Sáng Kiến Kinh Nghiệm
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài :
Phương pháp dạy học bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự
thành cơng hay thất bại của một tiết học, vấn đề quan trọng là người giáo viên phải
biết vận dụng phương pháp sao cho hợp lí để mang lại hiệu quả cao trong hoạt động
dạy và học. Trong u cầu giáo dục hiện nay đòi hỏi phải tạo ra những con người có
sự phát triển tồn diện , vì vậy mơn lịch sử cũng có vai trò và nhiệm vụ khơng kém
quan trọng.
Bộ mơn lịch sử được coi như là một cuốn vở khơng có trang cuối, ghi lại q
trình hình thành và phát triển của xã hội lồi người nói chung, cũng như q trình
hình thành, phát triển , đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta nói riêng. Như
chúng ta đã biết xã hội lồi người đã phát triển qua 5 hình thái xã hội tương ứng với 5
phương thức sản xuất hay còn gọi là 5 chế độ xã hội khác nhau: Từ chế độ cộng xã
ngun thủy đến chiếm hữu nơ lệ, chế độ phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cuối cùng
là chế độ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ xã hội là một bước tiến bộ của con người,
thực sự đó là một q trình lâu dài và trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử.
Nhưng tất cả đều bắt đầu từ chế độ cơng xã ngun thủy, hay nói cách khác chế độ
cơng xã ngun thủy chính là thời kì lịch sử đầu tiên của con người. Để học sinh có
hứng thú, ham học và cảm tình với mơn lịch sử thì phương pháp dạy học của người
giáo viên qua những bài học lịch sử ở thời kì này là rất quan trọng. Trên cơ sở nhũng
luận cứ, quan điểm đó tơi mạnh dạn đề xuất ý kiến của mình về việc sử dụng, kết hợp
các phương pháp đổi mới giáo dục gây hứng thú cho học sinh qua bài: “THỜI
NGUN THỦY TRÊN ĐẤT NƯỚC TA” – bài học đầu tiên của phần lịch sử Việt
Nam trong chương trình lịch sử lớp 6 hiện tại. Hy vọng những kinh nghiệm nhỏ bé
này cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm trong việc giảng dạy
bộ mơn lịch sử.
II. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài :
1. Thuận lợi :
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 1
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
người để hiểu đúng đắn về hiện tại và chuẩn bò cho tương lai. Vấn đề tồn tại khi
học lịch sử là sự kiện lịch sử nhiều làm cho người học khó nhớ, dễ nhàm chán bởi
những sự kiện xẩy ra q xa xưa so với thực tại, nhiều sự kiện xẩy ra có thực mà
chúng ta tưởng chừng như sự thực khó có thể như vậy. Nhiều khái niệm trừu tượng,
khó hiểu, xa lạ so với học sinh, trong khi đó đối tượng học sinh mà tơi đề cập ở đây là
học sinh lớp 6 còn nhỏ tuổi nên nhận thức có hạn, cũng như việc xác định động cơ,
thái độ học tập của các em đối với bộ mơn lịch sử chưa đúng so với u cầu và vị trí
của nó. Vì vậy tơi cho rằng việc áp dụng những phương pháp dạy học theo hướng
tích cực gây hứng thú cho học sinh là yếu tố quan trọng và cần thiết đối với mỗi
người giáo viên.
B. NỘI DUNG :
Trong thời gian qua nền giáo dục nước ta đang thực hiện đổi mới trong cách dạy
và học, song việc áp dụng chun đề mới vào giảng dạy lịch sử là vấn đề tương đối
khó, khơng phải dĩ nhiên đơn thuần mà người dạy sẽ thành cơng trong một vài tiết
dạy. Chính vì vậy mà trong q trình giảng dạy đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi
phương pháp, làm quen và gọt rửa dần qua từng tiết dạy (kể cả những bài mà giáo
viên thực hiện trong nhiều lớp của một khối). Mỗi lần dạy giáo viên sẽ rút kinh
nghiệm và đưa ra những phương pháp tối ưu phù hợp cho một tiết dạy.
Năm học 2003-2004 là năm học thứ hai ngành giáo dục nước ta thực hiện chương
trình thay sách. Sau khi tiếp thu chun đề mới, tơi được phân cơng dạy mơn lịch sử
lớp 6, đó là một thuận lợi cho tơi trong việc thực nghiệm và cọ xát với việc giảng dạy
theo phương pháp mới. Năm học 2007-2008 tơi lại được phân cơng dạy lịch sử lớp 6.
Trên cơ sở những kinh nghiệm đúc rút từ mấy năm nay tơi tiếp tục tìm tòi, rút kinh
nghiệm và thực nghiệm những phương pháp mới qua từng tiết dạy, nhất là khi dạy
đến bài: THỜI NGUN THỦY TRÊN ĐẤT NƯỚC TA.
* Ở lớp 6
1
tơi cũng thực hiện đầy đủ các bước lên lớp và tiến trình của một bài dạy.
Cụ thể như sau:
khoa, sau đó tơi hướng dẫn học sinh quan sát cơng cụ ở hình 21, 22 và 23 – SGK) và
u cầu học sinh so sánh. Với phương pháp này học sinh đã thấy được những cơng cụ
ở hình 23 nhỏ hơn, có lỗ tra cán, có hình thù rõ ràng và gần giống với các loại rìu
ngày nay.
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 4
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Như vậy ở mục 3 học sinh cũng chỉ hiểu được sự phát triển của người tinh khơn
về việc chế tạo cơng cụ lao động mà thơi chứ chưa rút ra được cơng cụ được cải tiến
sẽ kéo theo điều gì.
Cuối giờ học tơi kiểm tra kiến thức một nhóm 6 em học sinh, trong đó có 3 em
nhắc lại được những sự kiện chính của bài và có nhiều em khơng hiểu được người tối
cổ là người như thế nào?
Căn cứ vào kết quả của một tiết dạy lịch sử như trên so với những mục tiêu của
bài dạy thì có thể nói rằng tiết dạy chỉ đạt u cầu mà thơi, chưa đi sâu, chưa khắc sâu
được kiến thức cũng như chưa mở rộng nâng cao vấn đề. Hơn thế nữa học sinh chưa
hình dung được những địa bàn sinh sống của người xưa trên bả đồ Việt Nam, vì thế
chưa gọi đó là một giờ dạy lịch sử theo phương pháp đổi mới hiện nay.
Theo số liệu trên tơi có thể mơ tả kết quả của tiết dạy lịch sử ở lớp 6
1
như sau:
Tiết thứ 2: Cũng bài học đó ở lớp 6
2
tơi quyết định cải tiến phương pháp dạy học
thêm một bước nữa. Thực tế tơi đã tiến hành như sau:
Mục 1: Những dấu tích của người tối cổ được tìm thấy ở đâu? (15 phút)
Mục tiêu: Học sinh hiểu được người tối cổ là người như thế nào? Họ đã để lại những
dấu tích gì? Ở đâu?
Trước tiên tơi cho học sinh đọc một đoạn đầu của mục 1, sau đó tơi giải thích cho
học sinh làm quen với cụm từ “thời xa xưa” vì đây là học sinh lớp 6 chưa tiếp xúc
Sơn, Thanh Hóa hay Xn Lộc(Đồng Nai). Với phương pháp này người học sẽ chủ
động tự mình tìm tòi, khám phá qua đó khắc sâu kiến thức đã học.
Hỏi: Qua lược đồ em có nhận xét gì về địa bàn sinh sống của người tối cổ xưa?
HS trả lời: Họ sống rải rác khắp Bắc – Trung – Nam
GV kết luận: Điều đó chứng tỏ rằng Việt Nam là một trong những q hương
đầu tiên của lồi người.
Tóm lại ở phần 1 này bằng sự kết hợp nhiều phương pháp GV đã giúp HS nắm kĩ
hơn về giai đoạn đầu tiên sinh sống của người cổ, HS hiểu rõ người tối cổ là người
như thế nào, hình dung rõ địa bàn sinh sống, các cơng cụ của người tối cổ sử dụng.
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 6
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Hơn nữa ngồi phương pháp gợi mở nêu vấn đề, tơi đã chú ý đến khâu rèn luyện kỹ
năng điền bản đồ câm lịch sử, kỹ năng sử dụng bản đồ trực quan. Đó là một trong
những vấn đề mà chun đề đổi mới thay sách trong bộ mơn lịch sử hiện nay đang
chú trọng.
Mục 2: Ở giai đoạn đầu người tinh khơn sống như thế nào? (12 phút)
GV vừa nói vừa điền kí hiệu trên bản đồ bằng một màu mực khác, giúp HS hiểu
rằng trải qua hàng chục ngàn năm nhờ lao động, người tối cổ đã mở rộng thêm
địa bàn sinh sống ở nhiều nơi như Thẩm Ồm (Nghệ An), Hang Hùm (n Bái),
Thung Lang (Ninh Bình), Kéo Lèng (Lạng Sơn). Khoảng 3 – 2 vạn năm trước
đây người tối cổ đã tiến hóa thành người tinh khơn.
GV nêu câu hỏi: Những dấu tích của người tinh khơn được tìm thấy ở đâu? Sau
khi HS trả lời GV tiếp tục u cầu HS điền kí hiệu vào những địa bàn sinh sống
của người tinh khơn trên bản đồ bằng một màu mực khác.
Tiếp đó GV cho HS quan sát và so sánh sự khác nhau giữa cơng cụ hình 19 so
với hình 20. Bằng việc quan sát, HS sẽ dễ dàng nhận biết cơng cụ ở hình 19 rất
thơ sơ, còn cơng cụ ở hình 20 được mài nhẵn, có hình thù rõ ràng, có chỗ cầm
nắm, gọn và đẹp hơn.
GV: Qua đó chúng ta thấy người tinh khơn có gì khác so với người tối cổ?
ổn định và nâng dần lên.
Như vậy trong mục 3 này tơi đã sử dụng hiệu quả các phương pháp từ đàm thoại
gợi mở, nêu vấn đề buộc HS phải suy nghĩ đến phương pháp thảo luận trao đổi, phân
tích, so sánh. Đặc biệt phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan qua việc khai thác các
kênh hình trong sách giáo khoa kết hợp với hệ thống câu hỏi nhỏ, gợi mở đã dẫn dắt
HS tìm hiểu và nắm chắc kiến thức của bài học, làm cho bài giảng sinh động, sơi nổi
và sâu lắng hơn. Trong tiết học thầy và trò làm việc liên tục, nhất là trò được làm việc
nhiều hơn theo hướng tích cực, chủ động, tiết học khơng nhàm chán bởi HS ln
được tìm tòi, khám phá cái mới một cách độc lập chứ khơng phải là gượng ép. Nhất
là khi các em được xem, cầm nắm, sờ vào những chiếc rìu phục chế như là những
cơng cụ thật của người xưa. Tơi cảm thấy hài lòng vì mình đã rút ra được kinh
nghiệm nhiều hơn tiết dạy trước ở lớp 6
1
.
Sau tiết áp dụng các phương pháp mới vào việc giảng dạy bài “THỜI NGUN
THỦY TRÊN ĐẤT NƯỚC TA” tơi đã tổng kết bài học theo các câu hỏi sau:
1) Thời ngun thủy trên đất nước con người trải qua mấy giai đoạn?
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 8
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
2) Người tinh khơn có gì khác so với người tối cổ?
3) Em hiểu gì về hai câu nói của Bác Hồ ở cuối bài?
Một điều thật thú vị đó là cả lớp giơ tay và tranh nhau quyền trả lời. qua đó tơi có
thể khẳng định rằng với việc thay đổi, áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy làm
cho tiết học của tơi đạt kết quả là 100% HS hiểu bài.
Căn cứ vào số liệu đó tơi có thể biểu thị kết đó ở biểu đồ sau:
Và nếu so sánh kết quả của 2 tiết dạy bằng hai phương pháp khác nhau, tơi có thể
biểu thị bằng biểu đồ cột đứng sau:
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 9
chặt, cắt, nạo…
3/ Rìu đá Hòa Bình:
Đây là loại rìu đá làm bằng hòn cuội được ghè đẽo rộng trên cả hai mặt, giữ ngun vỏ cuội.
Loại cơng cụ này khá phổ biến, có nhiều hình dạng khác nhau nhưng điển hình nhất là hình bầu
dục và hình dĩa.
4/ Rìu đá Bắc Sơn:
Rìu đá Bắc Sơn vốn là những hòn cuội được ghè đẽo qua loa có hình chữ nhật hay tương tự như
vậy, một đầu mài hẹp thành lưỡi sắc. với những chiếc rìu như thế này các bộ lạc Bắc Sơn vừa có
năng suất lao động cao hơn, vừa có thể dùng rìu để chế tác các cơng cụ bằng tre, gỗ dễ dàng hơn,
góp phần làm phong phú thêm các cơng cụ lao động, tạo điều kiện cho nền nơng nghiệp mới ra đời
phát triển thêm một bước.
5/ Rìu đá Hạ Long:
Đến thời kỳ văn hóa Hạ Long, người ngun thủy đã đạt đến một trình độ cao hơn trong kỹ
thuật chế tác đá. Ngồi kỹ thuật mài, họ đã sử dụng rộng rãi các kỹ thuật cưa, khoan đá. Nhờ vậy
chủ nhân của nền văn hóa Hạ Long đã chế tác được râtý nhiều cơng cụ lao động cũng như đồ
trang sức rất đẹp. Trong hình là những chiếc rìu có vai được tìm thấy ở bờ biển Quảng Ninh – Hải
Phòng và một số đảo ở Hạ Long. Với kỹ thuật cưa đá người ngun thủy đã tạo ra được những hòn
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 12
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
đá vng vắn, có hình dáng, kích thước phù hợp và theo ý muốn của họ, trơng rất nhỏ nhắn, vng
vắn, bề ngồi nhẵn bóng đẹp, rìu được mài kỹ nên mỏng và sắc, dễ cầm nắm.
C. KẾT LUẬN:
Từ thực tế đó tơi rút ra được những vấn đề cơ bản sau:
Đây là dạng bài học khó bởi khả năng tư duy của học sinh lớp 6 có hạn mà sự kiện
lịch sử lại diễn ra q xa xưa, nhiều khái niệm trừu tượng, bài học u cầu sự tư duy
cao, nên dễ gây tâm lý chán chường đối với người học Để gây sự hứng thú trong dạy
học lịch sử thì đòi hỏi người GV phải có sự hiểu biết sâu rộng về bản chất của vấn đề,
bản chất của sự kiện lịch sử, cũng như phải thường xun tìm tòi nghiên cứu tìm ra
những phương pháp thích hợp cho từng kiểu bài, vận dụng một cách sáng tạo phương
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ mà tơi đã đúc rút được từ q trình trải
nghiệm thực hiện giảng dạy phương pháp mới trong nhiều năm qua tại trường THPT
Tây Sơn, hy vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ bé này sẽ góp phần làm phong phú
thêm kho tàng kinh nghiệm của nền giáo dục nước nhà. Rất mong sự góp ý của q
thầy cơ, các anh chị đồng nghiệp để kinh nghiệm ngày càng hồn chỉnh và có tác
dụng tích cực đến việc dạy học bộ mơn lịch sử.
C. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. .Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS (NXB GD
1997)
2. Một số chuyên đề về phương pháp dạy học lòch sử (NXB Đại
Học Quốc Gia Hà Nội 2002)
3. Phương pháp dạy học lòch sử (nhà xuất bản Giáo Dục 1999)
4. Hướng dẫn sủ dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS (NXB
giáo dục 2006)
T ân Long ngày 20 tháng 5 năm 2008
Người thực hiện :Trònh Thế Hậu
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 14
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Giáo viên: Trònh Thế Hậu - Trường THPT Tây Sơn
Trang 15