Tiểu luận môn Văn Hóa Doanh Nghiệp Cà phê giả và cà phê thật - Pdf 23

Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú
1
Phần 1: Nhóm chủ thể - Cơ sở sản xuất cà phê giả
LỜI MỞ ĐẦU
Cà phê (gốc từ café trong tiếng Pháp) là một loại thức uống màu đen có chứa
chất caffein và được sử dụng rộng rãi, được sản xuất từ những hạt cà phê được rang lên,
từ cây cà phê. Cà phê được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá
ra từ vùng cao nguyên Ethiopia.
Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới. Không giống
như các loại đồ uống khác, chức năng chính của cà phê không phải là giải khát, mặc dù
người dân Mỹ uống nó như thức uống giải khát. Nhiều người uống nó với mục đích tạo
cảm giác hưng phấn. Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 năm 2005 của nhà
hoá học Mỹ Joe Vinson thuộc Đại học Scranton thì cà phê là một nguồn quan trọng
cung cấp các chất chống ôxi hóa (antioxidant) cho cơ thể, vai trò mà trước đây người ta
chỉ thấy ở hoa quả và rau xanh. Những chất này cũng gián tiếp làm giảm nguy cơ bị ung
thư ở người.
Cà phê có thể đã được các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Pháp
mang hạt sang trồng lẻ tẻ từ các thế kỷ 17, 18 nhưng chính thức và quy mô thì phải đến
khi người Pháp chiếm được Việt Nam từng phần và đặt nền bảo hộ lên toàn cõi (1884).
Cà phê được người Pháp đưa vào trồng ở Việt Nam chính thức từ năm 1857. Kể
từ đó người dân Việt Nam đã biết hưởng thức cà phê thơm ngon và qua quá trình thời
gian, khẩu vị người Việt là uống cà phê phải đậm, đặc, đen, sánh, có bọt và có mùi
hương … mà cà phê nguyên chất (là cà phê thiên nhiên 100%) thì không đáp ứng đa số
những khẩu vị đó của người Việt nhất là với sở thích uống cà phê của người dân Sài
Gòn là phải cho thêm đá nên khi café cho thêm đá thì nó sẽ loãng đi và không còn đậm
đặc nữa. Để đáp ứng nhu cầu đó nên có sự xuất hiện của cà phê không nguyên chất (pha
tạp). Xin đừng vội lên án chúng tôi là người mất nhân tính hay vì quá tham lợi nhuận
mà sản xuất cà phê như vậy, chúng tôi không biện minh hành động trên. Để hiểu rõ lý
do tại sao cơ sở sản xuất café pha tạp, xin mời các bạn cùng tham gia tìm hiểu với tiểu
nhóm chúng tôi để có cách nhìn khách quan về cơ sở sản xuất cà phê pha tạp.

Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú
3
 Do người tiêu dùng rất lâu đã quen dùng cái gọi là “cà phê ” với mùi thơm nồng,
màu đen đậm và có vị đắng nên bây giờ họ không còn nhớ hương vị cà phê nguyên thủy
với vị nhạt nhẹ, màu nâu trong, vị đắng nhẹ đặc trưng của nó nữa, nên có một thực tế là
họ sẽ chê và không sử dụng sản phẩm cà phê nguyên chất.
 Đa số người dân Việt Nam nghĩ rằng cà phê “chuẩn” là phải đen, càng đen càng tốt,
hương thơm phải mạnh mẽ, nồng nàn. Uống cà phê đen (đen nóng hoặc đen đá) thì phải
càng đắng càng tốt nước cà phê phải thật sánh, sền sệt. Uống nâu đá thì cà phê phải
“bám đá”, “bám thìa”, “bám thành cốc”… Nếu một ly cà phê không có đủ độ đắng, mùi
hương, và độ sánh thì người tiêu dùng lại nghĩ đó mới chính là ly cà phê giả. Chính vì
suy nghĩ lệch lạc của khách hàng cũng như nhu cầu đó mà các nhà sản xuất cà phê đã
cho ra đời các sản phẩm cà phê pha tạp nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.
Đó như là một quy luật cung - cầu của thị trường; có “cầu” ắt sẽ có “cung”
1.4. Siêu lợi nhuận
Nhân cà phê có giá lên đến 50 - 55 ngàn đồng/kg. Mỗi 1 kg nhân cà phê chỉ pha
chế được 0,7 kg cà phê bột. Tuy nhiên, giá bán 0,7 kg cà phê bột “xịn” chỉ khoảng 60 –
65 ngàn đồng/kg. Với việc mua cà phê nhân cộng với phụ gia thì các lò xay không có
lãi. Cuối cùng họ làm cà phê giả để kiếm lời.
Giao cho các quán giá khoảng 30.000 đồng/kg, lời gấp 5 lần so với chế biến bằng
cà phê thật. Lợi nhuận quá cao nên sau 5 năm làm ăn, các chủ lò dễ dàng tậu nhà lầu, xe
hơi. Mỗi chủ lò loại vừa có khoảng trên một trăm quán "ruột" ở khắp địa bàn Saigon và
các tỉnh lân cận như: Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai
1.5. Sự lỏng lẻo của cơ quan quản lý nhà nước
Hiện nay riêng tại TP.HCM đã có hơn 1000 nhãn hiệu cà phê của những doanh
nghiệp, những lò sản xuất nhỏ. Những nhãn hiệu lớn như Trung Nguyên, Vinacafé…
thì chủ yếu xuất khẩu và bán cho đối tượng khách hàng mua về tự pha uống. Việc cấp
phép kinh doanh dễ dàng như vậy cùng với việc xử lý không nghiêm minh, chưa có luật
rõ ràng, cũng là những nguyên nhân gây ra tình trạng sản xuất “cà phê giả”.

chỉ cần đem đến tiệm, chớp nhoáng là xong…
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú
5
3. Quy trình làm “café giả” (café pha tạp)
 Sau khi tiến hành các bước cho cà phê hạt tự nhiên xong thì đầu tiên, đậu nành sẽ
được đổ vào lò rang ở nhiệt độ 200 độ C đến khi lên màu đen đặc. Sau đó, chất tạo màu
caramel, vốn là đường công nghiệp sẽ được đổ vào trộn chung với đậu nành đã chín.
 Mục đích của động tác này là để tạo màu và vị ngọt ban đầu và phá vị đắng “gắt”
cho cà phê giả. Caramel trộn vào đậu nành rang cháy đen ở nhiệt độ cao cũng đồng
nghĩa với việc caramel được đun lại lần thứ hai.
 Sau khi caramel đổ vào khoảng mấy phút, các chủ lò rang tiếp tục rắc đường hóa
học “Made in China” vào để tăng vị ngọt. Hỗn hợp trên được trộn đều để caramel khô
lại.
 Tiếp đến đổ hỗn hợp ra một khay lớn để thực hiện công đoạn biến đậu nành thành cà
phê bằng phụ gia, hương liệu. Sau khi cà phê giả được làm nguội, bơ công nghiệp và
các loại dầu sẽ được các “chuyên gia” chế vào đậu nành.
 Sau đó sử dụng mùi là phụ gia không thể thiếu. Tùy theo “lò”, người ta có thể dùng
dầu cải, dầu dừa. Để phá mùi đậu nành và có hương cà phê, các lò phải đổ một lượng
lớn bột béo xuất xứ từ Trung Quốc. Loại bột này được bày bán tràn lan trong các cửa
hàng hương liệu trong chợ Kim Biên, đường Nguyễn Trãi… với giá rẻ mạt. Sau đó, tùy
theo yêu cầu của khách hàng thì thêm các loại tinh sữa của Pháp để tạo vị bùi, tinh Sô
tạo mùi dài lâu trên bao bì, tinh Singapo, tinh ca cao và các loại hóa chất tạo bọt Lúc
đó, các chủ “lò” đã nắm trong tay loại cà phê “thượng hạng”.
 Khâu cuối cùng là trộn cà phê rang xay hạt nguyên chất và cà phê rang xay pha trộn
vào một bao bì rồi đóng gói , sau đó đem phân phối đến các quán nước tiêu thụ.
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú
6
4. Lợi nhuận khi làm “cà phê giả”

Nai…
 Có 5 công ty ở vùng ven được liệt vào hàng “đại gia”, mỗi ngày, mỗi công ty tung ra
thị trường ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Bình Phước khoảng trên
dưới 10 tấn đậu nành dưới vỏ bọc “cà phê đặc biệt”. Các công ty này bỏ mối hai loại
hàng: loại đậu nành và bắp đã tẩm xong hóa chất và loại cà phê bột “đểu”. Theo một
“trùm” rang cà phê thâm niên 10 năm ở Hóc Môn, chỉ tính 5 công ty kể trên, mỗi ngày
cung cấp ra thị trường hàng chục tấn cà phê đểu đóng gói trong những bao bì sang
trọng. Còn các cơ sở nhỏ lẻ ở khắp các kphường xã thì cũng cung cấp từ 1 đến 3
tấn/ngày.
 Nhiều chủ sản xuất cà phê giả sẵn sàng đầu tư cho những quán cà phê mới mở toàn
bộ đầu máy, tivi cho đến bàn ghế. Chủ quán chỉ cần nhận hàng đều đều, đủ 500 kg cà
phê thì toàn bộ những gì được đầu tư sẽ thuộc về chủ quán. Chưa kể các chủ lò còn
khuyến mãi quà, lịch cho quán mỗi dịp Tết lễ để tăng sức cạnh tranh.
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú
8

KẾT LUẬN

Như theo Quy luật có “Cung” ắt phải có “Cầu”, để đáp ứng nhu cầu hưởng thức,
uống cà phê của người Việt nhất là người dân Sài Gòn là uống cà phê ở quán, tụ tập bạn
bè nhâm nhi vừa uống vừa nói chuyện; cà phê thì phải đặc, đen, sánh, đắng, có hương vị
thơm và giá tiền phải chăng vì đa số uống cà phê là người lao động phổ thông… Chính
những nhu cầu đó mà cà phê nguyên chất thì màu không được đen mà là màu nâu cánh
dán, ít mùi hương, không đặc, giá thành lại cao …nên các cơ sở đã phải tìm cách sản
xuất đáp ứng nhu cầu gu uống cà phê của người Việt là phải pha trộn thêm bắp, đậu
nành, caramen … đồng thời các cơ quan quản lý không có quy định ràng buộc rõ ràng
về các thành phần pha chế cà phê nên các cơ sở sản xuất cà phê pha tạp xuất hiện từ đó.
Nhưng vì một số cơ sở quá tham lợi nhuận vì sản xuất cà phê pha tạp đem lại lợi nhuận
rất cao nên đã sử dụng các hóa chất độc hại để làm café pha tạp nhưng tiểu nhóm chúng

 Nhận biết – phân biệt cà phê nguyên chất: phân biệt trước khi pha, khi đang pha,
sau khi pha và phân biệt thông qua trãi nghiệm của chính bạn
 Lý do người tiêu dùng khó phát hiện được cà phê giả
 Tác hại của cà phê giả: đối với người tiêu dùng, người trồng cà phê và đối với
doanh nghiệp sản xuất cà phê thật
 Kiến nghị: đối với cơ quan quản lý, người tiêu dùng, và doanh nghiệp chế biến cà
phê
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú 10
1. Phương pháp chế biến cà phê nguyên chất:
Trong thời gian qua, cà phê nước ta phát triển nhanh về diện tích nhưng chưa
quan tâm khâu chế biến nên dẫn tới hậu quả là chất lượng về hương vị tuy đạt nhưng
giá thành thấp so với các nước trong khu vực vì khâu chế biến không được coi trọng.
Nâng cao năng lực chế biến để vừa tăng được chất lượng, lại vừa tăng giá thành xuất
khẩu là một việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay.
Hiện nay, trong ngành cà phê nước ta đang tồn tại 3 phương pháp chế biến cà
phê chính, đó là chế biến khô, chế biến nửa ướt và chế biến ướt 1.1 Phương pháp chế biến khô
Phương pháp chế biến khô hiện là phương pháp phổ biến nhất hiện nay nhờ có
nhiều ưu điểm là đơn giản, chỉ có một công đoạn chính là làm khô quả cà phê tươi đến
một mức độ nhất định rồi dùng máy xát loại bỏ các lớp vỏ thịt bọc ngoài để lấy nhân .
Chế biến khô có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng cao nếu nguyên liệu đầu vào

Khối lượng (hoặc thể tích) của bột cà phê rang bao giờ cũng lớn hơn khối lượng
(hoặc thể tích) của bột hạt đậu nành (đỗ tương) và bắp (ngô) rang
Hạt cà phê có một đặc điểm khác hẳn các loại hạt khác là khi rang lên đến 1
nhiệt độ nhất định sẽ nở lớn và thể tích tăng từ 1,5-2 lần và trọng lượng giảm từ 20-
30%. Cho nên, bột cà phê luôn luôn có khối lượng riêng thấp hơn bột các loại ngũ cốc
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú 12
khác và từ đó thể tích (hay khối lượng) của 1 kg bột cà phê luôn luôn lớn hơn thể tích
của bột các loại ngũ cốc rang.
2.1.2. Độ xốp của bột cà phê
Nhìn theo cảm quan, bột cà phê nguyên chất rất nhẹ, có độ xốp, tơi và rời. Bột
của hạt ngũ cốc khác thường dính lại, ít tơi bong hơn. Ngoài ra, hạt cà phê rang rất giòn,
có cấu trúc sợi cellulose đồng đều, dễ vỡ và vỡ đều trong cối xay, nên bột cà phê xay ra
có độ xốp, mịn tương đối đồng đều. Trái lại các loại hạt đậu, bắp rang, khi xay bột độ
mịn không đồng đều nên không có độ tơi xốp như bột cà phê nguyên chất.
2.1.3. Độ ẩm của bột cà phê
Bột cà phê nguyên chất ít ngậm nước, không có nhiều độ ẩm. Bột các loại ngũ
cốc khác thường giữ nước và có độ ẩm cao hơn. Hơn nữa, do hạt đậu và bắp không có
mùi thơm của cà phê, nên nhà sản xuất trộn thêm hóa chất, hương liệu cà phê tổng hợp,
nhân tạo vào trước khi xay ra bột. Do đó, bột cà phê pha tạp có vẻ ẩm ướt, thậm chí vón
cục khi được tẩm nhiều caramen tạo màu, khác hẳn với bột cà phê nguyên chất rất khô
và tơi xốp.
2.1.4. Màu của bột cà phê
Khi rang đến nhiệt độ và thời gian thích hợp…bột cà phê có màu nâu đậm. (Nếu
hạt cà phê rang chưa đến nhiệt độ và thời gian nổ lần 1 thì bột có màu vàng sáng vị
chua, và mùi nồng). Hạt bắp rang để độn vào cà phê thường có màu đen đậm. Còn đậu
nành rang và xay ra bột có màu nâu đậm đục, ngã vàng đục, hoàn toàn không giống
màu nâu đậm của bột cà phê. Nếu bạn nhìn thấy bột trong 1 bịch chứa có màu nâu đậm
ngả vàng, thể tích nhỏ, nhưng cầm nặng tay là tỷ lệ đậu nhiều. Bột có màu đen thui thể
tích cũng nhỏ là có trộn nhiều bắp.

Khi pha, nước của ly cà phê nguyên chất có độ sánh hầu như không đáng kể.
Trái với nước của bột bắp rang hay bột đậu rang, vốn chứa rất nhiều tinh bột, nên rất
sánh, rất đặc kẹo, thậm chí là sánh dẻo. Đậu nành rang chứa nhiều tinh bột nên khi cho
đá vào thì rất “ôm đá”. Cà phê thật không sánh dẻo và không “ôm đá”.

Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú 14
2.3.3. Mùi thơm của ly cà phê pha
Cà phê bột lẫn cà phê pha có một mùi thơm rất đặc trưng, rất quyến rũ. Nhiều
loại cà phê bột điều đã được tẩm hương liệu. Hương thơm đích thực và nguyên thủy của
cà phê không nồng nực, không thô bạo, không mạnh mẽ, nhưng dịu dàng, lưu luyến,
thanh cao, tinh tế và sâu lắng, đôi lúc làm ngây ngất người yêu cà phê… Nếu quen với
mùi cà phê nguyên chất bạn sẽ phát hiện ra mùi hóa chất tuy giả khá giống mùi cà phê
nhưng vẫn là giả tạo, vẫn mang hương vị gay gắt, tuy mạnh mẽ, dai dẵng nhưng thô
thiển và gây cảm giác nặng nề, không giống như mùi thanh cao của chính hạt cà phê
đích thực…
2.3.4. Vị của cà phê
Cà phê khi rang với thời gian đủ và đạt đến nhiệt độ thích hợp sẽ cho chúng ta ly
cà phê có vị đắng thanh xen lẫn vị chua nhẹ nhàng, rất tinh tế do yếu tố của các thành
phần acid ẩn chứa đằng sau của vị đắng trong hạt cà phê. Để đáp ứng với yêu cầu và thị
hiếu về khẩu vị trái ngược lại với thiên nhiên, với tự nhiên này của người tiêu dùng, một
số nhà sản xuất đã cố gắng làm cho cà phê mất đi vị chua thanh vốn có của nó bằng
cách tẩm vào bột cà phê các loại hóa chất tạo đắng có gốc kháng sinh. Hậu quả, ly cà
phê thường có vị đắng nhân tạo, tiêu diệt hẳn vị chua thanh quyến rũ của cà phê.
2.3.5. Bọt của cà phê
Bản thân nước pha cà phê khi đánh lên với đường cũng tạo ra 1 ít bọt màu nâu sáng
trông rất đẹp. Để đáp ứng đòi hỏi của khách hàng hầu giữ khách và thu lợi nhuận, một
số nhà sản xuất cho chất tẩy rửa bề mặt vào cà phê để tạo bọt. Nếu bọt mỏng tanh, có
óng ánh màu cầu vồng, đánh lên đầy cả ly và rất lâu tan nhìn ly cà phê có vẻ khá đẹp thì
chắc chắn đấy là bọt xà bông. Bọt cà phê tiêu biểu khá đồng đều về kích cỡ, đục hơn và

đem đi tiêu thụ”,
 Hàng có tiếng của nước ngoài bị một số người Trung Quốc, Hong Kong… làm
giả. Họ có thể in bao bì giả rồi tuồn lậu vào Việt Nam để người Việt Nam làm giả tại
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú 16
Việt Nam. Cũng có thể họ làm giả ngay tại Trung Quốc rồi đưa vào Việt Nam theo con
đường lậu (không có hóa đơn chứng từ).
 Khi khách hàng xem hàng thì người bán đưa hàng thật nhưng khi giao hàng hoặc
lấy hàng mới trong kho thì họ lại đưa hàng giả.
4. Tác hại của cà phê giả
4.1. Đối với nguời tiêu dùng
Cafe giả là một dạng gian lận thương mại, lừa dối người tiêu dùng. Việc dùng
bắp, đậu nành, ngũ cốc rang khét và phụ gia rất có hại cho sức khỏe của người tiêu
dùng.
Đậu nành hay bắp rang khét: Thông thường thực phẩm cháy khét là nguy hiểm,
đặc biệt là thực phẩm chứa chất béo khi bị rang nấu ở nhiệt độ cao sẽ sinh ra các hợp
chất có khả năng gây ung thư. Trong đậu nành và bắp đều chứa một lượng lớn chất béo
như vậy.
Chất tạo màu đen: Để tạo màu đen cho nước cafe, ngoài việc rang bắp và đậu
nành cho cháy đen, người ta còn sử dụng màu caramel. Màu caramel tại các cơ sở sản
xuất cà phê chủ yếu được nấu từ mật rỉ đường, vốn không được sử dụng trực tiếp cho
người mà làm thức ăn gia súc hay nuôi cấy vi sinh.
Chất tạo vị đắng: Khi sử dụng chất độn, độ đắng sẽ giảm xuống. Dù đậu nành
hay bắp rang khét có vị đắng nhưng không đủ. Các cơ sở có thể sử dụng thuốc ký ninh
(vị thuốc trị sốt rét có vị đắng), thuốc này có thể ảnh hưởng đến tim, thận, đặc biệt là
phụ nữ có thai .
Chất tạo sánh: Trong quá trình rang bắp (đậu nành) cháy đen sẽ làm cho tính
chất tạo sánh của chúng giảm, khi đó người ta bổ sung phụ gia. Hiện nay người ta hay
dùng CMC (Carboxy methyl cellulose) để tạo sánh cho cà phê vì đây là phụ gia được
dùng trong thực phẩm và công nghiệp. Tuy nhiên, nếu là CMC công nghiệp thì có thể

khẩu cà phê thô, cà phê nguyên liệu với giá cả bấp bênh, giá trị gia tăng thấp.
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú 18
5. Kiến nghị
Đối với Người tiêu dùng : phải có ý thức phân biệt cà phê thật và cà phê giả;
tác hại của cà phê giả với sức khỏe: lựa chọn cẩn thận từ bao bì, nhãn mác, xuất
xứ,thành phần…. đừng quá đặt nặng vấn đề giá rẻ, hãy quan tâm đến sức khỏe của mình
trước tiên, đừng để đến khi sự việc vỡ lở thì mới quay lại lo sợ. Chúng ta phải biết đòi
hỏi được cung cấp thực phẩm an toàn và chấp nhận chi trả hợp lý cho nhu cầu sức khỏe
của mình. Hợp tác với các cơ quan quản lý để phát hiện lên án cà phê giả.
Đối với cơ quan chức năng: cần có sự quan tâm giám sát chặt chẽ từ phía Đội
quản lý thị trường, Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Cục quản lý an toàn vệ sinh
thực phầm… Bộ Y Tế cần công bố quy định các chất phụ gia cho phép trong thực
phẩm đặc biệt trong chế biến cà phê để người tiêu dùng nhận biết lựa chọn đúng đắn ;
cần có các biện pháp chế tài hiệu quả với cơ sở sản xuất cà phê giả: ngưng, tịch thu,
đóng cửa các cơ sở sản xuất này
Đối với doanh nhiệp sản xuất cà phê giả: đề cao ý thức “ đạo đức kinh doanh”,
nhận thức được cái “ Tâm” rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến sự thành công hay thất
bại, đừng vì cái lợi trước mắt mà đánh đổi tất cả vì giả dối, lừa lọc thì không bao giờ tồn
tạị.


sản xuất cà phê đạt tiêu chuẩn. Tăng cường kiểm tra giám sát đối với những doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất đã được cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong
quá trình thanh tra đã phát hiện được nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng như tại cơ sở
Thông Phát (số 108 – lô 4 Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú).
 Quản lý thị trường: thường xuyên kiểm tra các khu chợ, tiệm tạp hóa, đã xử lý
hành chính và thu giữ một lượng lớn cà phê không rõ nguồn gốc. thực hiện việc kiểm
tra, xử lý việc buôn bán, lưu thông các loại cà phê không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng các quy định về bao bì, về ghi nhãn hàng hóa, các loại thực phẩm giả và
không đảm bảo chất lượng. Phối hợp với Sở Khoa học-Công nghệ và Môi trường kiểm
soát việc kinh doanh hóa chất, chất phụ gia dùng trong thực phẩm theo quy định hiện
hành.
 Về phía công an, đã phối hợp cùng Sở Y Tế kiểm tra xử lý các hoạt động sản
xuất kinh doanh cà phê giả, kém phẩm chất gây hậu quả xấu đến sức khỏe và tính mạng
người tiêu dùng. Cụ thể cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường – Bộ Công an
(C49) đã phối hợp với cục vệ sinh an toàn TP – Sở Y Tế TP.HCM thực hiện kiểm tra,
phát hiện xử phạt và đóng cửa hàng loạt các công ty chế biến cà phê từ đậu nành và hóa
chất độc hại.
4. Một số khó khăn trong công tác đấu tranh kiểm soát tình trạng cà phê giả :
 Tâm lý thích sản phẩm giá rẽ, chưa có kiến thức và sự quan tâm cần thiết đến
chất lượng sản phẩm. Một bộ phận ít tiếp xúc với các phương tiện truyền thông, do đó
mặc dù những thông tin về cà phê giả xuất hiện tương đối nhiều trên báo, đài, internet
nhưng vẫn còn khá nhiều người không biết, hoặc biết nhưng vẫn chấp nhận sử dụng.
Tâm lý thích hàng rẽ, sự thiếu thông tin và dễ dãi trong tiêu chuẩn sử dụng sản phẩm,
thiếu cảnh giác đã tạo nên cơ hội, môi trường tốt cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
cà phê giả phát triển.
 Hoạt động ngày càng tinh vi hơn nhằm qua mắt các cơ quan chức năng. Vì máy
móc đơn giả nên các lò sản xuất này chỉ cần một địa điểm nhỏ hẹp như sản xuất trong
nhà thì khó có cơ quan chức năng nào kiểm tra, phát hiện. Nếu đột nhập vào được hay
bị phát hiện thì chủ nhà nói chỉ sấy để uống thì không có cơ sở để xử lý. Một số cơ sở
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”

Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú 22
mang lại chưa cao.Việc tuyên truyền chống cà phê giả chưa được thực hiện một cách
rầm rộ trên qui mô lớn.
 Chế tài xử lý vi phạm trong nhiều trường hợp không mang tính thực tế, thiếu khả
thi gây nhiều khó khăn cho các cơ quan thực thi. Mức xử phạt này không tính đến quy
mô của cơ sở kinh doanh, trị giá hàng hoá kinh doanh nên nhiều trường hợp quá cao,
không có khả năng thi hành Quyết định xử phạt, hoặc quá thấp không có tính răng đe.
 Chính phủ giao cho Bộ Y tế quản lý an toàn thực phẩm. Như vậy trên nguyên tắc
Bộ Y tế có trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm. Nhưng trong thực tế đã có đến 4 bộ
tham gia vào việc quản lý này. Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn chỉ có trách
nhiệm quản lý ở khâu sản xuất nuôi trồng. Qua đến khâu chế biến lại thuộc trách nhiệm
của Bộ Công nghiệp. Đến khi mặt hàng nông sản/thực phẩm được phân phối, bày bán ở
thị trường thì các Bộ Y Tế và Bộ Thương Mại lại có trách nhiệm quản lý. Nhiều bộ chịu
trách nhiệm như vậy nên mạng lưới quản lý rất phức tạp, có khi chồng chéo nhau, có
khi lại thiếu chặc chẽ, không rõ trách nhiệm thuộc về ai. Đấy là chưa nói trong mỗi bộ,
việc tổ chức lại chồng chéo giữa các Vụ, Cục, Viện làm việc quản lý và thanh tra vốn đã
phức tạp nay lại càng rối rắm thêm.
Thực trạng hiện nay vẫn còn nhiều loại cà phê giả trôi nổi trên thị trường:
Vấn đề nguồn lực: Các cơ sở sản xuất cà phê được cấp phép quá nhiều, trong khi
nguồn lực của cơ quan quản lý thì có hạn, nên vẫn chưa triệt để giải quyết hết.
Nhìn nhận thiếu sót: Cơ quan quản lý không bỏ mặc quyền lợi của người tiêu dùng mà
là không kiểm soát hết các cơ sở sản xuất cũng như các loại hóa chất bán trên thị
trường.
5. Giải pháp khắc phục:
5.1. Rà soát và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chống hàng giả,
hàng kém chất lượng
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một trong những nhiệm vụ của quản lý nhà
nước và là trách nhiệm của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Thực tiễn cho thấy, khi nền
kinh tế thị trường càng phát triển, mức độ tự do hóa thương mại càng gia tăng thì càng

phê; nội dung kiểm tra gồm việc chấp hành pháp luật về đăng ký kinh doanh, điều kiện
Chủ đề: “Cà phê giả và cà phê thật”
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú 24
kinh doanh, giấy phép sản xuất, kinh doanh … để xử lý vi phạm theo pháp luật hiện
hành. Các trường hợp vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng đối với sản xuất, sức khỏe con
người, môi sinh, môi trường, vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm thì đình chỉ kinh doanh,
thu hồi giấy phép, chứng chỉ hành nghề và truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của pháp luật. Trong quá trình tổ chức thực hiện, các phương án kiểm tra phải thường
xuyên được sơ kết rút kinh nghiệm, bảo đảm việc kiểm tra có hiệu quả cao, tránh gây ra
những biến động trên thị trường.
Các lực lượng thanh tra, kiểm tra kiểm soát thị trường ở các ngành, các cấp cần
phối hợp thường xuyên, chặt chẽ trong công tác chống hàng giả, hàng kém chất lượng;
Công an, quản lý thị trường phải là lực lượng chủ công trong công tác đấu tranh chống
hàng giả ở thị trường nội địa theo hướng chuyên trách, chuyên nghiệp và có đủ quyền
pháp lý để thực thi nhiệm vụ.
5.3. Nâng cao nhận thức người tiêu dùng cà phê, doanh nghiệp sản xuất và
buôn bán cà phê trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình
Quyền được thông tin của người tiêu dùng được hiểu là quyền được biết những
thông tin cần thiết về sản phẩm như giá cả, thành phần, chất lượng, độ an toàn, nguồn
gốc, xuất xứ…để đưa ra quyết định lựa chọn sản phẩm đó, đồng thời được bảo vệ khỏi
những quảng cáo và việc gắn nhãn hiệu dễ dẫn đến hiểu lầm. Do đó, nếu quyền được
thông tin của người tiêu dùng được bảo vệ thì các quyền khác mới được bảo vệ một
cách thỏa đáng. Vì vậy, việc cần thiết phải làm là tập trung đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, nâng cao nhận thức của nhà sản xuất cà phê, người tiêu dùng cà phê và các cơ
quan quản lý, các cấp, ngành có liên quan đến quyền lợi của người tiêu dùng; đồng thời
tiếp tục mở các đợt tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới các chợ truyền thống, lễ hội cà
phê, chợ tự phát tại quận, huyện Các cơ quan thông tin đại chúng đưa tin, phản ánh
kịp thời, trung thực chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, chỉ đạo
của Thủ tướng Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan nhà nước ở các ngành, các cấp về
công tác chống hàng giả, hàng kém chất lượng, về tình hình hàng giả và công tác chống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status