Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ NGÂN NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC MỨC NĂNG LƢỢNG
TRAO ĐỔI, PROTEIN VÀ LYSINE KHÁC NHAU ĐẾN SỨC
SẢN XUẤT CỦA VỊT CV SUPER M. NUÔI THỊT TRONG
ĐIỀU KIỆN CHĂN NUÔI TẬP TRUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : Chăn nuôi
Mã số : 60.62.40
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các vị hội đồng chấm luận
văn lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc tốt đẹp nhất.
.
Thái Nguyên, ngày 4 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chƣa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
- Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn.
- Mọi thông tin trích dẫn từ các tài liệu tham khảo đƣợc trình bày trong luận
văn này đã ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Thị Ngân
1.2.1. Đánh giá giá trị năng lƣợng của thức ăn 4
1.2.2. Đánh giá giá trị dinh dƣỡng protein thức ăn 5
1.3. Năng lƣợng trong thức ăn và nhu cầu năng lƣợng của gia cầm 6
1.3.1. Vai trò của năng lƣợng đối với cơ thể gia cầm 6
1.3.2. Sự chuyển hóa năng lƣợng trong cơ thể gia cầm 7
1.3.3. Ảnh hƣởng của các mức năng lƣợng trong khẩu phần đến sinh
trƣởng và khả năng tiêu thụ thức ăn của gia cầm 8
1.3.4. Nhu cầu năng lƣợng và cách xác định nhu cầu năng lƣợng cho gia cầm 10
1.4. Protein trong thức ăn và nhu cầu protein của gia cầm 13
1.4.1. Vai trò của protein đối với cơ thể gia cầm 13
1.4.2. Protein và sự trao đổi protein trong cơ thể gia cầm 14
1.4.3. Giá trị sinh học của protein 15
1.4.4. Nhu cầu protein đối với cơ thể và cách xác định 16
1.4.4.1. Nhu cầu protein cho duy trì 16
1.4.4.2. Nhu cầu protein cho sinh trƣởng 17
1.4.4.3. Nhu cầu protein cho mọc lông 18
1.5. Nhu cầu axit amin và cách xác định nhu cầu axit amin cho gia cầm 18
1.6. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài 24
1.6.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc 24
1.6.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 31
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Chương 2 33
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 33
2.2. Nội dung nghiên cứu 37
2.3. Địa điểm nghiên cứu 37
II. Tài liệu tiếng nƣớc ngoài 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
CHÚ DẪN CÁC TỪ VIẾT TẮT
A A : Axit amin
C : Cao
CP: Crude Protein - Protein thô
g: gam
kg: kilôgam
ME: Metabolizable Energy - Năng lƣợng trao đổi
Tb: Trung bình
Th: Thấp
TT: Tuần tuổi
TTTA: Tiêu tốn thức ăn
quả sử dụng thức ăn của vịt thí nghiệm 59
3.4c. Ảnh hƣởng của sự tƣơng tác các mức năng lƣợng, protein và axit amin
trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn của vịt thí nghiệm 60
3.5a. Ảnh hƣởng của các mức năng lƣợng, protein trong khẩu phần đến một
số chỉ tiêu chất lƣợng thịt xẻ của vịt thí nghiệm 64
3.5b. Ảnh hƣởng của các mức lysine và axit amin trong khẩu phần đến một
số chỉ tiêu chất lƣợng thịt xẻ của vịt thí nghiệm 64
3.5c. Ảnh hƣởng của sự tƣơng tác các mức năng lƣợng, protein và axit amin
trong khẩu phần đến một số chỉ tiêu chất lƣợng thịt xẻ của vịt thí nghiệm 68
3.6a. Ảnh hƣởng của các mức năng lƣợng, protein và axit amin trong khẩu
phần đến thành phần hóa học của thịt đùi và thịt lƣờn của vịt thí nghiệm 69
3.6b. Ảnh hƣởng của các mức lysine và axit amin trong khẩu phần đến thành
phần hóa học của thịt đùi và thịt lƣờn của vịt thí nghiệm 65
3.6c. Ảnh hƣởng của sự tƣơng tác các mức năng lƣợng, protein và axit amin
trong khẩu phần đến thành phần hóa học của thịt đùi và thịt lƣờn của
vịt thí nghiệm 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 3.1. Ảnh hƣởng của các mức năng lƣợng, protein trong khẩu phần
đến sự biến đổi khối lƣợng cơ thể của vịt thí nghiệm 45
Biểu đồ 3.2. Ảnh hƣởng của các mức lysine và axit amin trong khẩu phần
đến sự biến đổi khối lƣợng cơ thể của vịt thí nghiệm 47
Biểu đồ 3.3. Ảnh hƣởng của sự tƣơng tác các mức năng lƣợng, protein
và axit amin trong khẩu phần đến sự biến đổi khối lƣợng cơ thể
của vịt thí nghiệm 49
Biểu đồ 3.4. Ảnh hƣởng của các mức năng lƣợng, protein trong khẩu phần
đến sinh trƣởng của vịt thí nghiệm 51
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi vịt ở nƣớc ta là một nghề truyền thống lâu đời gắn bó với nền
sản xuất lúa nƣớc của nhân dân ta. Nƣớc ta có số lƣợng vịt xếp hàng thứ nhất
Đông Nam Á, xếp hàng thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ. Vịt là loài dễ
nuôi, có khả năng tận dụng phụ phế phẩm nông lâm ngƣ, các loại côn trùng thuỷ
sinh để chuyển thành sản phẩm nhƣ thịt, trứng, lông phục vụ đời sống dân sinh.
Từ những năm 1989 - 1990 của thế kỷ trƣớc một số giống vịt hƣớng thịt
cao sản nƣớc ngoài đã nhập vào nƣớc ta và đƣợc nuôi rộng rãi ở nhiều vùng
trong cả nƣớc, nhƣng trên thực tế sản lƣợng thịt vịt vẫn còn rất ít so với thịt gà.
Một trong các nguyên nhân làm cho chăn nuôi vịt chậm phát triển là do giống và
thức ăn dinh dƣỡng chƣa hợp lý. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có nhiều công
trình nghiên cứu một cách hệ thống nhằm xác định nhu cầu của chúng về các
chất dinh dƣỡng trong điều kiện nuôi dƣỡng tại nƣớc ta.
Vịt CV Super M. là giống vịt chuyên thịt cao sản, thích hợp với phƣơng
thức nuôi chăn thả có kiểm soát và tập trung thâm canh (nuôi công nghiệp). Hiện
nay, ở các trang trại nuôi vịt thƣơng phẩm thì nuôi giống vịt này là rất phổ biến.
Vịt CV Super M. có khả năng sinh trƣởng nhanh, thời gian nuôi đến khi xuất
chuồng khoảng từ 7-10 tuần tuổi phụ thuộc vào hình thức nuôi. Tuy nhiên chăn
nuôi vịt đạt năng suất cao là chƣa đủ mà thực phẩm phải có chất lƣợng tốt để
thỏa mãn với nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của con ngƣời. Để thực hiện
đƣợc điều đó thì việc nuôi dƣỡng hay tác động của thức ăn là rất lớn, ta phải xác
định đƣợc nhu cầu dinh dƣỡng dành cho các lứa tuổi thì chăn nuôi vịt mới đạt
đƣợc hiệu quả cao.
Để có những cơ sở khoa học và thực tiễn khuyến cáo cho ngƣời chăn nuôi
vịt thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức năng lượng trao đổi, protein và lysine
khác nhau đến sức sản xuất của vịt CV Super M. nuôi thịt trong điều kiện
chăn nuôi tập trung. ”
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định đƣợc nhu cầu về: Năng lƣợng, Protein, và lysin cho vịt CV
Các giống vịt chuyên thịt là các giống vịt cho năng xuất thịt cao, tỷ lệ thịt
xẻ cao, tuổi thành thục muộn, khối lƣợng cơ thể lớn và thể hiện rõ cho loại hình
chuyên thịt. Giống vịt chuyên thịt nổi tiếng hiện nay nhƣ vịt CV Super M. .
1.1.2 Đặc điểm và khả năng sản xuất của vịt CV Super M
Vịt CV Super M. (vịt Cherry Valley Super Meat): Là giống vịt chuyên thịt
nổi tiếng có năng suất cao vào loại nhất thế giới hiện nay và đƣợc nhập vào Việt
Nam tháng 11/1989. Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên lại tiếp tục nhập vịt
CV Super M. ông bà theo dự án “Nghiên cứu phát triển chăn nuôi vịt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
VIE/86/2007” Đây là dự án do UNDP và FAO tài trợ. Giống vịt này bắt đầu
đƣợc nuôi thích nghi, chọn lọc và nhân thuần ở trung tâm nghiên cứu vịt Đại
Xuyên và Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi thành phố Hồ Chí
Minh, cả hai trung tâm này đều là đơn vị trực thuộc Viện chăn nuôi quốc gia.
Vịt CV Super M. có màu lông trắng tuyền; chân, mỏ có màu vàng; da
vàng nhạt hoặc trắng; đầu cổ hơi thô, dài; lƣng phẳng và rộng; ngực sâu; chân
vững chắc. Đặc điểm ngoại hình đặc trƣng rõ cho vịt hƣớng thịt.
Vịt bố mẹ có tuổi đẻ là 25 tuần, năng suất trứng từ 180 - 220
quả/mái/67tuần tuổi. Vịt thƣơng phẩm nuôi nhốt (nuôi công nghiệp) 56 ngày tuổi
hoặc nuôi nhốt kết hợp với bán chăn thả (nuôi bán công nghiệp) 70 ngày tuổi đạt
khối lƣợng khoảng 3 - 3,5 kg, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lƣợng là 2,6 -
2,8 kg. Tỷ lệ nuôi sống dòng ông, dòng bà, bố mẹ đều trên 90 %. Vịt có khối
lƣợng lớn khả năng tự kiếm mồi kém, thiên về hƣớng nuôi nhốt hoặc nuôi nhốt
kết hợp với chăn thả, vịt có thể nuôi trên khô không cần nƣớc bơi lội.
Trong điều kiện nuôi dƣỡng và sản xuất ở Việt nam, vịt CV Super M. đàn
ông bà cũng phát triển và sản xuất gần sát với tiêu chuẩn của giống gốc, năng
suất đẻ trứng và năng suất thịt cao hơn hẳn các giống vịt nuôi ở nƣớc ta trƣớc
đây. Sản lƣợng trứng 40 tuần đẻ: Ông bà: 170 - 180 trứng/mái; bố mẹ: 180 - 200
ME (Kcal/ kg) = 4,26 X
1
+ 9,5 X
2
+4,23 X
3
+4,23 X
4
Các hệ số 4,26; 9,5; 4,23 và 4,23 lần lƣợt là giá trị ME Kcal/ kg của các
chất protein, chất béo, xơ và chất chiết không nitơ ở dạng tiêu hoá, tính theo g/ kg
thức ăn.
Để chính xác hơn ngƣời ta tính năng lƣợng trao đổi ở gia cầm theo hệ số
hiệu chỉnh lƣợng nitơ tích luỹ hàng ngày trong cơ thể:
ME
C
(Kcal/ kg) = ME – N
g tích luỹ trong cơ thể
x 8,22 (Hill và Anderson, 1958)
Để tìm nitơ thức ăn tích luỹ trong cơ thể gia cầm chúng ta dùng số liệu
của Blum, 1988:
Gia cầm trƣởng thành: N
tích luỹ
= 0
Gia cầm đẻ và sinh trƣởng cuối kỳ: N
tích luỹ
= 30 % N
thức ăn
Gia cầm sinh trƣởng đầu kỳ: N
tích luỹ
loại protein có chất lƣợng kém hơn (Vũ Duy Giảng, 2001[4]).
Protein thô chứa protein thuần và hợp chất nitơ phi protein. Nitơ phi
protein thƣờng chiếm 20 - 25 % lƣợng nitơ tổng số ở thức ăn xanh, 70 - 80 % ở
củ cải và 10 % ở thức ăn hạt.
Đối với gia cầm, ngƣời ta thƣờng xác định nhu cầu protein hàng ngày cho
chúng theo khối lƣợng mỗi ngày hoặc theo nồng độ phần trăm trong thức ăn hỗn hợp.
* Protein tiêu hoá
Protein tiêu hoá là phần protein hấp thu đƣợc so với phần ăn vào.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
6
Protein tiêu hoá = Protein thô x Tỷ lệ tiêu hoá
Tỷ lệ protein tiêu hoá (%)
=
Protein thu nhận (g) – Protein ở phân (g)
x 100
Protein thu nhận
Tỷ lệ tiêu hoá của protein thức ăn khác nhau theo từng loại thức ăn.
1.3. NĂNG LƢỢNG TRONG THỨC ĂN VÀ NHU CẦU NĂNG LƢỢNG
CỦA GIA CẦM
1.3.1. Vai trò của năng lƣợng đối với cơ thể gia cầm
Mọi hoạt động sống của cơ thể động vật nói chung và gia cầm nói riêng
đều gắn liền quá trình sử dụng và trao đổi năng lƣợng. Năng lƣợng trong thức ăn
đƣợc tiềm trữ trong dạng vật chất của thức ăn đó nhƣ lipit, gluxit, protit. Hàm
lƣợng năng lƣợng trao đổi, (ký hiệu là ME – Metabolizable Energy) coi nhƣ một
phần của năng lƣợng tổng số, đƣợc chứa nhiều trong mỡ, bơ, dầu thực vật, trung
bình ở các loại hạt và các thức ăn đạm (Ensminger M. E. et al, 1990 [56]).
Gia cầm nhận năng lƣợng từ thức ăn bên ngoài vào qua sự tiêu hóa và hấp thu các
chất ở trên đƣờng tiêu hóa. Sau khi hấp thu vào cơ thể, các vật chất của thức ăn có thể
Năng lƣợng thô (GE - Gross Energy) là năng lƣợng giải phóng ra khi đốt
mẫu thức ăn trong máy đo năng lƣợng (Bombe calorimetrique). Năng lƣợng này
sẽ bị mất mát trong quá trình tiêu hóa và chuyển hóa.
Năng lƣợng tiêu hóa (DE - Disgestible Energy) là phần còn lại sau khi đem
năng lƣợng thô trừ đi năng lƣợng ở phân (FE - Feacal Energy)
DE = GE - FE
Năng lƣợng trao đổi (ME- Metabolizable Energy) chiếm 40 - 70 % năng
lƣợng thô của khẩu phần, nó đƣợc dùng vào những phản ứng chuyển hóa của tế
Năng lƣợng trong phân +
nƣớc tiểu (FE + UE)
NĂNG LƢỢNG TRAO ĐỔI
Metabolizable – energy (ME)
Năng lƣợng hoá nhiệt
và đào thải (IH)
DUY TRÌ
SẢN XUẤT:
Sinh trƣởng
Đẻ trứng
Sinh tinh
Mọc lông
NĂNG LƢỢNG THUẦN
(NE)
Trừ
Trừ
NĂNG LƢỢNG THÔ
Gsoss energy (GE)
Trừ
thấp, gia cầm sẽ ăn nhiều, ngƣợc lại nếu năng lƣợng ở thức ăn cao, thì gia cầm sẽ
ăn ít đi. Vì vậy mức độ năng lƣợng trong thức ăn là rất quan trọng, nó quyết định
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
khối lƣợng thức ăn gia cầm ăn đƣợc. Vấn đề mà các nhà dinh dƣỡng quan tâm
là, ở khoảng năng lƣợng nào gia cầm vẫn điều chỉnh đƣợc lƣợng thức ăn ăn vào,
để đáp ứng đƣợc nhu cầu của cơ thể, có lợi cho tạo sản phẩm, đem lại hiệu quả
kinh tế cao. Khi năng lƣợng trong thức ăn thấp, gia cầm ăn đƣợc lƣợng thức ăn
tối đa, nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đủ nhu cầu năng lƣợng của nó, còn khi năng
lƣợng trong thức ăn quá cao, gia cầm ăn đƣợc quá ít thức ăn, do đó cũng không
đủ nhu cầu năng lƣợng dẫn đến năng suất thấp (Hill and Dansky, 1950 [65];
1954 [66]; Hill et al, 1956 [67]; Scott et al, 1982 [88]).
Mặc dù gia cầm có khả năng tự điều chỉnh lƣợng thức ăn tiêu thụ, để có
đƣợc lƣợng năng lƣợng tối thiểu ăn vào từ các khẩu phần có chứa các mức năng
lƣợng khác nhau, nhƣng việc điều chỉnh này thƣờng không chính xác (Willsson,
1973 [101]. Dữ liệu từ đa số các thí nghiệm trên gà thịt đã chỉ ra rằng: Các thay
đổi về lƣợng thức ăn ăn vào không tỷ lệ nghịch với các thay đổi về mức năng
lƣợng có trong thức ăn. Gà thịt và gà tây giò tiêu thụ nhiều năng lƣợng hơn khi
ăn khẩu phần năng lƣợng cao, so với khi ăn khẩu phần năng lƣợng từ thấp tới
vừa (Sell et al,1981 [90]; Owings và Sell, 1985 [91]; 1984 [93]; Brue và
Latshaw,1985 [43]; Potter và Mc Carth,1985 [83]). Khác với gà, vịt có khả năng
tự điều chỉnh mức tiêu thụ thức ăn bằng cách hấp thu một lƣợng calo ổn định, tỷ
lệ năng lƣợng trong khẩu phần không ảnh hƣởng tới sinh trƣởng. Khối lƣợng
giết mổ không thay đổi khi tăng năng lƣợng trong khẩu phần từ 2400 Kcal lên
3200 Kcal (Dơ Cacvin và A. Dơ Crut, 1985 [2]).
Kết quả nghiên cứu nhu cầu dinh dƣỡng cho ngan, vịt của Leclerq B. và De
Carville H. (1985) [72] cho biết: Một trong sự khác biệt chính giữa ngan, vịt thịt
với gà (từ quan điểm dinh dƣỡng) là nhu cầu về năng lƣợng, bởi vì chúng có liên
chiếm khoảng 50 % so với nhu cầu năng lƣợng cho trao đổi cơ bản (singh, 1988
[98]). Tổng chi phí ME cho trao đổi cơ bản của gia súc lớn lớn hơn gia súc nhỏ
nhƣng nếu tính theo 1 kg khối lƣợng thì gia súc càng nhỏ chi phí ME cho trao
đổi cơ bản càng lớn (nhu cầu ME cho trao đổi cơ bản/ kg khối lƣợng ở gà cao
gấp 3 lần so với bò) (Mc Donal, 1988 [53]).
Theo Ruber thì năng lƣợng cần thiết cho trao đổi cơ bản của động vật máu
nóng không phụ thuộc vào dạng động vật và độ lớn của chúng, mà theo một
chuẩn mực 1000 Kcal ME/ 1m
2
bề mặt cơ thể (Nguyễn Duy Hoan và cộng sự,
1999 [8]).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
Ngƣời ta xác định nhu cầu năng lƣợng duy trì cho con vật bằng cách
nghiên cứu năng lƣợng trao đổi cơ bản của con vật lúc nhịn đói. Con vật đƣợc
nhốt trong phòng kín có nhiệt độ môi trƣờng thích hợp và dƣờng nhƣ không vận
động. Nhu cầu năng lƣợng này là nhu cầu năng lƣợng trao đổi cơ bản hay năng
lƣợng duy trì lý thuyết. Nghiên cứu mối tƣơng quan giữa năng lƣợng trao đổi cơ
bản với 1 kg khối lƣợng cơ thể và nhận thấy chỉ tiêu này rất biến động ở các loài
gia cầm khác nhau. Tiếp theo ngƣời ta tìm mối tƣơng quan giữa năng lƣợng trao
đổi cơ bản với 1m
2
bề mặt da của gia cầm là rất khó. Cuối cùng ngƣời ta tìm ra
mối tƣơng quan chặt chẽ giữa năng lƣợng trao đổi cơ bản với 1 kg của tổng khối
lƣợng cơ thể có số mũ là 0,75. Khối lƣợng cơ thể (W) với số mũ 0,75(W
0,75
)
đƣợc gọi là khối lƣợng cơ thể trao đổi. Các số liệu thực nghiệm cho thấy nhu cầu
gia cầm đẻ trứng, nhu cầu này phụ thuộc vào sản lƣợng, khối lƣợng trứng và tỷ
lệ đẻ của cả đàn.
Về mặt lý thuyết ta tách năng lƣợng duy trì và năng lƣợng sản xuất để hiểu
rõ hơn vai trò và mối quan hệ hữu cơ giữa hai dạng năng lƣợng này, nhƣng trong
thực tế sản xuất ở nhiều nƣớc ngƣời ta gộp hai dạng năng lƣợng này với năng
lƣợng nhiệt thất thoát thành năng lƣợng trao đổi. Ở nƣớc ta đã dùng năng lƣợng
trao đổi để biểu thị năng lƣợng có trong thức ăn và tính toán nhu cầu năng lƣợng
cho gia cầm [9].
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) [7] cho biết: Ở gia cầm
cứ tăng 1gam khối lƣợng cơ thể, cần sử dụng hết 4 Kcal, với tỷ lệ tiêu hóa là 80
%. Do vậy để gia cầm tăng đƣợc 1 gam khối lƣợng cơ thể cần cung cấp cho gia
cầm một lƣợng năng lƣợng là 5 Kcal ME. Nhƣ vậy để tính nhu cầu năng lƣợng
cho sinh trƣởng ta có thể áp dụng theo công thức:
ME Kcal
=
T x 4
0,8
Trong đó: T là tăng khối lƣợng hằng ngày (tính bằng gam).
0,8 là hiệu suất sử dụng thức ăn cho tăng khối lƣợng là 80 %.
Theo Oluyemi (1979) [78] thì nhu cầu năng lƣợng cho tăng 1 gam khối lƣợng cơ
thể là 1,5 – 3 Kcal, nó phụ thuộc vào hàm lƣợng mỡ trong tế bào.
Bùi Đức Lũng, 1995 [13] đƣa ra công thức tính năng lƣợng nhƣ sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
MEtt
=
14
tỷ lệ thích hợp so với các chất dinh dƣỡng khác (Donald, 1988 [53]; Singh K. S.
và Panda, 1988 [98]; Bùi Đức Lũng, 1995 [13].
Khi cần thiết protein cũng là nguyên liệu giải phóng năng lƣợng cung cấp
cho hoạt động sống của cơ thể, trong khi đó gluxit và lipit lại không thể chuyển
hóa thành protein đƣợc. Mặt khác protein còn tham gia cấu tạo nên các men sinh
học và hormon. Những chất này vừa đóng vai trò xúc tác, vừa đóng vai trò điều
hòa quá trình trao đổi chất. Chúng là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của các
mô khung và bảo vệ nhƣ: xƣơng, sụn, dây chằng, da, lông vũ, lông tơ,
móng…Khối lƣợng chủ yếu các chất hữu cơ của đa số các cơ quan chủ yếu là
protein nhƣ: tim, gan, cơ quan sinh sản, các tuyến nội tiết, phổi, thận, máu, lách
và các cơ quan khác. Protein còn đƣợc sử dụng vào chức năng bảo vệ đặc biệt
hoặc là các protein miễn dịch, có tác dụng ngăn ngừa các tác động của các
protein lạ, hoặc vi sinh vật lạ xâm nhập vào cơ thể.
1.4.2. Protein và sự trao đổi protein trong cơ thể gia cầm
Protein là hợp chất hữu cơ phức tạp có phân tử lƣợng lớn. Nó là thành phần cơ
bản của tế bào. Mỗi loại cơ thể đều có các protein đặc hiệu của mình, chúng thƣờng
chiếm tỷ lệ lớn trong cơ thể và có thể tìm thấy dễ dàng trong tự nhiên.
Protein cần thiết cho động vật nhƣ là nguồn dinh dƣỡng không thể thay
thế và đứng hàng đầu trong các chất dinh dƣỡng đối với đời sống của đông vật.
Nhờ protein sẵn có trong thức ăn, động vật mới có thể tổng hợp đƣợc protein của
cơ thể và các sản phẩm, ngoài ra còn tổng hợp ra các chất có hoạt tính sinh học
cao nhƣ enzym và hormon, cùng các hợp chất khác đóng vai trò quan trọng trong
các quá trình sinh lý của cơ thể (Lƣơng Đức Phẩm, 1982 [17]).
Dƣới tác động của các men ở trong đƣờng tiêu hoá của gia súc, gia cầm,
protein sẽ đƣợc phân giải thành các axit amin. Các axit amin này sẽ đƣợc hấp thu
qua vách ruột vào máu, tới gan và các mô bào, vì thế có sự tăng amin trong
huyết tƣơng sau khi gia súc, gia cầm ăn thức ăn. Theo Bùi Đức Lũng (1995) [13]
trƣớc khi cho ăn, lƣợng nitơ amin trong huyết tƣơng của gia cầm là 4 - 6 mg/ml
và sau khi cho ăn là 6 - 10 mg/ml. Một phần axit amin sẽ đƣợc dùng làm nguyên
Hiệu quả sử dụng protein trong thức ăn đạt mức tối đa khi tỷ lệ các axit
amin của protein đó gần với tỷ lệ giữa các axit amin mà con vật đòi hỏi. Hiệu
quả này còn phụ thuộc vào tỷ lệ các axit amin thay thế và không thay thế của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
16
protein trong khẩu phần. Nhƣ vậy sự cân đối giữa các axit amin đặc biệt là các
axit amin không thay thế trong khẩu phần quyết định giá trị sinh học của protein
vì: Sự vắng mặt hoặc thiếu hụt của bất kỳ một axit amin không thay thế nào
trong khẩu phần đều gây ảnh hƣởng xấu đến việc sử dụng các axit amin khác
trong quá trình tổng hợp protein (Grigorev, 1981 [6]). Những axit amin dƣ thừa
không đƣợc dự trữ trong tế bào mà sẽ bị sử dụng làm nguồn thức ăn năng lƣợng
nhƣ là tinh bột, dẫn đến hiệu quả sử dụng protein kém, đồng thời làm tăng lƣợng
axit uric trong máu, gây ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ của gia cầm (Singh K. S.
và Panda, 1988 [98]).
Ngày nay các nhà dinh dƣỡng đã đƣa ra khái niệm về protein “lý tƣởng”,
hay protein “hoàn chỉnh”. Theo Fuller (1981) [60] thì protein lý tƣởng là protein
mà trong đó có sự cân bằng axit amin đạt mức tối ƣu nhất so với nhu cầu và
đƣợc gia súc, gia cầm sử dụng với hiệu quả cao nhất.
1.4.4. Nhu cầu protein đối với cơ thể và cách xác định
Nhu cầu protein cho gia cầm thịt nói chung và vịt thịt nói riêng bao gồm
nhu cầu cho duy trì, cho tăng trƣởng và cho tổng hợp lông.
1.4.4.1. Nhu cầu protein cho duy trì
Nhu cầu duy trì giúp con vật không thay đổi trọng lƣợng và các hoạt động
sinh lý. Vì vậy, sự trao đổi protein xảy ra ngay cả khi cơ thể con vật không nhận
đƣợc protein từ thức ăn. Nếu kéo dài tình trạng thiếu hụt protein trong thức ăn để
duy trì cho sự hoạt động thì con vật phải huy động protein riêng của cơ thể để
cung cấp cho mọi sự hoạt động sinh trƣởng của chúng. Trong quá trình trao đổi
protein (đồng hóa và dị hóa), tạo ra sản phẩm trung gian chứa nitơ, lƣợng nitơ
Nhu cầu protein cho tăng trƣởng của gia cầm có thể tính theo công thức sau:
CP
=
(W
c
– W
o
) x 0,18
0. 64
Trong đó: CP: Protein cho tăng trƣởng (gam)
W
0
: Khối lƣợng cơ thể lúc ban đầu (gam)
W
c
: Khối lƣợng cơ thể lúc kết thúc (gam)
0,18: Hàm lƣợng protein trong thịt
0,64: Hiệu quả sử dụng protein thức ăn của gia cầm hƣớng thịt