Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 1 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
GII THIU
T V U
1.1.1. S cn thit c
TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 8 năm 2000 đã tạo
nên một kênh huy động vốn trực tiếp góp phần quan trọng vào công cuộc phát
triển kinh tế nước ta. Tuy nhiên, dù đã qua hơn 11 năm hoạt động, nhưng TTCK
Việt Nam vẫn còn rất non trẻ so với các thị trường chứng khoán trên thế giới như
Mỹ, Nhật, Anh,…
Vào giai đoạn bùng nổ của TTCK Việt Nam vào khoảng các năm 2006 và
2007, hầu như các NĐT đều chọn TTCK là nơi kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, cuộc
khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã làm ảnh hưởng nhiều hoạt động của các doanh
nghiệp đang niêm yết trên TTCK dẫn đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này
sụt giảm. Cuộc khủng hoảng cũng dẫn đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của NĐT
không còn như các năm trước, TTCK không còn là sự lựa chọn đầu tư hấp dẫn
của nhiều người. Các NĐT trong nước cũng như nước ngoài có xu hướng thận
trọng hơn trong quyết định đầu tư và cũng không ít NĐT không còn tha thiết với
TTCK nữa. Nhiều NĐT bỏ cuộc vì thua lỗ nặng do giá cả cổ phiếu biến động quá
lớn. Những người còn bám trụ với thị trường dường như không "tin tưởng" vào
các công ty niêm yết. Bên cạnh cuộc khủng hoảng kinh tế, một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là thực tế các NĐT vẫn chưa có đủ kiến
thức, kinh nghiệm, và điều kiện thông tin để đánh giá các công ty niêm yết từ đó
lựa chọn cổ phiếu có chất lượng để đầu tư.
TP.Cần Thơ là trung tâm của vùng ĐBSCL, có mức thu nhập trung bình
gấp đôi thu nhập trung bình của vùng. Đây là thị trường tiềm năng cho các công
ty chứng khoán muốn tìm kiếm khách hàng mới, các NĐT mới tham gia vào
TTCK. Chính vì lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh
phù hợp với thị hiếu của NĐT.
1.2.2. M th
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các
NĐT tại TP.Cần Thơ.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các
NĐT tại TP.Cần Thơ.
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm làm tăng nhu cầu đầu tư chứng
khoán của các NĐT.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 3 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
U
TTCK Việt Nam ra đời và phát triển như thế nào?
Những diễn biến chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 3 năm
gần đây như thế nào?
Các NĐT có thường xuyên theo dõi diễn biến của TTCK không?
NĐT thường tìm hiểu, cập nhật thông tin và đưa ra chiến lược đầu tư
thông qua tivi, sách báo chuyên ngành hay qua nhân môi giới của các công ty
chứng khoán? Hay có tham gia các lớp đào tạo chứng khoán ngắn hạn nào
không?
Các NĐT thường có thu nhập trung bình cao hay thấp? Kênh đầu tư chứng
khoán có dành riêng cho một đại bộ phận nghề nghiệp nào không hay tất cả tầng
lớp người đều có nhu cầu đầu tư chứng khoán?
Đa số các NĐT chứng khoán thuộc nhóm người nào nếu phân loại NĐT
theo mức độ yêu thích rủi ro?
Những yếu tố nào tác động đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của NĐT?
1.4. PHU
1.4.1. Ph
Đề tài nghiên cứu về nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 5 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
U
N
2.1.1. Nhu cu
Nhu cầu là mong muốn có được sản phẩm cụ thể dựa trên khả năng mua
và thái độ sẵn lòng mua. Nhu cầu được thể hiện cụ thể bằng sức mua.
Ở đây, nhu cầu được hiểu là sự sẵn sàng chi trả cho mong muốn đầu tư
TTCK tập trung hoạt động theo đúng qui định của pháp luật.
trng chng khon bn tp trung (OTC Over the counter)
Là TTCK bậc cao. Ở đó việc giao dịch chứng khoán được thực hiện thông
qua hệ thống máy vi tính nối mạng internet giữa các thành viên của thị trường –
đó là thị trường OTC.
trng chng khon phi tp trung (th trng trao tay t do)
Còn gọi là thị trường thứ 3, là hoạt động mua bán chứng khoán tự do,
phân tán không qua sở giao dịch và cũng không qua OTC.
2.1.4. Ch s gi chng kho
Chỉ số chứng khoán là số bình quân giá của các loại chứng khoán (cổ
phiếu) giao dịch trên thị trường tại một thời điểm. Các loại chứng khoán được
chọn để tính chỉ số, tùy thuộc mỗi loại chỉ số có cách lựa chọn khác nhau.
Hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam có 2 chỉ số giá chứng khoán là
chỉ số VN-Index (sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM) và HNX-Index (sàn
giao dịch chứng khoán Hà Nội).
Trong giới hạn nội dung của đề tài nghiên cứu này, chúng ta chỉ tìm hiểu
về chỉ số VN-Index (sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM).
2.1.5. Blue-chip
Blue-chips nhằm chỉ cố phiếu các công ty lớn nhất, và có khả năng sinh
lợi ổn định nhất. Tuy nhiên danh sách các cổ phiếu thuộc nhóm blue chip không
có tính chất chính thức và danh sách này vẫn có thay đổi.
Một số blue-chip trên TTCK hiện nay như: FPT, Sacombank (STB), SJS,
Dược Hậu Giang (DHG),….
2.1.6. H s ICOR
ICOR được tính bằng công thức sau: ICOR = (K
t
-K
t-1
) / (Y
t
mối quan hệ thân hơn so với quan hệ xã giao thông thường.
- Có người thân/quen làm việc tại công ty chứng khoán: Đối tượng người
thân/quen được hiểu giống biến kể trên. Tuy nhiên, tại biến này, người nghiên
cứu kỳ vọng những người thân/quen đang làm việc tại công ty chứng khoán sẽ
tạo nên một sự tin tưởng cao hơn, đáng tin cậy hơn và sẽ dễ là cầu nối hơn cho
NĐT và TTCK so với biến trên.
- Nghề nghiệp: nghề nghiệp của các đáp viên có ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư
chứng khoán của họ hay không.
- Nhóm NĐT phân theo mức độ rủi ro: Phân loại NĐT theo mức độ rủi ro có 3
mức độ:
+ NĐT thích mạo hiểm (risk lover): đây là nhóm NĐT thích những loại
hình đầu tư thật mạo hiểm nhưng sẽ thu lại được mức lợi nhuận thật cao.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 8 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
+ NĐT trung lập (risk neutral): nhóm NĐT không thích quá mạo hiểm
nhưng chấp nhận mức rủi ro trung bình.
+ NĐT thích an toàn (risk averse): nhóm NĐT yêu thích sự an toàn trong
đầu tư với mức rủi ro gần như bằng 0.
- Thu nhập: thu nhập có ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư không. Trong bài
nghiên cứu này, các mức thu nhập được đưa ra dựa vào thu nhập của Luật thuế
Thu Nhập Cá Nhân được áp dụng bắt đầu từ ngày 01/01/2009.
U
u
Do Tp.Cần Thơ là trung tâm của ĐBSCL, là nơi tập trung đông đúc các
thành phần trí thức, cơ sở hạng tầng và đa số các cơ quan hành chính đầu não của
vùng. Vì vậy, tôi chọn TP.Cần Thơ là vùng nghiên cứu đề tài của mình.
p s liu
2.2.2.1. Số liệu
S liu th cp: Thu thập số liệu từ các trang web của các công ty chứng
liu
M: Sử dụng phương pháp phân phỏng vấn các chuyên gia trong
lĩnh vực chứng khoán bằng thang đo Likert 5 mức độ để xác định các nhân tố ảnh
hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ.
Đây là hình thức đo lường được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu
kinh tế xã hội, được Rennis Likert giới thiệu vào năm 1932. Thang đo 5 mức độ
cũng có thể trở thành 3 hay 7 mức độ và đồng ý hay không đồng ý, và cũng có
thể trở thành chấp nhận hay không chấp nhận, có thiện ý hay phản đổi, tuyệt vời
hay tồi tệ…. nhưng quy tắc là như nhau. Tất cả đều được gọi là thang đo Likert.
Trong bài nghiên cứu này, thang đo Likert được sử dụng ở 5 mức độ từ
“Rất không có ảnh hưởng” đến “Rất có ảnh hưởng”.
M2: Phương pháp hồi quy probit nhị nguyên để xác định nhân tố
ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT: áp dụng khi ta muốn
dự đoán việc xuất hiện hay không xuất hiện của một đặc tính hay một kết quả,
dựa trên số liệu đã biết của một số biến mô tả nào đó.
Cụ thể trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng hàm hồi quy probit trong
chương trình Stata 9.2 để xác định sự phụ thuộc của biến phụ thuộc (Y) vào các
biến độc lập (X
n
) là tương quan thuận hay nghịch.
Sử dụng lệnh “Statistics < Binary outcomes < Postestimation <
Classification statistics after probit” trong chương trình Stata 9.2 để đánh giá mô
hình nghiên cứu được giải thích bao nhiêu phần trăm tại mức ý nghĩa 5%.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 10 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
Sử dụng lệnh báo cáo hiệu ứng biên “dprobit” để cho biết độ lớn của sự
phụ thuộc của biến phụ thuộc (Y) vào các biến độc lập (X
n
Phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến nhu cầu đầu tư
chứng khoán của các NĐT
tại TP.Cần Thơ
Giải pháp
probit
dprobit
Dữ liệu sơ cấp
Bộ số liệu
Kiểm định mối quan hệ giữa các
yếu tố ảnh hưởng và nhu cầu đầu tư
chứng khoán của các NĐT tại
TP.Cần Thơ
Xác định thông tin
chung của đáp viên
Thống kê
mô tả
Thống kê
mô tả
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 11 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
2.3. HN CH CA T
Chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện (nghĩa là người phỏng vấn đi đến địa
điểm mà khả năng xuất hiện của đối tượng nghiên cứu là rất cao) mà cụ thể trong
trường hợp này là các công ty chứng khoán và các công ty có cổ phiếu niêm yết
trên TTCK, hầu như nhân viên của các công ty này đều đang tham gia vào
TTCK. Do đó, sẽ có một số ngành nghề chiếm tỷ lệ nhiều hơn và thu nhập trung
NG CHT NAM
T 2010
3.1. GII THIU TNG QUAN V TP.C
3.1.1. V
Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, phía
Tây sông Hậu, phía Bắc giáp An Giang, phía Nam giáp Hậu Giang, phía Tây
giáp Kiên Giang, phía Đông giáp Vĩnh Long và Đồng Tháp.
Diện tích tự nhiên: 1.401km
2
. Trong đó, quận Ninh Kiều 29 km
2
; quận
Bình Thủy 71 km
2
; quận Cái Răng 69 km
2
; quận Ô Môn 127 km
2
; huyện Phong
Điền 124 km
2
; huyện Cờ Đỏ 310 km
2
; quận Thốt Nốt 118 km
2
; huyện Vĩnh
Thạnh 297 km
2
, huyện Thới Lai 256 km
1. B Cn Th
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 14 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
3.1.2 - ng
Dân số TP.Cần Thơ năm 2009 là 1.189.555 người, trong đó, nam:
597.357, nữ: 592.198. Người kinh: 1.132.243; Hoa: 16.861; Khơme: 21.279; các
dân tộc khác: 686 người. Khu vực thành thị: 610.378 người, nông thôn: 560.691
người.
Mật độ dân số trung bình ở các quận: dân số tập trung nhất tại quận Ninh
Kiều với 8.416 người/km
2
. Các quận có mật độ dân số thấp là: Ô Môn 1.026
người/km
2
, Cái Răng 1.568 người/km
2
, Bình Thủy 1.568 người/km
2
)
Quận Ninh Kiều 29 244.065 8.416 158.056
Quận Ô Môn 127 130.274 1.026 82.116
Quận Bình Thủy 71 111.306 1.568 71.625
Quận Cái Răng 69 86.328 1.251 55.888
Quận Thốt Nốt 118 159.461 1.351 100.422
Huyện Vĩnh Thạnh 297 112.888 380 70.927
Huyện Cờ Đỏ 310 124.245 401 77.844
Huyện Phong Điền 124 99.667 804 65.375
Huyện Thới Lai 256 121.321 474 76.265
1.401 1.189.555 758.518
(Nguồn : Niên giám thống kế TP. Cần Thơ 2009) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 15 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
3.1.3. Kinh t - thu nhp
Trong những năm gần đây, kinh tế Cần Thơ có những bước tăng trưởng
đáng kể, một trong những nguyên nhân chính của sự tăng trưởng này là do sự thu
hút đầu tư có hiệu quả của thành phố, xác định trọng tâm vào việc xây dựng cơ
sở hạ tầng, công nghiệp, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo,
viễn thông và ngân hàng….
Thành phố Cần Thơ được xem là điểm nhấn của thời kỳ đổi mới ở vùng
ÐBSCL. Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, Cần Thơ đã chuyển từ kinh tế
thuần nông sang nền kinh tế hàng hóa và đang chuyển dịch sang sản xuất công
nghiệp và dịch vụ; tập quán làm ăn của người dân đã được thay đổi. Cách
nghĩ,cách làm đang chuyển sang sản xuất - kinh doanh tổng hợp trên một đơn vị
hiện đại hoá và kế hoạch hội nhiệp vào khu vực và thế giới nên việc thành lập
một TTCK là không thể thiếu. Do đó, những năm đầu của thập niên 90 của thế
kỷ XX, các mục tiêu xây dựng và phát triển TTCK đã được Đảng và chính phủ
đề ra với sự phối hợp của nhiều cơ quan Nhà nước, các cơ quan nghiên cứu…
Ngày 06/11/1993, ban nghiên cứu xây dựng thị trường vốn thuộc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam ra đời theo quyết định số 207/QĐ-TCCb của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước nhằm xây dựng các đề án, mô hình, đào tạo cán bộ,
nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển để tiến tới thành lập Ban soạn
thảo pháp lệnh về chứng khoán và TTCK nhằm tiếp tục phối hợp nghiên cứu với
Ban nghiên cứu xây dựng thị trường vốn.
Ngày 29/06/1995, theo quyết định số 361-QĐ/TTG của Thủ tướng Chính
phủ, Ban chuẩn bị tổ chức TTCK ra đời nhằm chuẩn bị các điền kiện cần thiết
cho sự hoạt động của TTCK Việt Nam như các văn bản pháp luật về chứng
khoán, thành lập Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, chuẩn bị đội ngũ cán bộ,
nghiên cứu hợp tác với các nước đi trước để học tập kinh nghiệm. Với một sự
chuẩn bị kỹ càng của Nhà nước cũng như các tổ chức, ngày 20/07/2000, TTCK
Việt Nam chính thức ra đời với phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000.
th tham gia TTCK Vit Nam
● Nh ph hnh
Chính phủ: Phát hành các loại tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, công
trái xây dựng tổ quốc và trái phiếu đầu tư do Quỹ hỗ trợ đầu tư phát hành nhằm
huy động nguồn vốn trung và dài hạn nhằm phục vụ cho các dự án đầu tư lớn
mang tính chất quốc gia như trái phiếu giáo dục,…
Công ty cổ phần: Phát hành các loại cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty để
huy động nguồn vốn dài hạn nhằm cung cấp nguồn vốn cho các dự án đầu tư, xây
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 17 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị nâng cao năng lực sản xuất trong
phạm vi của công ty cổ phần.
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 18 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
phiếu trong một thời gian nhất định (phiên giao dịch, ngày giao dịch) của các
công ty niêm yết tại trung tâm này được gọi là VN-Index.
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động như một
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhà nước với số vốn điều lệ là một
nghìn tỷ đồng. Hiện nay các sở giao dịch chứng khoán trên thế giới thường hoạt
động dưới dạng công ty cổ phần.
Tên tiếng Anh của sở giao dịch này là Ho Chi Minh Stock Exchange, viết
tắt là HOSE.
3.2.3.2. TTCK i
Sở GDCK Hà Nội tiền thân là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
(TTGDCKHN), được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTG ngày
11/7/1998, chính thức đi vào hoạt động từ 08/03/2005.
Tên gọi đầy đủ: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế: Hanoi Stock Exchange (HNX).
Thành viên gồm các công ty CK được UBCKNN cấp phép hoạt động.
3.2.3.3. TTCK Upcom
Thị trường Upcom bắt đầu hoạt động vào ngày 24-6-2009, đây là thị
trường cổ phiếu của các công ty đại chúng chưa niêm yết, là sơ khai của thị
trường OTC.
Do Upcom mới thành lập nên vẫn còn gặp nhiều khó khăn; nhiều nhà đầu
tư không chú ý đến phương thức giao dịch của Upcom, họ chỉ quan tâm đến thị
trường OTC.
3.2.3.4. TTCK OTC
Thị trường OTC là thị trường phân tán, giao dịch nằm ở các CTCK hoặc
quầy của các ngân hàng và sau đó chuyển về một hệ thống thống nhất.
Thị trường OTC không có địa điểm giao dịch chính thức, thay vào đó các
nhà môi giới kết nối các giao dịch qua mạng máy tính diện rộng giữa các CTCK
và trung tâm quản lý hệ thống.
điểm hai tháng đầu năm 2009. Một chu kì mới của thị trường đã bắt đầu từ tháng
3 năm 2009, thị trường đã phục hồi rất khả quan kéo dài đến giữa tháng 10. 2. TTCK Vit Nam t
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 20 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
Tuy nhiên, xu hướng tăng sau đó đã bị phá vỡ, thị trường đi vào giai đoạn
không xu hướng với nhiều thông tin không tốt cho thị trường được công bố trong
năm 2010.
n bin TTCK Vi
TTCK Việt Nam ở giai đoạn cuối năm 2008 có sự sụt giảm mạnh cùng xu
thế chung của nền kinh tế.
Nhìn lại thị trường sau 1 năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị
trường: Index giảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã
chứng khoán rơi xuống dưới mệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của
khối ngoại, sự can thiệp của các cơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lý
các NĐT. TTCK Việt Nam năm 2008 trãi qua 3 giai đoạn chính.
● Giai đoạn 1: từ tháng 1 đến tháng 6 – thị trường giảm mạnh. Với 921,07
điểm tại thời điểm đầu năm, VN-Index đã mất đi gần 60% giá trị tính cho tới
cuối giai đoạn này.
Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đầu tư trong giai đoạn này chủ
yếu xuất phát từ nội tại nền kinh tế. Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát,
chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức ép
hạn chế cho vay từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK.
Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải can
thiệp vào thị trường bằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008. Trong
năm 2008, UBCKNN đã có 2 lần thay đổi biên độ dao động giá trên TTCK (tổng
cộng thay đổi 4 lần biên độ giao dịch cho cả 2 sàn HOSE và HASTC).
xuyên ở mức cao. VNIndex tăng được 168,55 điểm, tương đương 45,52%. Khối
lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ, tương đương
599,18 tỷ đồng/phiên.
● Giai đoạn 3: tháng 09 tới tháng 12 – Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm
do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Đây là thời kỳ VN-Index rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ
đáy thiết lập được trong giai đoạn đầu của năm 2008. Tổng kết cả giai đoạn này,
VN-Index mất 223,48 điểm, tương đương 41,45%.
Nguyên nhân tác động lớn nhất tới TTCK trong giai đoạn này chính là sự
lan tỏa mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới. Hòa cùng xu thế
giảm điểm của TTCK các nước HoSE liên tiếp giảm điểm.
Cùng với nỗ lực giải cứu nền kinh tế của Chính phủ và động thái từ
NHNN, xen lẫn giữa những phiên giảm điểm, TTCK Việt Nam vẫn có những
phiên phục hồi mạnh. Tuy nhiên, các phiên tăng điểm này của thị trường thường
rất ngắn và không ổn định.
Một trong những đề tài được báo chí viết nhiều trong những tháng cuối
năm là phong trào trả cổ tức bằng tiền mặt của các công ty niêm yết.
Đến tháng 12/2008, những dấu hiệu về khả năng nhà đầu tư nước ngoài
rút vốn ra khỏi thị trường chứng khoán cũng bắt đầu xuất hiện, thể hiện qua việc
bán ròng của khối ngoại trong những tháng cuối năm. Giải pháp tài chính kịp
thời trong những tháng cuối gia đoạn này được thực hiện thông qua việc điều
chỉnh giảm lãi suất cơ bản nhằm kích cầu sản xuất tiêu dùng, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp tiếp cận vay vốn một cách dễ dàng hơn, đồng thời giảm áp lực
tín dụng cho các ngân hàng thương mại.
n bin TTCK Vi
Năm 2009 là năm đầy sóng gió của TTCK Việt Nam đi tạo dáy ở mức 235
điểm, thấp nhất từ khi có TTCK. Tuy nhiên, nhờ những nổ lực kích thích kinh tế
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 23 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
Các trung tâm kinh tế lớn của thế giới cũng lần lượt khẳng định sự phục
hồi, đặc biệt một số quốc gia tại Châu Á và Trung quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng
cao đã giúp thị trường chứng khoán thế giới thực sự khởi sắc và lấy lại được
những đỉnh cao trước thời điểm suy thoái.
Trong nước, các doanh nghiệp mặc dù có tốc độ tăng trưởng doanh thu
không cao, nhưng nhờ tận dụng được cơ hội chí phí vốn thấp, nguyên liệu đầu
vào rẻ cũng như những chính sách hỗ trợ về thuế nên đạt tốc độ tăng trưởng lợi
nhuận rất lớn, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng doanh thu.
Đây chính là cơ sở khá vững chắc để TTCK tiếp tục đợt tăng giá lần 2 đầy
mạnh mẽ với những kỷ lục về giá trị và khối lượng liên tiếp được xác lập, đỉnh
cao của VN-Index là 633 điểm vào thời điểm cuối tháng 10.
● Giai đoạn 4: từ tháng 11 đến tháng 12 - giảm điểm và tăng trưởng thận
trọng.
Chính sách kích thích kinh tế mặc dù đã phát huy được tác dụng chính là
ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra tác dụng phụ và
tiềm ẩn một số nguy cơ. Cụ thể nó đã kích thích mạnh vào tăng trưởng tín dụng
trong 10 tháng đầu năm 2009, có vẻ đã tăng quá mức cần thiết và vượt quá khả
năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
Đã có lúc chỉ số ICOR năm 2009 bằng 8 - là mức cao nhất từ trước tới
nay. Điều này cũng có nghĩa là hiệu quả đầu tư đạt thấp, tiềm ẩn nhiều hệ lụy cho
nền kinh tế mà trước mắt là nguy cơ tái bùng nổ lạm phát trong năm 2010.
Ngoài ra, sự mạnh tay trong chính sách tài khóa đã khiến ngân sách nhà
nước rơi vào tình trạng thâm hụt. Trước thực trạng đó, NHNN đã bất ngờ thực
hiện nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% sau khi đã cam kết ổn định chính sách
tiền tệ đến hết năm 2009. Mặc dù các chính sách này có tác động tích cực cho
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT tại TP.Cần Thơ
GVHD: ThS Đoàn Thị Cẩm Vân Trang 25 SVTH: Nguyễn Ngọc Lan Uyên
nền kinh tế trong trung và dài hạn, nhưng điều này đã gây sốc cho cả doanh
nghiệp và nhà đầu tư trên TTCK, những mầm mống khó khăn trong thanh khoản