Vai trò và sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường việt nam - Pdf 23

Mục lục:
Danh mục các từ viết tắt…………….………………………………………………… 4
Danh mục bảng biểu……… ……………………………………………………………5
Lời mở đầu……………………………………………………………………………….6
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lãi suất và chính sách lãi suất của Ngân
hàng……………………………………………………………………………………….7
1.1Khái niệm và đặc điểm của lãi suất và chính sách lãi suất……………………….7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của lãi suất………………………………………………7
1.1.1.1. Khái niệm về lãi suất………………………………………………………… 7
1.1.1.2. Đặc điểm của lãi suất……………………………………………………… 7
1.1.2. Khái niệm chính sách lãi suất…………………………………………………… 8
1.2 Các loại hình lãi suất và chính sách lãi suất…………………………………… …8
1.2.1 Các loại hình lãi suất………………………………………………………………8
1.2.1.1 Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng………………………………………… …8
1.2.1.2 Căn cứ vào giá trị của tiền lãi………………………………………………… 10
1.2.1.3 Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất…………………………………… …… 11
1.2.1.4 Căn cứ vào loại tiền cho vay………………………………………….………….11
1.2.1.5 Căn cứ vào nguồn tín dụng………………………………………………… …11
1.2.2 Các loại chính sách lãi suất…………………………………………………… 11
1.2.2.1 Chính sách lãi suất cố định………………………………………………………11
1.2.2.2 Chính sách tự do hóa lãi suất ……………………………………………………13
1.2.2.3 Chính sách lãi suất ưu đãi……………………………………………………… 13
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất và chính sách lãi suất…………… ……… 14
1.3.1 Cung cầu quỹ cho vay………………………………………………………… 14
1.3.2 Lạm phát dự tính………………………………………………………………….15
1.3.3 Hoạt động thu chi Ngân sách nhà nước………………………………………… 16
1.3.4 Sự thay đổi của thuế………………………………………………………………17
1.3.5 Tỷ giá………………………………………………………………………… …17
1.3.6 Những thay đổi trong đời sống xã hội……………………………………………17
1.4 Ảnh hưởng của lãi suất và chính sách lãi suất trong nền kinh tế…………… …18
1.4.1 Ảnh hưởng của lãi suất và CSLS đến quá trình huy động vốn…………… 18

CSLS Chính sách lãi suất
LSCB Lãi suất cơ bản
DN Doanh nghiệp
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
KTTT Kinh tế thị trường
VNĐ Việt Nam đồng
Danh mục bảng biểu, biểu đồ
1. Biểu đồ:
Hình 1.1: Biểu đồ minh họa mô hình tổng cung, tổng cầu………………………15
Hình 1.2: Biểu đồ mô tả mối liên hệ giữa lạm phát dự tính và lãi suất………….16
Hình 2.1: Biểu đồ diễn biến lãi suất trong năm 2008…………………… …….23
Hình 2.2: Biểu đồ so sánh lãi suất năm 2011 và 2012………………………… 28
Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện sự điều hành lãi suất năm 2012…………………… 29
2. Bảng biểu:
Bảng 1: Lãi suất huy động và cho vay bình quân năm 2006-2007………………22
Bảng 2: Lãi suất huy động và cho vay bình quân của các NH năm 2007-2008…24
Bảng 3: Thống kê lãi suất trung bình 12 tháng của năm 2012………………… 29
Bảng 4: Lãi suất huy động các kì hạn hiện nay ở một số ngân hàng…………….31
Lời mở đầu:
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách vĩ mô hàng đầu của nhà nước để
điều chỉnh nền kinh tế. Trong số những công cụ điều hành của chính sách tiền tệ thì chính
sách lãi suất là một công cụ quan trọng và chủ yếu nhất, là đòn bẩy kinh tế quan trọng
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các tổ chức tín dụng. Tất cả các Ngân hàng đều
phải có những chính sách lãi suất để có thể thu hút khách hàng, có lợi cho nền kinh tế nói
chung và cho chính Ngân hàng nói riêng.Ở Việt Nam nhà nước cũng đã rất linh hoạt
trong việc sử dụng các công cụ lãi suất nhằm tác động tích cực tới nền kinh tế trong quá
trình hội nhập … Hiện nay việc sử dụng công cụ lãi suất trong nền kinh tế thị trường là
một trong những vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp vì nó không chỉ thu hút sự quan
tâm của riêng tài chính ngân hàng, mà nó nhận được sự quan tâm từ các doanh nghiệp và

+ Tính cạnh tranh: trong qúa trình hình thành và phát triển của kinh tế thị trường thì tính
cạnh tranh được chứng minh là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh
tế phát triển. Lãi suất huy động vốn hình thành trên cơ sở cạnh tranh giữa các NHTM,
TCTD… Mỗi NHTM, TCTD phải có lãi suất hấp dẫn để thu hút khách hàng trên nguyên
tắc kinh doanh có hiệu quả và giữ được vị trí cạnh tranh với các NHTM, TCTD khác.
+ Tính linh hoạt: Lãi suất tín dụng hình thành một cách linh hoạt, nhạy bén thích ứng với
từng đối tượng, hoàn cảnh…sự thay đổi thường xuyên của lãi suất tín dụng phù hợp với
sự biến động về cung, cầu của vốn vay, tỷ lệ lạm phát, thu chi ngân sách nhà nước, yếu tố
tâm lý của người đi vay và người cho vay trên thị trường tiền tệ, tín dụng.tính linh hoạt
lãi suất giúp cho ngân hàng thay đổi kịp thời để có kết quả kinh doanh tốt nhất.
1.1.2 Khái niệm của chính sách lãi suất.
Chính sách lãi suất một bộ phận của CSTT của chính phủ, là cách thức quản lý và
điều tiết lãi suất thị trường nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng, kiểmsoát lạm phát để
thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả và tỷ giá hối đoái ổn định.
Tùy thuộc vào từng mục tiêu của chính sách tiền tệ, NHNN áp dụng cơ chế điều
hành lãi suất phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có
hiệu quả các nguồn vốn trong kinh tế.
Chính sách lãi suất là một trong những chính sách ổn định kinh tế vĩ mô để điều tiết
nền kinh tế quốc dân.Trong những điều kiện nhất định của nền kinh tế mở, CSLS còn
được sử dụng như là một công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi
ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá. Điều này
không chỉ tác động đến đầu tư mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các
quan hệ thương mại quốc tế giữa nước đó đối với nước ngoài.
1.2 Các loại hình lãi suất và chính sách lãi suất
1.2.1 Các loại hình lãi suất:
Để phân loại lãi suất người ta dựa vào các căn cứ như căn cứ vào nghiệp vụ NH, giá trị
của tiền lãi, tính linh hoạt của lãi suất, căn cứ vào loại tiền cho vay và nguồn tín dụng.
1.2.1.1Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng
Căn cứ vào nghiệp vụ liên ngân hàng thì lãi suất được chia ra làm 5 loại là lãi suất
tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất thị trường liên

chiết khấu được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu
trừ ngay khi ngân hàng cho khách hàng vay. Đây là công cụ điều tiết vĩ mô thường được
Mỹ và các nước phương tây sử dụng rất hiệu quả. Thỉnh thoảng NHTWcó thể điều chỉnh
lãi suất chiết khấu để khuyến khích hoặc hạn chế các ngân hàng thành viên vay
mượn. Một lãi suất chiết khấu tăng lên báo động sẽ có tình trạng gia tăng các lãi suất của
thị trường tiền tệ và thị trường vốn nói chung. Lãi suất chiết khấu là loại lãi suất thấp nhất
trong tất cả các loại lãi suất trên thị trường.
- Lãi suất tái chiết khấu:
Là lãi suất được áp dụng khi NHTW tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thức
chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến kỳ hạn thanh toán của ngân hàng. Lãi
suất tái chiết khấu được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và
được khấu trừ ngay khi cho các NHTM vay. Lãi suất này do NHTW ấn định căn cứ vào
mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên
thị trường tiền tệ.
- Lãi suất thị trường liên ngân hàng:
Là lãi suất các ngân hàng áp dụng cho nhau khi cho vay trên thị trường liên ngân
hàngLãi suất thị trường liên ngân hàng được ấn định hằng ngày vào mỗi buổi sáng. Nó
được hình thành bởi quan hệ cung cầu vốn của các NHTM và các TCTD khác và chịu sự
chi phối bởi lãi suất tái chiết khấu.
- Lãi suất cơ bản:
LSCB là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các NHTM và các tổ chức tín
dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.Tác dụng của LSCB là điều chỉnh và thống nhất
các hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. LSCB hình thành khác nhau
tùy theo mỗi nước nhưng hầu hết được hình thành trên cơ sở thị trường và có mức lợi
nhuận bình quân cho phép.
1.2.1.2Căn cứ vào giá trị của tiền lãi:
Căn cứ vào giá trị của tiền lãi thì lãi suất được chia làm hai loại là lãi suất danh nghĩa và
lãi suất thực.
- Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất danh nghĩa là lãi suất phải thanh toán, lãi suất tính theo
giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất

Lãi suất cố định là lãi suất mà NHNNquy định để khống chế NHTM cả về lãi suất
huy động vốn và lãi suất cho vay.Khi đó sẽ không có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng,
không thúc đẩy tăng trưởng.Chính phủ hoàn toàn có thể kiểm soát được lãi suất và bảo vệ
được các doanh nghiệp nhà nước.
Lãi suất cố định áp dụng cho việc cho vay tiêu dùng.Chính sách này sẽ giúp khách
hàng có nhu cầu vay vốn thực sự yên tâm, chủ động trong việc hoạch định và cân đối tài
chính của mình trong khoảng thời gian cố định, không phụ thuộc biến động lãi suất thị
trường. Chính sách này thông thường sẽ áp dụng cho vay ngắn hạn.
+ Ưu điểm: dự tính chính xác số tiền phải trả cho Ngân hàng, từ đó tạo thuận lợi cho việc
hoạch định tài chính. Không bị tác động của biến động lãi suất trên thị
trường.trongtrường hợp lãi suất thị trường tăng thì khách hàng sẽ được lợi hơn do lãi suất
vẫn tính theo lãi suất cố định thấp hơn mức lãi suất hiện tại.
+ Nhược điểm: trong trường hợp lãi suất thị trường biến động giảm so với thời điểm vay
thì khách hàng vẫn phải trả tiền lãi theo lãi suất cố định trong hợp đồng. khi đó khách
hàng bị thiệt thòi.
Chính sách lãi suất cố định bao gồm lãi suất cơ bản, lãi suất trần.
a Chính sách lãi suất trần
Trần lãi suất là chính sách phổ biến nhất. Nhờ định mức trần lãi suất mà hạn chế
được tình trạng lãi suất thực dương quá cao trong thời kì trước, do đó các NHTM cũng
dần cân bằng được tài sản nợ và tài sản có, đảm bảo được lợi nhuận.
Nhờ có trần lãi suất mà lãi suất sẽ không bị nâng lên quá cao các doanh nghiệp có
thêm cơ hội vay vốn kinh doanh và mở rộng quy mô.
Các TCTD được tự do ấn định các mức lãi suất cho vay và tiền gửi cụ thể linh
hoạt phù hợp điều kiện kinh doanh, thực hiện cạnh tranh lành mạnh từng bước tiến tới tự
do hóa lãi suất.
Tuy nhiên việc quy định lãi suất trần sẽ hạn chế tính linh hoạt của NHTM, không
tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các Ngân hàng.Cơ chế điều hành lãi suất thông qua
lãi suất trần tỏ ra kém hiệu quả trong việc xử lý những mâu thuẫn nội tệ và ngoại tệ, giữa
lãi suất trong nước và ngoài nước.
b lãi suất cơ bản:

người vay.Việc thực hiện chính sách này làm người đi vay ít hoặc thậm chí là không để ý
đến hiệu quả dẫn đến việc dùng vốn vào những việc không mấy hiệu quả. Điều đó không
giúp tăng trưởng vốn và phần lớn chính sách này lấy từ ngân sách nhà nước. Các đối
tượng vay vốn ưu đãi thường là hộ nghèo, vũng hải đảo xa xôi, miền núi,…việc vay vốn
này tạo điều kiện cho người vay nhưng lại hạn chế về phát triển thị trường vốn vay.Tuy
vậy thì việc sử dụng chính sách lãi suất ưu đãi là rất cần thiết vì nó tạo điều kiện cho
những người có hoàn cảnh khó khăn có vốn để duy trì hoặc phát triển kinh tế.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất và chính sách lãi suất.
1.3.1 Cung cầu quỹ cho vay
DN cần tiền để làm phương tiện giao dịch, trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ…
các nhân tố này hợp thành mức cầu về tiền tệ để giao dịch.Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ
ảnh hưởng tới lãi suất. Khi NHTW muốn kiềm chế lạm phát sẽ thực hiện chính sách thắt
chặt tiền tệthông qua việc điều chỉnh như: tăng lãi suất chiết khấu, tăng lãi suất cho vay,
bán giấy tờ có giá…
Lãi suất tăng mức đầu tư sẽ giảm, mức cầu tiền tệ giảm, các nhà doanh nghiệp và
các hộ gia đình sẽ cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ.Ngược lại khi NHTW
cần tăng lượng tiền lưu thông bằng cách giảm lãi suất, dự trữ cho vay của các NHTM gia
tăng. Kết quả là đầu tư tăng, thu nhập tăng, chi tiêu tăng, dẫn đến thúc đẩy sản xuất và
lưu thông hàng hóa.
Lãi suất là giá cả của cho vay chính vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu
quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi mức lãi suất trên thị trường.
Từ đó cho thấy ta có thể điều chỉnh mức lãi suất trên thị trường bằngcách tác động vào
cung cầu vốn trên thị trường,muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị
trường vốn phải được đảm bảo vững chắc.
Mộtsự thay đổi cung cầu lãi suất sẽ ảnh hưởng tới lãi suất:
*Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ:
Khi NHTW muốn kiềm chếlạm phát, sẽ thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ
thông qua công cụ của nó (tăng mức dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chíết khấu, giảm hạn
mức tín dụng). Mức cung tiền tệsẽ giảm đi, đường AS
1

Y: sản lượng thực tế
Y*: sản lượng tiềm năng
P: mức lãi suất
.
Hình 1.1:Biểu đồ minh họamô hình tổng cung, tổng cầu
1.3.2 Lạm phát dự tính:
Có thể nói rằng lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ,là một trong những yếu tố
chủ chốt ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng.Chính vì vậy ta không thể tránh khỏi nó mà chỉ
dự tính và đưa ra giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát ở mức ít hay nhiều.
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu
hướng tăng lên.
Nguyên nhân:
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa , vớilãi suất danh
nghĩa cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống
trong trường hợp này việc đi vay sẽ có lợi và cho vay sẽ bất lợi vì thế sẽ kích thích người
đi vay hơn là cho vay.Người đi vay sẽ hưởng lợi, cầu quỹ cho vay tăng dẫn đến lãi suất
tăng.
Từ đó cho thấy để duy trì lãi suất thưc không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất
danh nghĩa phải tăng lên tương ứng.
- Lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm cho việc dự trữ hàng hóa hoặc những dạng thức
tài sản phi tài chính khác như vàng, ngoại tệ mạnh… chính điều này sẽ làm giảm
cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng cũng như trên thị trường.
Khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng.Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc
dự đoán lãi suất.Trên cơ sơ đó có một chính sách lãi suât hợp lý.Khi lạm phát cao, Nhà
nước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực dương, hoặc nhà nước
bán vàng, ngoại tệ để kiềm chế lạm phát.
Hình 1.2: Mô tả mối liên hệ giữa lạm phát dự tính và lãi suất
1.3.3 Hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước:
NHNN vừa là nguồn cung tiền gửi vừa là nguồn cầu tiền vay đối với ngân hàng.
Do đó, sự thay đổi giữa thu, chi ngân sách Nhà nước là một trong những nhân tố ảnh

1.3.6Những thay đổi trong đời sống xã hội:
Ngoài những yếu tố ở trên, lãi suất còn rất nhạy cảm với những biến đổi của tình
hình kinh tế, chính trị cũng như những biến động tài chính quốc tế.Chính vì vậy mà sự
phát triển thị trường tài chính và các công cụ tài chính luôn đa dạng phong phú. Các công
cụ nà không chỉ khác nhau không chỉ bởi cách tính lãi trả lãi, khả năng tiêu thụ mà cả độ
co giãn của giá cả theo lượng cầu.
a, sự ổn định của kinh tế chính trị:
Nền kinh tế ổn định và phát triển là một yếu tố kiên quyết để ổn định lãi suất.Nếu
nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát hay suy thoái thì nhà nước đều có biện pháp, chính
sách điều chỉnh lãi suất để kìm hãm hay kích thích nền kinh tế, phù hợp với thực trạng
nền kinh tế. Sự ổn định của chính trị rất quan trọng, nếu nền chính trị bất ổn, mỗi khi
chính trị biến động , chính quyền thay đổi dẫn tới chính sách lãi suất mới khiến lãi suất bị
biến động.
b, các thể chế tài chính trung gian:
Các thể chế, định chế tài chính trung gian có ảnh hưởng rất lớn đến lãi suất thị
trường như là quỹ tín dụng, bảo hiểm, thị trường cổ phiếu và bất động sản… một khi các
thể chế trung gian này phát triển thì sẽ cần một lượng vốn rất lớn khi đó cầu về vốn sẽ
tăng, kéo theo lãi suất tăng và ngược lại.
1.4 Ảnh hưởng của lãi suất và chính sách lãi suất trong nền kinh tế
1.4.1 Ảnh hưởng của lãi suất và chính sách lãi suất đến quá trình huy động vốn.
Đối với Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sử dụng
vốncó tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn.
Vì vậy CSLScó vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhànrỗi
trong xã hội và các tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định hướng vốn trong nước,vốn ngoài
nước là quyết định quan trọng trong chiến lược CNH-HĐH nước ta hiện nay.
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phải bảo tồn
được giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả người cho vay và người đi vay.
Lãi suất có khả năng điều tiết một cách tự nhiên lượng vốn lưu thông từ nơi thừa
đến nơi
thiếu, từ người có vốn sang người cần vốn để đưa vốn vào sử dụng trong các dựán đầu

Như ta đã biết, tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của
nước khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố như cán cân thanh toán quốc tế, cung cầu ngoại tệ, lạm phát…
Lãi suất luôn là một công cụ tác động mạnh đến tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu.
Trong điều kiện thị trường mở, nếu lãi suất thực tế trong nước tăng sẽ thu hút một lượng
vốn lớn từ bên ngoài vào làm cho cầu nội tệ tăng lên dẫn đến giảm tỷ giá, tỷ giá giảm sẽ
khiến cho xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng và ngược lại. Nhưvậy, bằng việc tác động vào
lãi suất có thể bình ổn được tỷ giá và điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu, tuy nhiên lạik
hông dễ thực hiện do khi lãi suấttrong nước thay đổi sẽ dễ dẫn đến một cuộc cạnh tranh
về lãi suất giữa các nước nhằm đảm bảo lợi ích cho nước mình. Mặt khác lãi suất làmột
công cụ quá mạnh có thểảnh hưởng đến hàng loạt biến đổi kinh tếvĩ mô khác do đó việc
sử dụng CSLSphải là hết sức thận trọng.
1.4.5 Ảnh hưởng của lãi suất và chính sách lãi suất đến lạm phát.
Lạm phát là tình trạng tăng liên tục mức giá chung của nền kinh tế do nhiều
nguyên nhân khác nhau. Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân
hàng có thể thu hút phần lớn số tiền có nhiều trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong
lưu thông giảm, cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế.
Như vậy, lãi suất cũng góp phần chống lạm phát. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ
lãisuất trong chống lạm phát không thể duy trì lâu dài vì lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu tư
giảm tổng cầu và làm giảm sản lượng. Do vậy lãi suất phải được sử dụng kết hợp với các
công cụ khác thì mới có thể kiểm soát được lạm phát, ổn định giá cả, ổn định đồngtiền.
Chương 2
Phân tích chính sách lãi suất Việt Nam và sự ảnh hưởng của nó đối
với nền kinh tế thị trường Việt Nam
2.1 Thực trạng chính sách lãi suất và diễn biến lãi suất tại Việt Nam thời kì từ năm
2006 đến nay.
2.1.1 Diễn biến lãi suất và chính sách lãi suấttrong năm những 2006-2007
Trong năm 2006, lãi suất trên thị trường thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là
đồng USD.Liên bang Mỹ đã 4 lần điều chỉnh tăng lãi suất đồng USD. Mặt khác, cũng
trong năm 2006 sự biến động của chỉ số giá cả, giá vàng và quan hệ cung - cầu vốn trên

bình quân
Lãi suất cho vay bình quân
Năm
2006
Năm 2007 Tăng
(giảm)
Năm 2006 Năm 2007 Tăng(giả
m}
Nhóm
NHTMN
N
5,53% 6,57% 1,04% 9,09% 9,68% 0,59%
Nhóm
NHTMCP
lớn
7,41% 7,61% 0,2% 10,62% 10,98% 0,36%
Nhóm
NHTMCP
nhỏ
8,61% 8,75% 0,13% 12,63% 12,71% 0,08%
Toàn ngành 7,60% 7,91% 0,31% 11,2% 11,48% 0,28%
Nhìn chung lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các NHTM trong năm 2007
đều gia tăng, lãi suất huy động tăng nhanh hơn so với lãi suất cho vay. Cụ thể là tăng
0,31% đối với lãi suất huy động và 0,28% đối với lãi suất cho vay.Năm 2007 lãi suất biến
động không nhiều giữa các tháng trong năm lãi suất cơ bản vẫn duy trì ở mức 8,25%/
năm.
Để tránh tác động không thuận lợi đối với tăng trưởng kinh tế, NHNN tiếp tục giữ
ổn định lãi suất. Mức LSCB là 8,25%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm và lãi suất
chiết khấu là 4,5%/năm. Nhằm định hướng ổn định lãi suất thị trường để hạn chế tác
động tăng lãi suất cho vay và cộng hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ đó góp phần kiểm

đầu giảm mạnh từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 12/2008 lãi suất cơ bản về mức 8,5%/
năm, lãi suất chiết khấu xuống còn 7,5%/năm và lãi suất tái cấp vốn là 9.5%/năm.
NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ (tăng dự trữ bắt buộc, tăng LSCB,
bán các giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị trường mở,…) nhằm kiềm chế lạm phát
làm cho đồng vốn trở nên khan hiếm, các NHTM đồng loạt tăng lãi suất huy động.
Bảng 2:lãi suất huy động và cho vay bình quân của các NH năm 2007 và 2008
Các ngân hàng Lãi suất huy động bình quân Lãi suất cho vay bình quân
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2007 Năm 2008
Bình quân khối
NHTMNN
6,57% 13,19% 9,68% 16,10%
Bình quân khối
NHTMCP lớn
7,61% 14,23% 10,98% 17,09%
Bình quân khối
NHTMCP nhỏ
8,74% 15,61% 12,71% 18,39%
Bình quân
ngành
7,91% 14,63% 11,48% 17,47%
Lãi suất huy động bình quân toàn ngành năm 2008 là 14.63%, tăng gấp 2 lần so
với năm 2007. Trong đó, nhóm NHTMCP nhỏ vẫn thu hút các nhà đầu tư. Do mức lãi
suất mà NH này đưa ra bao giờ cũng cao hơn nhóm NHTMCP lớn và các NHTMNN.
Đặc biệt, lãi suất tiền gửi các kỳ hạn ngắn luôn tồn tại với mức lãi suất cao.Bên cạnh đó,
lãi suất cho vay năm 2008 tăng cao trong một thời gian khá dài, đến cuối tháng 7 mới bắt
đầu giảm.CSLS tiền vay của các nhóm ngân hàng cũng tương tự như CSLS tiền gửi.
Năm 2009 so với năm 2008, CSLS và hoạt động của các NHTM đã có sự ổn định
tương đối, chính phủ điều hành linh hoạt và ít phức tạp hơn.Hệ thống tài chính đã trở lại
bình thường và ổn định.Tuy nhiên vẫn có những vấn đề vẫn chưa thể giải quyết, còn
nhiều biến động và căng thẳng trên thị trường ảnh hưởng đến hoạt động của các DN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status