiệm
của công chúng cũng như một số tổ chức phi tài chính. Như vậy, thị trường sơ cấp
thực hiện chức năng quan trọng nhất của TTCK, đó là chức năng kinh tế. Mang
nguồn tiền nhàn rỗi đến cho người cần sử dụng, đưa nguồn tiết kiệm vào công cuộc
đầu tư. TTSC là nơi phát hành lần đầu CK ra công chúng (vì thế các CK này còn
được gọi là CK mới), tạo vốn cho đơn vị phát hành và chỉ tạo ra phương tiện huy
động vốn. Vai trò của TTSC là tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng

TTTC thực hiện vai trò điều hòa lưu thông các nguồn vốn đảm bảo chuyển hóa
càng nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn, để đưa vào đầu tư phát triển kinh tế. Nhờ
có TTTC, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể yên tâm đầu tư vào CK vì
khi cần tiền họ có thể bán lại CK của mình cho các nhà đầu tư khác trên TTCK.
TTTC thực hiện các chức năng:
13
-Tạo dễ dàng để bán các công cụ tài chính nhằm thu tiền mặt, lấy ngân quỹ, tức
là tạo ra cho các công cụ tài chính tăng cao tính thanh khoản.
-Kiếm lời từ việc nắm giữ CK.
-Xác định giá CK hợp lí trên cơ sở đấu giá tự do (cạnh tranh hoàn hảo). Những
người đầu tư CK định đoạt về giá với nhau để mua bán cái “quyền làm chủ” (CP)
một phần một CtyCP. TTTC giúp họ dễ dàng thực hiện các vòng quay vốn (quy
nhanh ra tiền lúc cần quyết định hay khi đổi ý) mà không cần dính sâu vào doanh
nghiệp.
-Giá hợp lý trên TTTC ảnh hưởng đến giá phát hành CK trên TTSC, xác định
giá của mỗi CK mà công ty phát hành bán ở TTSC.
TTTC có thể được tổ chức theo hai cách:
-Tổ chức ra các sở giao dịch, tức là những trung tâm giao dịch có tổ chức hay thị
trường giao dịch trên sàn. Hoạt động của SGDCK có thể rất nhộn nhịp, nhưng số
người tham gia vào quá trình đó được xem là cố định. Người đầu tư CK dù được
gọi là đã tham gia vào TTCK cũng không có mặt và không có quan hệ nào với Sở
giao dịch. Và dù Sở giao dịch là nơi rất tập trung, nó cũng chỉ giữ nhiệm vụ là một
khâu trong TTCK.
-Có một thị trường trao tay hay còn gọi là thì trường thương lượng, hay thị
trường giao dịch không qua quầy (over the counter market) theo kiểu mua bán thẳng
cho bất kỳ ai chấp nhận giá mà người bán đặt ra, nó có tính cạnh tranh cao. Các thị
trường OTC, SGDCK là các dạng của TTTC.
TTTC là nơi các nhà đầu tư mua bán các CK đã được phát hành với hy vọng
kiếm lời từ việc nắm giữ CK. TTTC là thị trường cạnh tranh tự do, các nhà đầu tư
và các công ty môi giới, kinh doanh CK được tự do tham gia vào thị trường. Giao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status