“SỬ DỤNG DỤNG CỤ TRỰC QUAN TRONG DẠY VẼ TRANH LỚP 6
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY”
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Để hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho học sinh về các mặt: ĐỨC,
TRÍ, THỂ, MĨ thì việc giáo dục thẩm mĩ cho các em là vô cùng cần thiết. Thông qua
môn mĩ thuật, sẽ trang bị cho các em một số kiến thức, kĩ năng cơ bản về hội họa,
tiếp thu những tinh hoa của nền mĩ thuật dân tộc. Từ đó, các em biết làm ra cái đẹp
và vận dụng vào cuộc sống. Vì vậy nó có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình
thành nhân cách, lối sống của mỗi con người.
Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực năng khiếu, mà các em học sinh không phải
em nào cũng có năng khiếu về mĩ thuật. Như chúng ta đã biết, dạy Mĩ thuật trong
nhà trường phổ thông không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà nhằm giáo
dục thẩm mĩ cho các em là chủ yếu. Từ đó tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm
quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp và biết vận dụng cái đẹp vào sinh
hoạt hằng ngày và những công việc cụ thể mai sau. Môn Mĩ thuật góp phần nâng cao
năng lực quan sát, khả năng tư duy hình tượng và tính sáng tạo của các em với một
phương pháp làm việc khoa học nhằm hình thành ở các em phẩm chất của con người
lao động mới, đáp ứng đòi hỏi của một xã hội phát triển ngày càng cao.
Môn Mỹ thuật gồm các phân môn: vẽ tranh, vẽ theo mẫu, vẽ trang trí và thường
thức mỹ thuật. Mỗi phân môn đều mang lại cho các em những nét hay riêng ,trong
đó phân môn vẽ tranh là một trong những phân môn tương đối khó nhưng lại có vị
trí quan trọng của bộ môn. Phân môn vẽ tranh luôn tạo cho các em sự hứng thú bởi
đây là một trong những phân môn tổng hợp của các phân môn khác như trang trí, vẽ
theo mẫu. Trên cơ sở cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ bản về vẽ tranh
nhằm phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh.
Từ những kiến thức, kỹ năng cơ bản đó người học Mĩ thuật nói chung và học sinh
THCS nói riêng có khả năng cảm thụ được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống xung
1
quanh và các tác phẩm nghệ thuật thông qua ngôn ngữ của hội họa là bố cục, đường
nét, hình khối, đậm nhạt, ánh sáng và màu sắc. Đó chính là những yếu tố cơ bản tạo
hiệu quả giảng dạy" cũng đã có nhiều đề tài đề cập tới song vẫn chưa cụ thể và hiệu
quả chưa cao.
- Với việc sử dụng hiệu quả dụng cụ trực quan trong dạy vẽ tranh sẽ làm cho hoạt
động dạy học sinh động và đa dạng hơn. Nhằm tiết kiệm được thời gian trình bày,
phân tích, đặc biệt là gây được hứng thú, thích tìm tòi, sáng tạo của học sinh đối với
môn học. Qua đó, giúp học sinh dễ tiếp thu, mở rộng thêm kiến thức, hoàn thiện kiến
thức và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo về nghệ thuật hội họa đặc biệt là trong phân
môn vẽ tranh để làm nền tảng học tập về sau.
1.3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu về cách thức sử dụng dụng cụ trực quan (đồ dùng dạy học) trong dạy
vẽ tranh.
- Học sinh lớp 6 trường THCS A
* Phạm vi nghiên cứu: - Vì điều kiện không cho phép nên tôi chỉ tập trung nghiên
cứu và thử nghiệm đề tài này tại trường THCS A nơi tôi đang công tác và tham khảo
các trường trong cụm chuyên môn.
- Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh THCS có những đặc điểm đáng
lưu ý, đó là: các em chưa nắm được phương pháp, kỹ năng học tập, khả năng sáng
tạo cũng như lĩnh hội tri thức của học sinh còn hạn chế nhất là học sinh lớp 6.
* Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm giúp học sinh lớp 6 - học sinh đầu cấp làm quen với cách thức học của cấp
THCS và giúp các em có hứng thú với phân môn Vẽ tranh, giúp các em nắm được
kiến thức cơ bản của cách vẽ tranh, khích lệ các em học tập, phát huy tính sáng tạo,
năng khiếu của bản thân để bài vẽ có chất lượng cao.
- Giúp các em có kĩ năng quan sát, ghi nhớ, tái hiện lại sự vật, hiện tượng từ đó phân
tích và nắm được sự vận động của các sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh.
3
Đề tài nghiên cứu “Sö dông dụng cụ trực quan trong d¹y vÏ tranh lớp 6 nhằm
nâng cao hiệu quả giảng dạy” trên cơ sở đề xuất một số ý kiến nhằm giúp học sinh
học tốt môn Mỹ thuật. Và phải có phương pháp, kỹ năng cụ thể để tạo cho học sinh
thích
Thích Bình
thường
Không
thích
60 6 16 25 13
Tổng Tham gia
tích cực
Theo dỏi
bạn vẽ
Ngồi chơi
60 15 25 20
- Kết quả khảo sát bộ môn Mỹ thuật của khối 6 tại trường THCS A
trước khi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm như sau:
Lớp
Tæng
sè HS
Giái Kh¸ Trung B×nh YÕu
SL TL SL TL SL TL SL TL
6A 30 02
6.7
06
20.0
15
50.0
07
23.3
6B 30 02
- Hệ thống câu hỏi chưa gây được hứng thú; hình hoặc tranh, ảnh chưa sinh động.
- Chưa lôi cuốn được các đối tượng học sinh tham gia quan sát.
* Về học sinh trường THCS A
- Việc chuẩn bị đồ dùng học tập của các em chưa được tốt: giấy vẽ chưa đúng tiêu
chuẩn, dụng cụ học tập cũng thiếu thốn.
- Học sinh ít quan sát cảnh vật, các hiện tượng xung quanh.
- Các em còn ngại sử dụng màu vẽ.
- Các em chưa chủ động trong học tập, chưa phát huy được tính sáng tạo trong thực
hành bài vẽ tranh, kĩ năng quan sát và xây dựng hình ảnh, bố cục cũng như vẽ màu
còn yếu. (vẽ tự do, chưa theo đúng trình tự các bước tiến hành một bài vẽ tranh).
- Có sự phân hóa đối tượng học sinh: Giỏi, khá, trung bình, yếu, kém khá rõ (tất cả
các môn).
- Chưa tích cực quan sát để ghi nhớ, các em không có năng khiếu thường e ngại hoặc
quan sát cho có.
- Khả năng tưởng tượng của các em có phần hạn chế, thậm chí nhiều em chưa hình
dung ra được nội dung của một bức tranh đề tài.
- Chưa có phòng học chức năng để đáp ứng cho đặc thù bộ môn.
- Phụ huynh học sinh còn xem đây là môn học phụ nên chưa thực sự quan tâm đến
việc học của các em.
2.2. Cơ sở nghiên cứu:
Nghề dạy học là một trong những nghề khó, bởi đối tượng và sản phẩm của nó là
con người. Con người vốn có diễn biến tâm lí phức tạp, sự nhận thức ở mỗi con
người không giống nhau. Nếu dạy học khó thì dạy nghệ thuật càng khó hơn. Song
khó không có nghĩa là không dạy được vì học mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi
người, làm cho mọi người thấy cuộc sống tươi đẹp.
6
Qua các bài vẽ tranh, người vẽ nhận thấy được vẻ đẹp của cuộc sống xung quanh
mình thông qua hình ảnh, đường nét, bố cục, màu sắc. Từ đó tái tạo ra cái đẹp theo ý
mình để tự do thưởng ngoạn nó ngay trong sinh hoạt hàng ngày.
Đối tượng của phân môn vẽ tranh là những gì có thể nhìn thấy hoặc thông qua
chuẩn bị trước hình minh hoạ các bước vẽ một cách cụ thể hoặc vẽ minh hoạ trên
bảng để học sinh quan sát.
Ví dụ như đối với đề tài học tập nên chọn loại tranh, ảnh mẫu sát với thực tế tình
hình học tập của học sinh để các em nhận biết được nội dung, hình ảnh, bố cục, màu
sắc. Cụ thể:
+ Nội dung: Học nhóm, Giáo viên cùng hướng dẫn học sinh học tập, Học sinh ôn
bài, ….
+ Hình ảnh: có hình ảnh chính là học sinh, giáo viên; các hình ảnh phụ bổ trợ
thêm như trường học, cây cối, sách vở,…
+ Bố cục: Sử dụng nhiều hình dạng bố cục để học sinh quan sát như: hình tháp,
hình tròn, hình vuông,…
+ Màu sắc: tươi sáng, vui tươi, …. phù hợp với nội dung đề tài
Khi đưa tranh, ảnh mẫu để học sinh quan sát thì phải sát nội dung đề tài, dễ nhận
biết vì học sinh lớp đầu cấp tư duy của các em còn hạn chế các em cần phải quan sát
và và nhìn thấy thực tế thì các em mới cảm nhận được và hiểu được nội dung đề tài
cần vẽ.
- Về trực quan, cần chuẩn bị đẹp, cần khái quát được nội dung cần minh họa.
- Ngoài việc chuẩn bị đồ dùng ra, giáo viên cũng có thể cho học sinh ra ngoài
thực tế, quan sát thiên nhiên, cảnh vật, cuộc sống xung quanh mình để các em ghi
nhớ, tăng thêm tính sáng tạo và sự hiểu biết về thực tế
- Về phía học sinh cũng phải cần chuẩn bị và sưu tầm một số tranh, ảnh mẫu
trước khi lên lớp vì khi học sinh đã chuẩn bị đồ dùng thì các em đã nắm bắt được
8
nội dung của đề tài một cách khái quát trong khi tìm kiếm.
2. 3.2 Nhóm giải pháp trong việc sử dụng trực quan
Trong quá trình học sinh quan sát đối tượng (tranh, ảnh mẫu) trước khi vẽ, giáo
viên cần phải treo tranh, ảnh mẫu ở góc độ cả lớp quan sát tốt, rồi cho học sinh tìm
hiểu về tranh, ảnh mẫu, sau đó giáo viên kết luận lại những nội dung chính. Mục
đích làm cho học sinh có thể tự biết nhận ra nội dung, hình ảnh, bố cục, …. dưới sự
hướng dẫn của giáo viên. Đây là một bước rất quan trọng trong phân môn vì yêu cầu
nói rõ bố cục hợp lý hay chưa. Từ đó học sinh khắc sâu và tìm ra cách sắp xếp bố
cục trong trang giấy hợp lý. Khi hướng dẫn học sinh vẽ tranh giáo viên nên dùng
phương pháp hỏi đáp khi đó mới có hiệu quả cao vì học sinh đầu cấp tư duy và tính
tưởng tượng cũng như nét vẽ rất vụng về, các em thường sợ xấu, vẽ không đẹp nên
thường dùng thước kẻ, lúc này giáo viên cần gợi ý học sinh vẽ bằng tay mới đẹp, vẽ
bằng tay khi đó nét vẽ mới tự nhiên và sẽ làm cho bài vẽ thêm sinh động và hấp dẫn
hơn.
- Trong quá trình học sinh làm bài giáo viên cần đến từng đối tượng học sinh vừa
gợi ý, vừa chỉ ra các vấn đề còn hạn chế, những vấn đề học sinh thường mắc phải để
học sinh so sánh giữa bài của mình với bài của các bạn, giáo viên nên chỉ ra ở bài vẽ
của học sinh và để học sinh tự nhận ra và tự sửa chữa theo gợi ý của giáo viên, có
nghĩa là khi học sinh làm bài lúc đó giáo viên cần bám sát học sinh. Khi đánh giá bài
vẽ học sinh cần phải treo các bài vẽ lên bảng để học sinh tự nhận xét, so sánh giữa
bài vẽ của mình và của các bạn, từ đó học sinh nhận ra được những bức tranh đẹp
hay chưa đẹp trên từng bài vẽ và nhận ra được vẻ đẹp của bài vẽ cũng như vẻ đẹp
thực tế mà mình đã thu nhỏ lại vào trong tranh vẽ của mình.
Ví dụ cụ thể: Tiết 23 - Bài 22: Vẽ tranh - Đề tài ngày tết và mùa xuân
10
a. Chuẩn bị đồ dùng dạy học
* Học sinh:
- Chuẩn bị một số tranh, ảnh mẫu, quan sát thực tế
* Giáo viên:
- Chuẩn bị một số tranh, ảnh mẫu về đề tài ngày tết và mùa xuân
- Hình minh hoạ:
+ Hình minh hoạ cho Tìm và chọn nội dung đề tài:
Hình 1a: Đi chợ Tết
Hình 1b: Đón giao thừa
Hỡnh 1c: Gói bánh chưng
Hình 1d: Hội làng
+ Hình minh hoạ cho cách sắp xếp hình vẽ so với khổ giấy
viên yêu cầu học sinh quan sát, chỉ ra nội dung, hình ảnh, … các yếu tố tạo nên một
bức tranh đẹp. Từ đó, học sinh thấy được các lỗi hay mắc phải khi vẽ để tránh lặp lại
và học tập điểm tốt ở các bài vẽ trên. Giáo viên nhấn mạnh cách vẽ và phải thường
xuyên tìm hiểu và quan sát thực tế.
Giáo viên bao quát, hướng dẫn học sinh vẽ theo đúng trình tự các bước. (giáo viên
yêu cầu học sinh gấp SGK, thu các hình minh hoạ trên bảng.)
Hoạt động 4: Đánh giá kết quả học tập
Nhận xét, đánh giá là khâu cần thiết để biết được kết quả học tập của học sinh,
12
nhận biết được những nguyên nhân thiếu sót và tìm cách bổ khuyết, thúc đẩy tinh
thần học tập của học sinh.
Đánh giá cần phải xuất phát từ mục tiêu, nội dung và phương pháp học tập.
Cần tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và của bạn.
Giáo viên chọn bài: chọn bài vẽ đẹp (nội dung sát với đề tài, hình ảnh sinh động,
bố cục cân đối, màu sắc đẹp, hài hòa) và bài vẽ chưa đẹp.
Giáo viên treo bài để học sinh cả lớp dễ quan sát, hướng dẫn học sinh tự đánh giá,
xếp loại bài vẽ. Giáo viên nhận xét cụ thể bài vẽ trên tinh thần góp ý và động viên
học sinh. Học sinh rút kinh nghiệm và khắc sâu kiến thức về cách vẽ tranh.
3. KẾT LUẬN
3.1. Ý nghĩa:
Tranh của các em học sinh phản ánh sự vật khách quan một cách hồn nhiên, ngộ
nghĩnh và đầy chất thơ. Bằng sự mô phỏng tự nhiên, không chút câu nệ theo thực tế,
các em thể hiện bài vẽ một cách phóng khoáng, táo bạo, tung hoành. Nhiều nghệ sĩ
đã mê tranh của các em vì ở đó có mọi giá trị chân thực của ngọn nguồn sáng tạo
nghệ thuật hội hoạ. Nghệ thuật hội hoạ ở lứa tuổi thơ cần phải bảo vệ hơn hết sự hồn
nhiên, cái bản năng đặc biệt của mỗi em. Đó là biểu hiện những tâm hồn sáng tạo
không ngừng.
Một cái nhìn không đúng thực tế lại hết sức tế nhị, có duyên làm sao. Một mảng
màu bôi không đều lại mềm mại, dễ yêu và vô cùng gợi cảm cho người thưởng thức.
Trong đó có yếu tố ngẫu nhiên mà lại ăn ý, đúng chỗ, rất thực và đáng yêu, táo bạo
Lp
Tổng
số HS
Giỏi Khá Trung Bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
6A 30 05
16.7
15
50.0
08
26.7
02
6.6
6B 30 04
13.3
16
53.3
08
26.7
02
6.6
Tơng ứng với:
Lp
Tổng số Loại Đạt Loại Cha đạt
SL TL SL TL
6A 30 28
93.3
02
6.7
6B
quan sát thực tế.
- Cho học sinh thảo luận và rút ra kết luận khi quan sát trực quan.
15
- Học sinh cũng phải cần chuẩn bị và sưu tầm một số tranh, ảnh mẫu trước
khi lên lớp vì khi học sinh đã chuẩn bị đồ dùng thì các em đã nắm bắt được nội
dung một cách khái quát trong khi tìm kiếm.
3. 3.2 Về khâu sử dụng trực quan
* Hoạt động 1: Tìm chọn nội dung đề tài.
- Giới thiệu về đồ dùng dạy học
- Giáo viên giới thiệu tranh mẫu cùng với các câu hỏi gợi ý để học sinh quan
sát, suy nghĩ nhận ra khái niệm, so sánh, phân tích tìm ra đặc điểm về đề tài sẽ
vẽ, thấy được những mảng chính, mảng phụ, những hình tượng tiêu biểu về
hình dáng , màu sắc.
- Sử dụng đồ dùng phù hợp với từng nội dung bài học
* Hoạt động 2: Cách vẽ tranh.
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khai thác đề tài bằng lời nói sinh động, hấp
dẫn, lôi cuốn các em “nhập cuộc”. Cách khơi gợi khi hướng dẫn cách vẽ tranh một
đề tài nào là “dựng lên” trước mắt học sinh một “khung cảnh bằng lời” rõ ràng có
hình ảnh, màu sắc; có sự hoạt động nhằm giúp các em nhớ lại những gì đã quan sát
được và hình dung ra tranh mình định vẽ về bố cục, hình tượng, màu sắc thế nào?
Lời nói của giáo viên cũng mang lại hiệu quả như đồ dùng dạy học.
- Vẽ màu tự do theo ý thích, không nhất thiết phải theo màu sắc thực, miễn
sao tranh vẽ có màu đậm, màu nhạt, tươi sáng phù hợp với đề tài và rõ trọng tâm.
Hai hoạt động trên tiến hành khoảng 8 – 10 phút. Nên dành nhiều thời gian cho thực
hành là chính.
* Hoạt động 3: Thực hành.
Cũng như vẽ theo mẫu, vẽ trang trí. Thời gian vẽ tranh giáo viên cần đến từng
bàn theo dõi, gợi ý, có thể cung cấp những thông tin cần thiết hoặc bổ sung những
kiến thức học sinh còn lúng túng. Nhưng chủ yếu là học sinh làm tự làm bài, giúp
16
học.
Có kế hoạch tham mưu với Phòng Giáo dục để bổ sung thêm thiết bị dạy học,
một số loại sách để tham khảo.
Duy trì đều lịch sinh hoạt chuyên môn liên cụm để trao đổi về phương pháp
phương pháp giảng dạy bộ môn
3.4.2. Đối với Phòng giáo dục và Sở giáo dục:
Các cấp quản lí giáo dục đầu tư thêm phương tiện dạy học hiện đại, cơ sở vật
chất, phòng học bộ môn, dụng cụ trực quan cho các khối lớp.
Cung cấp thêm các loại sách, tài liệu có liên quan đến môn mĩ thuật để giáo viên
tự bồi dưỡng thêm về chuyên môn nghiệp vụ.
Cần tổ chức các chuyên đề về phương pháp giảng dạy bộ môn, phương pháp
kiểm tra đánh giá tạo ra tính đồng bộ trong quá trình giáo dục của bộ môn giữa các
đơn vị .
Để nâng cao trình độ thực chất của giáo viên, ngành giáo dục nên có biện pháp
bồi dưỡng cho giáo viên có nhu cầu nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, không nên tự
hài lòng với trình độ Đại học của giáo viên THCS, tổ chức các hội thảo để giáo viên
có thể trao đổi kinh nghiệm, học tập nhau trong quá trình công tác.
4. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Mĩ thuật lớp 6 - NXB giáo dục.
2. Sách giáo viên lớp 6 - NXB giáo dục.
3. Tâm lí lứa tuổi - giáo trình đào tạo giáo viên THCS - NXB giáo dục.
18
4. Phương pháp giảng dạy mĩ thuật- giáo trình đào tạo giáo viên THCS - NXB
giáo dục.
5. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004-
2007) môn Mĩ thuật - NXB Giáo dục.
6. Các bài vẽ tranh của HS
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG
19