Lời nói đầu
Kể từ sau Đại hội VI, Việt Nam đã thực sự bớc vào công cuộc CNH - HĐH
đất nớc để trang bị cho một nền sản xuất đại công nghiệp XHCN, cơ sở vật chất kỹ
thuật tiên tiến. Để có đợc một hệ thống trang bị kỹ thuật hiện đại đáp ứng đợc đòi
hỏi của một nền đại công nghiệp, Việt Nam đã đang và sẽ cần rất nhiều vốn, một
lợng vốn khổng lồ. Do đó, chúng ta đang hớng tới những giải pháp tạo vốn, đặc
biệt là trung và dài hạn để phục vụ cho nhu cầu đầu t dài hạn của nền kinh tế.
Trên thực tế, việc huy động vốn còn tồn tại nhiều nghịch lý. Nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân c rất lớn nhng lại không đợc huy động, nguồn vốn trong ngân
hàng không cho vay đợc, nhiều doanh nghiệp còn có vốn nhàn rỗi. Trong khi đó,
trong nền kinh tế còn nhiều doanh nghiệp thiếu vốn để đầu t vào những dự án có
hiệu quả.
Một trong những nguyên do của nghịch lý trên một phần là do hiệu quả
hoạt động của chính các doanh nghiệp còn một phần quan trọng là cha có thị trờng
chứng khoán, cung và cầu vốn cha gặp nhau. Do vậy, để giải quyết nghịch lý trên
chúng ta cần thành lập thị trờng chứng khoán.
Tuy nhiên, để thành lập thị trờng chứng khoán chúng ta cần phải nắm đợc
những lý thuyết cơ bản kết hợp với những thực trạng ở Việt Nam trong những năm
qua và quan trọng hơn cả là những điều kiện tiền đề để thành lập thị trờng chứng
khoán.
Nhằm phục vụ cho những nhu cầu đó, đề tài xin đề cập đến những lý luận
cơ bản về thị trờng chứng khoán, thực trạng hàng hoá chứng khoán ở Việt Nam và
những giải pháp tăng lợng chứng khoán khả mại cho một thị trờng chứng khoán
trong tơng lai.
Trong quá trình viết do hạn chế về thời gian và trình độ không tránh khỏi
nhiều sai sót rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn sinh viên.
Sau đây là nội dung của đề tài.
1
Chơng I
Cơ Sở lý luận
I-/ Quá trình hình thành và bản chất của thị trờng chứng
Đến năm 1547, mậu dịch trờng tại thành phố Bruges bị suy sụp và dời đến
hải cảng Auvers( Bỉ). Mậu dịch trờng này phát triển nhanh và theo đó mậu dịch tr-
ờng ở các nớc khác cũng bắt đầu hình thành.
Vào giữa thế kỉ 18, mậu dịch trờng ở Luân Đôn đã đợc hình thành theo mẫu
của mậu dịch trờng Auvers gọi là Stock exchange, nơi mà sau này ngời ta gọi là Sở
Giao dịch Chứng khoán(SGDCK) Luân Đôn. Và các mậu dịch trờng(MDT) khác
cũng lần lợt đợc thành lập tại Pháp, Đức, Italia, Bắc Âu và ít nhiều đợc cải tiến tuỳ
theo điều kiện của từng nớc.
Sau một thời gian hoạt động, mô hình của MDT bao gồm 3 nội dung không
còn phù hợp với xu thế phát triển nữa. Vì vậy, giao dịch hàng hoá tách thành khu
thơng mại. giao dịch ngoại tệ thành thị trờng hối đoái và giao dịch khoán động sản
tách thành TTCK và các giao dịch hợp đồng cho tơng lai thành thì trờng tơng lai.
Nh vậy, TTCK đã xuất hiện từ thế kỷ 15 và sự xuất hiện của nó đã kéo theo
sự hình thành một loạt các thị trờng khác. Quá trình hình thành và phát triển của
TTCK thế giới đã trải qua nhiều bớc thăng trầm. Có thể nói, thời kỳ phồn thịnh
nhất của TTCK là thời kỳ những năm từ 1875 đến 1915, TTCK phát triển gắn với
sự tăng trởng mạnh của các nền kinh tế trên thế giới. Nhng sau đó, đến ngày
29/10/1929-Ngày thứ năm đen tối- mở đầu cuộc khủng hoảng tại TTCK New
york, từ đó, kéo theo khủng hoảng của các TTCK Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, TTCK các nớc phát triển mạnh và tơng đối ổn định.
Cho đến 1987 TTCK thế giới lại lâm vào cuộc đại khủng hoảng làm cho kinh té
các nớc kiệt quệ và suy yếu. Nhng chỉ 2 năm sau đó, TTCK thế giới lại đi vào ổn
định và phát triển trở thành một nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển
kinh tế của một quốc gia.
2-/ Bản chất TTCK
3
Quá trình phát triển kinh tế xã hội ở bất kỳ một quốc gia nào cũng làm biến
đổi các khái niệm của các yếu tố trong nền kinh tế. Có khái niệm cũ mất đi, khái
niệm mới ra đời. Có khái niệm giữ nguyên hình thức cũ nhng nội dung của nó lại
bao hàm những điều mới chỉ biểu hiện trong một thời gian và không gian nhất
TTCK sẽ thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ các khoản tiết kiệm trong dân c,
những luồng vốn đầu t nớc ngoài, nguồn vốn nhàn rỗi trong các quỹ của DN, các
tổ chức kinh tế xá hội và Chính phủ để tạo nên một luồng vốn khổng lồ cho đầu t,
phát triển kinh tế. Nhờ đó, TTCK tạo điều kiện cho các DN hoạt động có hiệu quả
hơn, tăng thêm lợi nhuận cho DN, giúp Nhà nớc và chính phủ bù đắp các khoản
thâm hụt Ngân sách và thu hút nguồn vốn cho đầu t phát triển cơ sở hạ tầng. Ngoài
ra, TTCK còn giúp cho dân c và các tổ chức xã hội tâng thêm đợc nguồn thu nhập
chính đáng.
2-/ TTCK tạo điều kiện cho các DN sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn
Vốn kinh doanh của một DN bao gồm: vốn cố định và vốn lu động. Trong
ngắn hạn, vốn cố định của DN là không đổi, vì vậy, để tăng nguồn vốn kinh doanh
của mình, DN phải tăng nguồn vốn lu động. Thông qua TTCK DN có thể chủ
động về quy mô, thời hạn thu hút vốn lu động. Nguồn vốn huy động này giúp DN
huy động đợc nguồn vốn trung và dài hạn, chủ động trong sử dụng vốn. Khi phát
hành chứng khoán trên thị trờng, DN thực hiện chức năng của ngời vay vốn, ngời
mua chứng khoán sẽ là nhà đầu t vốn.
Về phía các nhà đầu t, họ mua chứng khoán nhằm mục đích sinh lời, do đó,
khi mua họ sẽ chọn những chứng khoán có khả năng sinh lời cao nhất. Khả năng
này tuỳ thuộc chủ yếu vào hiệu quả hoạt động của DN phát hành chứng khoán.
Nh vậy, giá của những chứng khoán mà chủ phát hành là những DN hoạt động có
hiệu quả sẽ tăng cao hơn so với những chứng khoán của các DN hoạt động kém
hiệu quả. Để đảm bảo giá chứng khoán, DN cần phải sử dụng vốn linh động và đạt
hiệu quả cao nhất.
3-/ Công cụ đánh giá DN và dự đoán tơng lai
Cùng với sự phát triển của KTTT, TTCK biến hoá ngày càng đa dạng và
phức tạp, số lợng cũng nh các loại chứng khoán tăng lên ngày càng nhiều, điều đó
5
đã tác động đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế. Trong khu rừng đầy rẫy những
con số, giá cả của những loại CK, các nhà đầu t phải đa ra đợc những phơng pháp
để xác định giá CK. Nếu không phải là những phân tích cụ thể thì cũng là một ph-
doanh nghiệp sẽ trích một phần lợi nhuận của mình vào quỹ đầu t. Biện pháp này
chỉ áp dụng đối với những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và quy mô hoạt
động lớn.
Hai là, doanh nghiệp huy động từ nguồn vốn bên ngoài. Biện pháp này phổ
biến hơn qua hai hình thức: vay tín dụng và phát hành cổ phiếu.
Nhờ TTCK cổ phiếu và trái phiếu của DN phát hành dễ dàng hơn, dân c có
thể tiết kiệm tích cực và các quỹ nhàn rỗi trong các thành phần kinh tế có thể đợc
đầu t vào sản xuất kinh doanh.
1.2- TTCK là phơng tiện huy động vốn
Khi cha có TTCK việc huy động vốn của các DN hoặc Chính phủ chủ yếu
thông qua vay tín dụng Ngân hàng. Kể từ khi xuất hiện TTCK các DN và Chính
phủ có thể chủ động vay vốn trực tiếp thông qua phát hành chứng khoán. Nguồn
vốn huy động đợc bảo đảm và thời gian sử dụng lâu dài. Đơn vị lại chủ động hơn
về mặt thanh toán cũng nh không bận tâm khi giá của cổ phiếu biến động. Đối với
chính phủ, thay vì phất hành tiền có thể phát hành CK để bù đắp thâm hụt NS mà
không gây ra lạm phát. Tuy nhiên, nếu không có TTCK vẫn có thể phát hành đợc
trái phiếu song đó chỉ là trung và ngắn hạn.
7
1.3- TTCK là một công cụ giúp cho nhà nớc thực hiện các chơng trình
phát triển kinh tế xã hội
Trong khi thực hiện các chơng trình phát trỉen kinh tế xã hội, CP các nớc th-
ờng bị thâm hụt NS. Để bù đắp cho thâm hụt Nhà nớc có hai biện pháp:
Một là, các NH TW sẽ phát hành tiền cho CP. Biện pháp này rất dễ gây ra
lạm phát cao.
Hai là, Chính phủ đi vay từ nớc ngoài (các tổ chức tài chính quốc tế), từ NH
và có thể vay từ dân chúng. Biện pháp vay từ dân chúng giúp chính phủ tránh đợc
thâm hụt cán cân thanh toán quốc gia khi vay từ nớc ngoài và tránh đợc lạm phát
do vay từ NH TW.
1.4- TTCK là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu t nớc ngoài
TTCK là công cụ cho phép vừa thu hút vừa kiềm soát vốn đầu t nớc ngoài
bằng của TTCK.
2.3- Mua bán cổ phiếu ngoài thị trờng
ở hầu hết các nớc luật đều hạn chế các nhà môi giới cũng nh các nhà đầu t
mua bán ngoài thị trờng vì điều này gây ảnh hởng xấu đến những công ty và tạo áp
lực với các nhà đầu t mua bán cổ phiếu trên thị trờng chính thức.
2.4- Phao tin đồn không chính xác về hoạt động của một đơn vị kinh tế
Đây là hoạt động đi ngợc lại nguyên tắc công khai của thị trờng. Thông th-
ờng, đó là các thông tin xấu. Những thông tin này sẽ tác động đến các nhà đầu t
làm cho họ bán ồ ạt các cổ phiếu ra thị trờng khiến cho giá CP giảm mạnh. Những
kể tung tin sẽ đứng ra mua cổ phiếu và thao túng mọi hoạt động của công ty nhằm
hởng lợi bất chính cho đến khi tin đồn đợc kiểm chứng.
9
IV-/ Phân loại TTTC
1-/ Thị trờng tài chính bao gồm thị trờng cấp 1 và thj trờng cấp 2
1.1- Thị trờng cấp I
TT cấp 1 là thị trờng mà tại đó các chứng khoán mới đợc phát hành và
bán cho ngời mua đầu tiên.
Để CK từ nhứng nhà phát hành đến đợc tay của những nhà đầu t cần phải
qua các trung gian tài chính (TGTC). Nhứng trung gian này sẽ đứng ra thực hiện
hộ nhà phát hành việc phát hành những chứng khoán mới. Có hai phơng thức phát
hành:
Thứ nhất, Các TGTC sẽ đứng ra nhận bán hộ các lô chứng khoán, sau khi
bán xong dù hết CK hay không thì các công ty phát hành vẫn phải thanh toán cho
TGTC một khoản phí hoa hồng. Đồng thời, các TGTC sẽ không chịu trách nhiệm
mua trọn CK cha bán hết.
Thứ hai, Các TGTC sẽ mua chọn lô chứng khoán với gía thấp và bán ra với
giá cao nhằm thu đợc lợi nhuận từ khoản chênh lệch giá. Trong trờng hợp này, các
TGTC phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với nhứng CK không bán hết.
TT cấp 1 là một thị trờng nhỏ hẹp về cả quy mô lẫn giá trị CK phát hành.
Bởi vì, trên thì trờng chỉ có 3 đối tợng chính là ngời mua đầu tiên và ngời phát
trả trực tiếp. Theo nguyên tắc tín dụng, những công cụ nợ sau một thời hạn nhất
định( đã ghi trên công cụ), ngời phát hành ra công cụ nợ ấy phải có trách nhiệm
hoàn trả số tiền mà họ đã vay kèm theo phân lợi tức cho việc vay tiền. Chính vì
vậy, giá cả trên thị trờng nợ chính là lãi suất tín dụng.
2.2- Thị trờng vốn cổ phần
TT vốn cổ phần là TT mà ở đó ngời ta mua bán cổ phần(CP) của các công
ty cổ phần(CT CP) biểu hiện ở sự mua bán cổ phiếu của các CT CP.
CP là những phần vốn bằng nhau đợc chia ra từ vốn điều lệ của doanh
nghiệp. Những giấy tờ xác nhận quyền sở hữu CP là cổ phiếu. Ngời sở hữu cổ
phiếu là cổ đông. Cổ phiếu thờng không có kỳ hạn do vậy ngời phát hành ra nó sẽ
không chịu trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho ngời mua cổ phiếu trừ 2 trờng hợp:
11
khi công ty hết hạn hoạt động và khi công ty phá sản. Trong cả hai trờng hợp này,
các cổ đông chỉ đợc hoàn vốn sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ.
Để thu hồi lại tiền các cổ đông có thể bán lại cổ phiếu trên TT theo giá TT.
Giá TT đợc xác định theo công thức:
Giá thị trờng = (Thu nhập do cổ phiếu mang lại) / ( lãi suất ngân hàng)
Nh vậy, thị giá cổ phiếu không chỉ phụ thuộc vào lãi suất ngân hàng mà còn
phụ thuộc chủ yếu vào thu nhâp do cổ phiếu mang lại. Do đó, kêt squả hoạt động
của CT sẽ quyết định giá TT của cổ phiếu. Tuy nhiên, khi còn giữ cổ phiếu trong
tay tất cả các cổ đông đều có quyền tham gia quyết định hoạt động của công ty
thông qua đại hôi cổ đông.
3-/ TTTC gồm TT vốn và TT tiền tệ
3.1- Thị trờng vốn
Thị trờng vốn là TT mà ở đó ngòi ta mua bán các công cụ nợ trung hạn,
dài hạn và các cổ phiếu của CT CP.
TT vốn gồm bốn bộ phận:TTcổ phiếu, TT các khoản cho vay cầm cố, TT
trái phiếu của các công ty và TT trái phiếu chính phủ ngắn hạn.
trớc tiên, TTcổ phiếu chiếm một bộ phận rất lớn trong TT vốn. 35% lợng cổ
phiếu trên thị trơng do các cá nhân sở hữu và họ mua bán vôứi nhau mỗi ngày. Số
giới: môi giới trung gian và thơng gia CK.
Môi giới trung gian là ngời môi giới mua bán CK cho khách hàng để hởng
hoa hồng.
Thơng gia CK là những ngời trung gian mua bán CK không phải cho khách
hàng mà cho bản thân mình để hởng lợi từ chênh lệch giá mua bán CK.
Để đảm bảo cho TT diễn ra theo nguyên tắc và t;uân thủ những quy định
của pháp luật, buộc các nhà môi giới phải tập trung lại và chịu sự quản lý của một
hiệp hội. Thông thờng hiệp hội đó là những công ty CK và tồn tại dới hình thức
CTCP.
2-/ Nguyên tắc đấu giá
Việc định giá trên thị trờng chủ yếu do các nhà môi giới quyết định. Mỗi
nhà môi giới định giá theo thời điểm, theo phán đoán và theo tác động qua lại của
cung cầu CK trên TT. Việc định giá sẽ đợc thực hiện qua việc đấu giá CK giữa ng-
ời bán và ngời môi giới, giữa ngời môi giới này và ngời môi giới khác. Sau mỗi
13
cuộc đấu giá CK sẽ đợc bán cho ai mua đợc với giá cao nhất. Do vậy, giá CK sẽ
không chịu sự tác động của bất kì cá nhân nào. Đó cũng là lý do mà ngời ta thờng
gọi TTCK là một thị trờng cạnh tranh tự do.
3-/ Nguyên tắc công khai
Tất cả mọi hoạt động mua bán, trao đổi hay giao dịch trên thị trờng đều
phải đợc thực hiện công khai. Các kết quả hoạt động cùng với những báo cáo về
tình hình tài chính của các công ty có cổ phiếu đợc niêm yết trên TTCK thì đều đ-
ợc thông báo công khai. Số lợng và giá cả của các loại CK đợc đa lên bảng điện tử.
Nói tóm lại, trên mỗi TTCK ở mỗi nớc khác nhau lại có những nguyên tắc
hoạt động khác nhau tuỳ theo tập quán và thông lệ buôn bán cùa mỗi nớc. Tuy
nhiên, những nguyên tắc trên là nhứng nguyên tắc cơ bản mà bất kì TTCK nào
trên thế giới đều phải tuân thủ. Nhà nớc sẽ bảo vệ những nguyên tắc đó thông qua
những quy định và thể chế pháp luật.
VI-/ Hàng hoá trên TTCK
Bất kì một thị trờng nào trong nền kinh tế TT đều cần phải có hành hoá để
ty hoạt động có hiệu quả, những cổ đông này lại là những ngời đợc lợi nhiều nhất
vì họ đợc hởng phần lớn lợi nhuận của công ty.
Hai là, các cổ đông có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp và sở hữu
những tài sản pháp định. Quyền tham gia vào quản lý DN thể hiện qua Đại hội cổ
đông và thông qua việc bỏ phiếu quyết định mọi vấn đề đợc đa ra và quyết định
bầu lãnh đạo công ty.
Ba là, các cổ đông có quyền đợc biết những thômh tin cần thiết về tình hình
hoạt động và kết quả SXKD của công ty. Nếu công ty phát hành một đợt cổ phiếu
mới, những cổ đông này có quyền u tiên trong việc mua cổ phiếu với một lợng t-
ơng ứng với lợng cổ phiếu mà họ nắm giữ và vơí giá thấp hơn so với giá thị trờng.
1.2- Cổ phiếu u đãi
Cổ phiếu u đãi cũng giống nh cổ phiếu thông thớng song cũng có mốt số
hạn chế nhất định nh ngời sở hữu cổ phiếu không đợc tham gia bầu cử hoặc ứng cử
vào HĐQT hay ban kiểm soát công ty. Họ đợc hởng những u đãi về tài chính nhất
định. Mức lợi tức của những CP loại này thờng cố định qua các chu kỳ sản xuất
15
kinh doanh và đợc chia trớc những CP thông thờng. Nếu công ty bị phá sản họ sẽ
đợc u tiên hơn. Do lợi tức của CP u đãi là cố định nện giá TT của nó hầu nh không
biến động hoặc biến động rất ít. Tuy vậy, lợi tức của CP u đãi vẫn lớn hơn so với
lãi suất tín dụng, lợi tức trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty vì khi công ty phá
sản họ đợc u tiên thanh toán nh nhứng chủ nợ.
2-/ Trái phiếu
Trái phiếu là một giấy tờ ghi nợ phát sinh trong quan hệ tín dụng, chứng
nhận ngời sở hữu là chủ nợ của ngời phát hành ra TP.
Nh vậy, CP là một CK nợ. Ngời mua trái phiếu là trái chủ, là chủ nợ của tổ
chức phát hành. Sau một thời gian nhất định đợc ghi trên TP, trái chủ đợc cơ quan
phát hành hoàn trả vốn theo mệnh giá kèm theo một khoản lợi tức. Trên thị trờng,
giá trái phiếu bị ảnh hởng bởi lãi suất tín dụng, ngoài ra có thể là lạm phát hoặc sự
thay đổi trong chính sách tiền tệ của NHTW. Có nhiều tiêu thức để phân loại trái
phiếu tuỳ theo những căn cứ khác nhau.
trong kỳ trớc.
-Tình hình giá cả của CP hoặc TP của công ty trên TT.
-Lãi suất Ngân hàng.
-Tính chất của dự án đầu t.
-Những quyết định trong nội bộ công ty.
Trên TTCK ngoài CP và TP công ty còn có một loại hàng hoá quan trọng
khác xuất hiện ở hầu hết các TTCK trên thế giới, ở Việt Nam loại CK này là một
hàng hoá đầu tiên đợc giao dịch trên TTCK trong tơng lai, đó là trái phiếu CP.
TP Chính phủ & Chính quyền địa phơng là loại trái phiếu do Chính phủ
hay Chính quyền địa phơng phát hành và đợc đảm bảo chi trả bằng Ngân sách.
Mục đích của việc huy động các khoản vốn này là nhằm bù đắp cho thâm hụt và
cân bằng thu chi Ngân sách. Sử dụng công cụ phát hành trái phiếu nhà nớc có thể
bù đắp thâm hụt Ngân sách mà không phải phát hành tiền, gây ra ảnh hởng tiêu
cực đến giá trị tiền lu hành. Những khoản nợ này, sau một kì hạn, sẽ đợc CP sử
dụng NS quốc gia để thanh toán.
17
Một đặc điểm dễ thấy mà nhiều ngời rất thĩch mua TP CP đó là loại trái
phiếu này có độ rủi ro bằng không do nhà nớc luôn đảm bảo chi trả khi trái phiếu
đáo hạn. Thêm vào đó, trái chủ không phải nộp bất cứ một khoản thuế nào.
Xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ các loại TP đợc phát hành ra
TT rất phong phú và đa dạng.
Trái phiếu ngắn hạn (dới một năm) là loại TP đợc phát hành để bù đắp sự
thiếu hụt NS tạm thời trong thời gian ngắn, khi thu NS cha kịp đủ để đáp ứng chi.
Nh vậy, sau khi thu đợc Ngân sách Nhà nớc sẽ sử dụng NS để thanh toán cho
những TP này.
Trái phiếu trung hạn (từ 1 năm đến 9 năm) là loạt TP đợc phát hành để sử
dụng cho mục đích đầu t trung hạn. Thông thờng Nhà nớc sẽ trả lãi mỗi năm hai
kỳ với lãi suất lớn hơn loại ngắn hạn. Đây là nguồn huy động vốn ổn định cho nhà
nớc để đầu t cho các công trình cơ sở hạ tầng.
Trái phiếu dài hạn (từ 10 năm trở lên) là loại TP huy động để đầu t vào
rất lớn. Trong nền kinh tế đang còn tồn tại nhiều nghịch lý. Trong khi các tổ chức
kinh doanh đang cần vốn thì trong các ngân hàng và một số doanh nghiệp khác
vốn bị ứ đọng không giải ngân đợc. Bên cạnh đó, trong dân c vẫn phổ biến tâm lý
giữ tiền mặt, cha mạnh dạn đầu t. Các NHTM có xu hớng thắt chặt tín dụng nên
cha hạ đợc lãi suất. Xã hội cần các kênh giải ngân mà chúng ta cha có. Nh vậy,
TTCK là một hớng khả dĩ để tích tụ, tập trung vốn, đẩy nhanh quá trình CNH-
HĐH. Có nhiều nhà kinh tế cho rằng: "TTCK có thể tạo ra những CTCP mà cổ
đông là những bà nội trợ tiết kiệm tiền đi chợ".
19
chơng II
thực trạng về việc chuẩn bị hàng hoá cho
thị trờng chứng khoán ở Việt nam
Từ những phân tích và tính tất yếu phải hình thành TTCK ở Việt Nam,
chúng ta có thể thấy TTCK ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần thiết hơn bao
giờ hết. Để chuẩn bị cho ra đời một TTCK hoàn chỉnh, đòi hỏi chúng ta phải nỗ
lực tạo mọi điều kiện ban đầu. Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về điều kiện tiền
đề để thành lập TTCK ở Việt Nam nhng nhìn chung thống nhất ở những điểm sau:
ổn định kinh tế-chính trị-xã hội; kiểm soát đợc lạm phát; chuẩn bị đầy đủ hàng
hoá khả mại cho TTCK, đội ngũ nhân viên, khung pháp lý, cơ sở hạ tầng thông
tin... Có thể nói hàng hóa chứng khoán là yếu tố quan trọng hàng đầu, nó quyết
định cơ chế hoạt động và các chủ thể tham gia TTCK.
Để hiểu thêm về hàng hoá trên TTCk, chúng ta đi sâu xem xét thực trạng
hàng hoá chứng khoán ở VIệt Nam trong thời gian gần đây.
I-/ thực trạng tiến trình cổ phần hoá ở Việt Nam.
TTCK có rất nhiều loại hàng hoá nh: cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái
phiếu công ty, thơng phiếu, hối phiếu, công trái... Trong đó cổ phiếu và trái phiếu
là 2 hàng hoá chính. Trong phần này, bài viết sẽ tiếp cận về thực trạng cổ phiếu.
Có nhiều giải pháp tạo ra cổ phiếu trên thị trờng, tạo điều kiện thành lập các công
ty cổ phần t nhân. Nhng hiện nay giải pháp quan trọng nhất đợc Đảng và Nhà nớc
ta coi trọng là cổ phần hoá (CPH) các doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN).
Ngoài Nhà nớc nắm phần lớn số cổ phần còn một bộ phận khác cũng nắm
giữ không ít là: ngời lao động, t bản ( 42%-42,86%). Số cổ phần còn lại do những
cổ đông ngoài xí nghiệp nắm giữ, t bản chiếm từ 19%-20%. Điều này chứng tỏ
hiệu quả huy động vốn trong dân của công tác CPH là đáng kể.
21
Để hỗ trợ và giám sát công tác CPH, trong thời gian này các cấp, các ngành
đã tăng cờng bổ sung đội ngũ cán bộ vào ban chỉ đạo CPH, kiện toàn và thành lập
các ban chỉ đạo CPH ở địa phơng. trong quá trình thực hiện CPH 31/61 địa phơng
đã thành lập ban chỉ đạo CPH, các địa phơng còn lại do ban đổi mới doanh nghiệp
kiểm nghiệm hoặc giao cho một số chuyên viên giúp việc. Về phía các bộ, ngành,
các tổng công ty đã có 16 đơn vị thành lập ban chỉ đạo CPH DNNN. Mặc dù vậy,
việc thành lập các ban chỉ đạo diễn ra còn rất chậm và cha có kế hoạch triển khai
cụ thể.
Tiến hành song song với việc thành lập ban chỉ đạo, một số Bộ, ngành và
địa phơng đã chú trọng đến công tác tuyên truyền, hớng dẫn, giải thích cho các
cán bộ và ngời lao động hiểu về chủ trơng CPH của Đảng và Nhà nớc. Thực tế tiến
trình CPH đã cho thấy công tác tuyên truyền rất quan trọng. Song bên cạnh đó vẫn
còn một số Bộ, ngành cha quan tâm đến công tác tuyên truyền chủ trơng này cho
các cán bộ và ngời lao động. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm
tốc độ của tiến trình CPH.
1.3- Giai đoạn 3:
Trong giai đoạn này, rút kinh nghiệm từ thực tiễn thực hiện trong các giai
đoạn trớc, Chính phủ ban hành NĐ 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 về việc CPH
DNNN thay thế cho NĐ 28 CP trớc đây. Trong NĐ này, những vấn đề về pháp lý,
thủ tục triển khai CPH, đối tợng áp dụng, phân công trách nhiệm về cơ bản đã đợc
tháo gỡ. Bên cạnh đó NĐ cũng mở rộng thêm đối tợng và hình thức CPH, phơng
pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá thị trờng, bảo đảm quyền lợi cho ngời
lao động và có những chính sách u đãi hơn cho các doanh nghiệp CPH...
Ngoài việc ban hành các văn bản quy định rõ hơn về công tác CPH, thủ t-
ớng Chính phủ đã ra quyết định thành lập ban chỉ đạo mới quản lý DNNN, giúp
và Thế giới,vì vậy chúng ta có điều kiện để tiếp thu những kinh nghiệm và bài học
rút ra từ những thành công cũng nh thất bại của các nớc đã CPH.
23
Thứ ba, thực tiễn và hoạt động của các DNNN từ những năm 1992 đến nay
đều làm tăng kết quả kinh doanh, tăng lao động và tăng nguồn thu cho Ngân sách
Nhà nớc (NSNN).
Bên cạnh những thuận lợi to lớn đã nêu trên, tiến trình CPH cồn tồn tại
những mặt khó khăn nhất định trong công tác thực hiện. Biểu hiện rõ nhất là trong
thời gian qua tiến trình CPH đã diễn ra quá chậm so với tiến trình đã đề ra. Trên
thực tế, mặc dù đã qua 9 năm triển khai chủ trơng CPH (1990-1999), nhng cả nớc
mới CPH đợc 168 DNNN. Những văn bản Pháp luật về CPH đã đợc ban hành từ
năm 1992 nhng đến hết năm 1996 mới tiến hành đợc 11 DNNN, mục tiêu 2 năm
97-98 là 150 DNNN, nhng đến hết năm 1997 mới CPH đợc thêm 4 doanh nghiệp,
6 tháng đầu năm 1998 là 14 doanh nghiệp. Nh vậy thì con số 168/5756 DNNN so
với mục tiêu chúng ta đặt ra: 20% DN CPH trớc năm 2000 quả là còn rất ít ỏi. Vậy
do đâu mà tiến trình CPH ở Việt Nam lại chậm trễ đến vậy?
Có rất nhiều nguyên do nhng tựu trung lại có 6 khó khăn cơ bản sau:
2.1- Về mặt nhận thức, t tởng còn nhiều hạn chế, các cấp các ngành
quản lý, các doanh nghiệp và bản thân ngời lao động trong doanh
còn có tâm lý e ngại CPH.
Về phía các cấp lãnh đạo tâm lý e ngại này còn thể hiện ở chỗ các địa ph-
ơng, cơ sở cha sốt sắng làm hết công việc đợc giao, cha chú ý đúng mức đến việc
thành lập và đôn đốc các ban CPH. Nguyên do của những e ngại này xuất phát từ
lợi ích cục bộ, cản trở tiến trình CPH. Họ sợ rằng sau khi CPH họ mất quyền quản
lý và lợi ích. Đây là kiểu t duy chậm tiến và thiển cận. Nếu cứ tồn tại những t
duy kiểu này sẽ không đạt đợc mục tiêu nh đã định.
Về phía doanh nghiệp, ban giám đốc doanh nghiệp đang quen với chế độ cũ
nên ngại bớc vào môi trờng cạnh tranh nhiều rủi ro, e sợ sự giám sát chặt chẽ,
đồng thời CPH đòi hỏi giám đốc phải có trình độ và trách nhiệm.
Về phía ngời lao động, họ cha nắm đợc lợi ích và mục tiêu của CPH nên tồn
ty cổ phần, doanh nghiệp t nhân...) không có, chẳng hạn về vốn, kĩ thuật... Chính
vì vậy, khi chuyển sang loại hình công ty cổ phần, các DNNN sẽ mất đi những
25