Tiến tới tự do hóa lãi suất ở Việt nam - Pdf 23

Lời mở đầu
Lãi suất ngân hàng là một phạm trù kinh tế có tính hai mặt. Nếu xác định lãi
suất hợp lí sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất-lu thông hàng hoá phát triển và
ngợc lại. Bởi vậy, lãi suất ngân hàng vừa là công cụ quản lí vĩ mô của Nhà nớc, vừa là
công cụ điều hành vi mô của các ngân hàng thơng mại. Một chính sách lãi suất có
hiệu quả là chính sách đợc áp dụng nhất quán trong một lãnh thổ và đợc NHNN điều
chỉnh chặt chẽ, mềm dẻo theo từng thời kì cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn và
cung ứng vốn nhằm thu hút đợc nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng, phục vụ phát
triển kinh tế đất nớc, đồng thời đảm bảo đợc cho hoạt động của các ngân hàng thơng
mại thực sự có hiệu quả.
Đối với Việt Nam, trong bớc chuyển mình từ một nền kinh tế tự cung tự cấp
sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết quản lí của Nhà nớc,
trong quá trình hoà nhập cùng sự phát triển của nền kinh tế thế giới, việc xem xét vấn
đề lãi suất là rất cần thiết. Bài viết xin đợc đề cập tới vấn đề : Tiến tới tự do hoá lãi
suất ở Việt Nam thông qua 4 phần chính:
Phần I : Tìm hiểu chung về lãi suất
Phần II: Thực trạng vấn đề lãi suất ở Việt Nam hiện nay
Phần III: Quá trình tiến tới tự do hoá lãi suất trong giai đoạn hiện nay
Phần IV: Tự do hoá lãi suất ở Việt nam
Với sự hiểu biết còn nhiều hạn chế, em xin đợc trình bày những hiểu biết, nhận thức
của mình về vấn đề tiến tới tự do hóa lãi suất và đề xuất những kiến nghị của bản thân
về định hớng tự do hoá lãi suất ở nớc ta hiện nay. Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt
tình hớng dẫn, chỉ bảo của thầy giáo đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu. Em
cũng xin chân thành cảm ơn th viện nhà trờng đã cung cấp t liệu cho bài viết.
1
Phần I
Tìm hiểu chung về lãI suất
I . Khái niệm và vai trò của lãi suất.
1. Khái niệm.
Lãi suất là một trong những vấn đề hết sức phức tạp. Nó là một công cụ rất nhạy
cảm trong điều hành chính sách tiền tệ của mọi Ngân hàng Trung ơng (NHTW) đặc

triển kinh tế.
Lãi suất hớng dẫn cho sản xuất- tiêu dùng: Lãi suất tăng -> chi phí sản xuất tăng
-> giá thành sản phẩm tăng -> dân chúng sẽ hạn chế tiêu dùng loại hàng sản xuất đó
và ngợc lại.
Lãi suất là công cụ để kiểm soát các luồng vốn di chuyển giữa các ngành trong
nền kinh tế cũng nh với nớc ngoài.
Vậy, đối với tầm vĩ mô, lãi suất rất quan trọng, tất cả các nớc đều rất quan tâm.
2.2 . Đối với tầm vi mô.
Lãi suất là cơ sở quan trọng cho các cá nhân, các doanh nghiệp đa ra các quyết
định đối với việc sử dụng vốn. Ngoài ra, lãi suất còn góp phần thúc đẩy và củng cố
hiệu quả kinh tế.
2.2.a Lãi suất với sự phân bổ các nguồn lực
Tất cả mọi nguồn lực đều có tính khan hiếm. Vấn đề là xã hội phải phân bổ và
sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả. Nghiên cứu trong nền kinh tế thị trờng
cho thấy, giá cả đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực giữa
các ngành kinh tế.
Nh chúng ta đã biết, lãi suất là một loại giá cả, nghĩa là lãi suất có vai trò phân
bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội. Để quyết định đầu t vào một ngành
kinh tế, một dự án hay là một tài sản nào đó chúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh
lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thu đợc từ ngành kinh tế đó, dự án đó hay tài sản đó so
với chi phí ban đầu. Điều này có nghĩa là phải xem xét một ngành, một dự án kinh
doanh có đem lại lợi nhuận, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và đủ để trả khoản tiền lãi
của số tiền vay cho chi phí ban đầu hay không. Ngành nào, dự án kinh doanh nào có
tỷ suất lợi tức lớn hơn lãi suất thì nguồn lực sẽ đợc phân bổ tới đó, và đó là sự phân
bổ hiệu quả.
Thông qua lãi suất, các doanh nghiệp có thể lựa chọn những ngành sản xuất
khác nhau để đầu t nhằm thu tỷ suất lợi nhuận cao. Nh vậy lợi suất là tín hiệu, là căn
cứ để có sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm trong xã hội, lãi suất là yếu tố
cần thiết ban đầu trớc khi đi đến quyết định đầu t.
2.2.b Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm.

Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nớc này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nớc khác.
Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trờng ngoại hối quyết định và chịu ảnh hởng của
nhiều nhân tố nh giá cả, thuế quan, quota, sự a thích hàng nội, hàng ngoại, năng suất
lao động.... Ngoài ra tỷ giá trong ngắn hạn còn chịu ảnh hởng của lãi suất: Lãi suất
tiền gửi nội tệ và ngoại tệ. Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi
trong lãi suất danh nghĩa. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát dự tính tăng
(lãi suất thực không đổi) thì tỷ giá giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực
tế tăng ( tỷ lệ lạm phát không đổi) thì giá đồng tiền trong nớc tăng, tỷ giá tăng.Khi lãi
suất tiền gửi ngoại tệ tăng, đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngợc lại.
4
Tỷ giá rất quan trọng trong hoạt động XNK. Nếu lãi suất tăng làm tăng tỷ giá sẽ
làm cho hoạt động xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng và ngợc lại. Nh vậy thông qua tỷ
giá hối đoái, lãi suất có ảnh hởnglớn tới xuất nhập khẩu, xuất khẩu ròng của một
quốc gia.
2.2.e. Lãi suất với lạm phát.
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm
phát. Fisher chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát cao. Những nớc trải
qua lạm phát cao cũng chính là những nớc có mức lãi suất cao. Lạm phát là hiện tợng
mất giá của đồng tiền, là tình trạng tăng liên tục mức giá chung của nền kinh tế do
nhiều nguyên nhân khác nhau. Do vậy cũng có nhiều biện pháp khác nhau để kiểm
soát lạm phát, trong đó giải pháp về lãi suất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu
hút phần lớn số tiền có nhiều trong lu thông khiến cho đồng tiền trong lu thông giảm,
cơ số tiền và lợng tiền cung ứng giảm, lạm phát đợc kiềm chế. Nh vậy, lãi suất cũng
góp phần chống lạm phát.
Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ lãi suất trong chống lạm phát không thể duy trì
lâu dài vì lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu t, giảm tổng cầu và làm giảm sản lợng. Do
vậy lãi suất phải đợc sử dụng kết hợp với các công cụ khác thì mới có thể kiểm soát
đợc lạm phát, ổn định giá cả, ổn định đồng tiền. Một chính sách lãi suất phù hợp là sự
cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.

vay, làm cho vốn trở nên d thừa, ứ đọng, không đợc đầu t vào sản xuất kinh doanh,
không sinh lãi, lúc đó đồng vốn trở thành vốn chết không còn tác dụng gì nữa. Vì
vậy, trớc khi xác định mức lãi suất phải tính đến nguyên tắc này đầu tiên.
Nguyên tắc 2: Bảo tồn giá trị của vốn, bù đắp đợc rủi ro, có tích luỹ cho ngời sở hữu
vốn và ngời sử dụng vốn.
Khi đem vốn vào sử dụng, sau một thời gian nhất định, ngời sử dụng vốn cũng
nh ngời cho vay vốn đều hi vọng vốn ban đầu sẽ tạo ra một lợng tiền lớn hơn tức là có
sinh lãi đủ để trang trải các chi phí và để lại một phần lợi nhuận. Đây là lẽ đơng
nhiên. Song trên thực tế không phải đầu t nào cũng đem lại kết quả tốt đẹp, sẽ có
những lúc bị lỗ, thậm chí mất cả vốn ban đầu. Do đó, lãi suất phải đảm bảo nguyên
tắc 2 để ngời cho vay và ngời đi vay không bị thiệt thòi dù cho việc sử dụng vốn có
lúc lãi có lúc lỗ.
Nguyên tắc 3: Lãi suất phải đợc phân định theo thị trờng tiền tệ cấp 2.
Sở dĩ lãi suất phải phân định ra vì trên mỗi thị trờng, các yếu tố quyết định đến
mức lãi suất là khác nhau nh: chủ thể sở hữu và sử dụng vốn, chi phí huy động vốn,
mức độ rủi ro, uy tín của ngời vay.v.v...Tuy nhiên, lãi suất trên thị trờng cấp 2 có thể
dựa vào lãi suất trên thị trờng cấp một để định ra mức lãi suất phù hợp và lãi suất trên
thị trờng cấp 1 có thể tăng hay giảm để tác động vào lãi suất của thị trờng cấp 2. Tóm
lại, lãi suất trên 2 thị trờng tiền tệ phải khác nhau nhng có quan hệ hữu cơ và ràng
buộc lẫn nhau. Thông thờng, lãi suất trên thị trờng cấp một nhỏ hơn lãi suất trên thị
trờng cấp 2 để đảm bảo cho các tổ chức tín dụng sau khi đi vay trên thị trờng cấp 1 và
cho vay trên thị trờng cấp 2 sẽ thu đợc một phần lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất trên
hai thị trờng đó.
6
Nguyên tắc 4: Nguyên tắc này đợc hình thành trên cơ sở nguyên tắc 1 và 2, trong đó:
Tỉ lệ lạm phát < Lãi suất đi vay < Lãi suất cho vay < Tỉ suất lợi nhuận bình
quân của nền kinh tế
Lãi suất ngắn hạn < Lãi suất trung và dài hạn.
Bất đẳng thức 1 cho thấy lãi suất phải đảm bảo có lợi cho cả ngời vay và ngời đi
vay đồng thời có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển nền kinh tế. Tỉ lệ

7
hợp lí. Mặt khác, do nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào 2 cơ sở trên nên lãi suất đợc
đặt ra, ngoài mục đích thu lợi cho một cá nhân, một tổ chức, phải đảm bảo kích thích
nền kinh tế tăng trởng. Do đó, khi xác định lãi suất, ngời ta phải dựa trên 2 cơ sở cơ
bản này.
Cơ sở thứ 3 là ớc định một tỉ lệ kích thích. Lãi suất cũng giống nh các loại giá
cả khác, chỉ cần thấp hoặc cao hơn một chút so với các tổ chức tín dụng khác đã có
thể thu đợc nhiều khách hàng hơn, cho vay nhiều hơn hoặc ngợc lại. Nh vậy, trên cơ
sở một tỉ lệ kích thích, lợi nhuận của TCTD có thể bị giảm đi nếu tính trên giá trị từng
giao dịch song với số lợng giao dịch tăng lên thì lợi nhuận vẫn tăng mà TCTD lại tạo
ra đợc lợi thế cạnh tranh lâu dài cho mình.
Cơ sở tiếp theo là chỉ tiêu hợp lí về tổng chi phí tín dụng bình quân. Dựa trên
chỉ tiêu này, ngời ta có thể xác định đợc nhiều chỉ tiêu khác nh doanh thu, lợi nhuận,
mức lơng, mức lãi suất.v.v...Nếu tính toán tổng chi phí tín dụng bình quân cao hơn
nhu cầu thực tế của thị trờng sẽ dẫn đến thừa vốn, TCTD muốn cho vay đợc phải
giảm lãi suất cho vay. Điều này có thể dẫn đến hai hậu quả là giảm lãi suất tiền gửi
khiến khách hàng chuyển sang gửi tiền ở các TCTD khác hoặc là giảm lợi nhuận
đồng thời giảm tiền lơng của cán bộ công nhân viên. Nếu chỉ tiêu trên thấp hơn nhu
cầu thực tế thì tác động ngợc lại , TCTD phải nâng cả lãi suất đi vay và lãi suất cho
vay lên. Khi lãi suất cho vay tăng, các doanh nghiệp sẽ vay ít hơn cho đầu t vào sản
xuất kinh doanh khiến cho nền kinh tế tăng trởng chậm lại. Vì vậy, xác định chỉ tiêu
tổng chi phí tín dụng bình quân hợp lí là rất cần thiết khi hình thành lãi suất giúp cho
TCTD giữ đợc uy tín với các doanh nghiệp vay vốn và thu hút đợc nhiều khách hàng
gửi tiền.
Cơ sở cuối cùng là kinh nghiệm nghề nghiệp của các chuyên gia. Lãi suất là
một biến số đợc cấu thành từ rất nhiều biến số khác nhau mà trong đó chủ yếu là
những biến số mang tính khách quan. Do đó, muốn xác định đợc lãi suất phải nắm
chắc đợc các yếu tố cấu thành nó. Sự biến động của các yếu tố này rất phức tạp, do đó
cần phải xem xét, phân tích kĩ lỡng, đòi hỏi phải do các chuyên gia hoạt động lâu
năm trong nghề thực hiện.

2.Từ tháng 3-1989: Thời kỳ lãi suất dơng
NHNN đã chủ động sử dụng công cụ lãi suất, chuyển từ lãi suất âm qua lãi
suất dơng. Để thu hút tiền thừa trong lu thông về, kìm chế lạm phát, tránh bao cấp
qua lãi suất, NHNN đã nâng lãi suất huy động lên một lợng rất cao trong một thời
gian ngắn (lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn 109 % / năm, lãi suất tiết kiệm 3 tháng
144 %/ năm). Nhờ vậy đã:
Thu hút một khối lợng tiền lớn trong lu thông, tăng nguồn vốn tín dụng, giảm áp
lực lạm phát.
Chuyển lãi suất âm qua lãi suất dơng, xử lí hài hoà lợi ích giữa ngời gửi tiền, ngời
vay vốn và TCTD.
Xoá bỏ bao cấp qua lãi suất ngân hàng, chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh
doanh thực sự.
Tuy nhiên, ở giai đoạn này, hệ thống lãi suất còn phức tạp, còn nhiều mức lãi
suất tiền gửi và cho vay.
+ Đối với từng ngành kinh tế có mức lãi suất riêng.
+ Đối với các thành phần kinh tế còn có phân biệt lãi suất.
Ngày 1-6-1992 thống đốc NHNN đã quyết định điều chỉnh chính sách lãi suất
theo hớng:
- Đảm bảo lãi suất thực tế dơng, lãi suất tín dụng ngân hàng không thấp hơn lãi suất
tiền gửi.
10
- Ngân hàng nhà nớc chỉ quy định mức cho vay tối đa và mức tiền gửi tối thiểu cụ
thể với từng đối tợng vay vốn, còn mức lãi suất cụ thể sẽ do các NHTM tự quyết định
trên cơ sở cung cầu về vốn tín dụng.
- Thực hiện chính sách lãi suất bình đẳng đối với tất cả các thành phần kinh tế.
- Chính sách lãi suất phù hợp trên đã góp phần tập trung đợc nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong dân c cho đầu t phát triển, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, ổn định và
kích thích tăng trởng. Năm 1992, lạm phát giảm mạnh từ 67,6% (1991) xuống 14,5%
, tăng trởng kinh tế từ 6% (1991) lên 8,6%. Năm 1993 lạm phát đạt mức thấp 5,2% và
tăng trởng kinh tế 8,1%.

huy động vốn là 0,35%/tháng.
Việc quy định trần lãi suất và khống chế mức chênh lệch 0,35% thực chất là vừa quy
định trần lãi suất, vừa quy định sàn lãi suất. Từ 1/ 1/ 96 NHNN đã quy định trần lãi
suất cho vay tối đa và mức chênh lệch 0,35 % thay cho việc điều hành theo lãi suất
cho vay, lãi suất tiền gửi chi tiết và lãi suất thoả thuận quy định trớc đó .
Từ 21/1/1998 đến nay, Quốc hội khoá IX cho phép bỏ mức chênh lệch 0,35
% / tháng, đồng thời để thu hẹp sự cách biệt giữa mức lãi suất cho vay của thành thị
và nông thôn, NHNN quy định các mức lãi suất mới, rút từ 4 trần xuống còn 3 trần lãi
suất và không quy định mức chênh lệch 0,35 %/ tháng nữa:
- Trần lãi suất cho vay ngắn hạn 1,2 % tháng.
- Trần lãi suất cho vay trung dài hạn 1,25 % tháng.
- Trần lãi suất QTD cho vay thành viên 1,5 % tháng.
Việc quản lí lãi suất theo trần có u điểm sau:
+ Trong phạm vi trần, các TCTD đợc tự do ấn định các mức lãi suất cho vay và
tiền gửi cụ thể, linh hoạt, phù hợp điều kiện kinh doanh , thực hiện chính sách khách
hàng, tự chủ trong kinh doanh, thực hiện cạnh tranh lành mạnh, từng bớc tự do hoá lãi
suất.
+ Phù hợp với đặc diểm, chi phí hoạt động NH ở các vùng khác nhau.
+ Tạo mặt bằng chung về lãi suất trong cả nớc, xoá bỏ lãi suất thoả thuận, vợt
quá xa mức lãi suất do NHNN quy định.
+ Có trần khống chế sẽ bảo vệ đợc lợi ích ngời vay, TCTD và ngời gửi tiền.
+ Đảm bảo vai trò quản lí nhà nớc của NHNN về lãi suất trong giai đoạn đầu
của thị trờng tiền tệ mới hình thành trong nền kinh tế thị trờng.
II.Cơ chế lãi suất ở Việt Nam hiện nay
Diễn biến các mức trần lãi suất cho vay theo quy định của NHNN kể từ khi
xảy ra khủng hoảng tài chính- tiền tệ trong khu vực đến nay.
Thời điểm thực hiện mức trần
lãi suất cho vay các loại
1/7/1997 21/1/199
8

vốn bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả. Chuyển sang lãi suất trần là một bớc tiến bộ,
song lãi suất vẫn cha phản ánh đúng quan hệ cung-cầu về vốn của nền kinh tế. Một
biểu hiện rõ nhất là lãi suất chung của nền kinh tế chủ yếu đợc áp đặt bởi NHNN chứ
cha phải đợc hình thành theo đúng tín hiệu thị trờng, thông qua một số tham số chủ
chốt: lãi suất tín phiếu, trái phiếu kho bạc, lãi suất thị trờng liên ngân hàng, lãi suất
giao dịch hợp đồng mua đứt, bán đoạn hay mua bán có kì hạn, lãi suất chiết khấu,
cầm cố, thế chấp tài sản...Nhìn chung, lãi suất cha phản ánh đợc rủi ro tín dụng, thiếu
quan hệ khăng khít với diễn biến tỉ giá hối đoái, trong lúc thờng xuyên bị trói buộc
hết sức cứng nhắc bởi vòng kim cô chỉ số giá CPI...
Đôi lúc trần lãi suất chỉ có ý nghĩa tợng trng, bên cạnh đó còn tồn tại nhiều
mức lãi suất khác nhau trên thực tế, lại có hiện tợng lạm dụng lãi suất u đãi tràn lan
trong vòng 2 năm nay. Do đó xu hớng hạn chế, dỡ bỏ mọi áp đặt, can thiệp, kiểm soát
hành chính về lãi suất là một tất yếu khách quan. Mục tiêu là cuối cùng thì phải để thị
trờng tự quyết định lãi suất phù hợp cho nó(cũng là cho nền kinh tế). Dựa vào đó sự
can thiệp một cách gián tiếp của NHNN vào thị trờng tiền tệ mới thực hiện đợc linh
hoạt, đúng hớng và có hiệu quả. Hai vấn đề bức xúc hiện nay là:
+ Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam thì nên hoàn chỉnh chính sách lãi suất
theo định hớng nào.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status