Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………… 4
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………….5
2. Tình hình nghiên cứu ………………………………………………… 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………… 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu …………………………………… 6
5. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………….6
6. Kết cấu của khoá luận ………………………………………………….7
PHẦN NỘI DUNG ………………………………………………………….8
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……………………………………………….8
1.1. Thành phần kinh tế tư nhân …………………………………………… 8
1.1.1 Khái niệm kinh tế tư nhân ………………………………………8
1.1.2. Kết cấu của kinh tế tư nhân ……………………………………11
1.2. Sự cần thiết thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Việt Nam hiện nay ………………………………………………… 13
1.2.1. Khái niệm công nghiệp, hoá hiện đại hoá …………………….13
1.2.2 Tính tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Việt Nam hiện nay ………………………………………… 14
1.3. Vai trò của kinh tế tư nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nước ta hiện nay …………………………………………………… 16
1.3.1. Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động …………… 17
1.3.2. Huy động nguồn vốn trong xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển,
đóng góp vào ngân sách nhà nước và địa phương góp phần vào
xây dựng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ………………19
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
4
3.1.2 Phương hướng phát triển kinh tế tư nhân trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay ………… 46
3.2. Một số giải pháp để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển ………………48
PHẦN KẾT LUẬN ……………………………………………………… 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………62
cạnh tranh còn thấp…chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
6
hoá, hiện đại hoá. Để kinh tế tư nhân phát huy được vai trò trong phát triển
kinh tế đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có chính sách biện pháp quản lí phù
hợp, không làm mất vai trò của nó nhưng cũng không để nó vận động một
cách tự phát. Vì thế, tôi đã chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp phát
triển kinh tế tư nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam hiện nay” làm khoá luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu.
Phát triển kinh tế tư nhân là một vấn đề nổi bật trong quá trình chuyển
đổi nền kinh tế ở Việt Nam. Trước kia kinh tế tư nhân không được coi trọng
phát triển, thậm chí còn bị xoá bỏ, vì thế nền kinh tế của nước ta đã lâm vào
cuộc khủng hoảng. Vì vậy, khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì kinh
tế tư nhân được đặc biệt quan tâm, đã có rất nhiều nhưng bài báo, những công
trình khoa học… nghiên cứu về kinh tế tư nhân như:
Nguyễn Anh Dũng: “phát triển khu vực kinh tế tư nhân – thực trạng
nguyên nhân và giải pháp”.
PGS. TS Trịnh Thị Mai Hoa: “kinh tế tư nhân việt nam trong tiến trình
hội nhập”
Nguyễn Thanh Tuyền: “thành phần kinh tế tư nhân và quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Tuy nhiên các bài viết trên vẫn chưa phân tích một cách đầy đủ thực
trạng và giải pháp để kinh tế tư nhân phát triển. Do đây luôn là một vấn đề
mang tính cấp bách và luôn mang tính thời đại đối với sự phát triển kinh tế
Việt Nam hiện nay. Vì vậy, em đi sâu tìm hiểu, phân tích đầy đủ thực trạng và
đưa ra các giải pháp cần thiết, thiết thực để thúc đẩy kinh tế tư nhân nói riêng
thu thập được về kinh tế tư nhân.
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
8
6. Kết cấu của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của khoá luận gồm có ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kinh tế tư nhân trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
chủ chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra. Với cách hiểu này,
kinh tế tư nhân bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần (do tư nhân nắm tỷ lệ cổ phiếu khống chế) quan niệm kinh tế
tư nhân như vậy đã không bao gồm các cơ sở kinh tế cá thể.
- Kinh tế tư nhân gồm các đơn vị kinh tế mà phần lớn vốn do một hoặc
một số tư nhân góp lại, huy động cổ phần (nhưng do một hoặc một nhóm tư
nhân nắm cổ phần chi phối), thuê lao động sản xuất kinh doanh.
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
10
- Kinh tế tư nhân bao gồm các công ty doanh nghiệp tư nhân và các cơ sở
kinh tế cá thể. Nó còn bao gồm cả các hợp tác xã do tư nhân đội lốt, các
doanh nghiệp có vốn nước ngoài hoặc bao gồm các hộ kinh tế gia đình, tiểu
chủ và tiểu tư nhân có phân biệt theo giá trị tài sản và số lao động làm thuê.
Nghĩa là, kinh tế tư nhân bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế dựa trên sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất.
- Kinh tế tư nhân bao gồm các cơ sở kinh tế ngoài kinh tế nhà nước (kể
cả kinh tế hợp tác xã và kinh tế gia đình).
Kinh tế tư nhân cũng có thể được hiểu là khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh. Cách nhìn này dựa trên việc chia nền kinh tế thành ba khu vực kinh tế:
khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế cho thấy việc đưa khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi khu vực kinh tế tư nhân trong nước sẽ
không đánh giá đúng tiềm năng, cũng như vai trò của khu vực kinh tế này cho
sự phát triển kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong nền kinh tế mở, từng bước tiến
tới hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.
Trong các văn kiện của Đảng ta, kinh tế tư nhân thường được hiểu là một
thành phần kinh tế. Nghị quyết 16 Bộ chính trị và nghị quyết hội nghị TW lần
thứ 6 (khóa VI) nêu quan niệm: kinh tế tư nhân là đơn vị kinh tế do người có
khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (hoặc vốn) với các
hình thức tổ chức doanh nghiệp, công ty tư nhân và các cơ sở kinh tế cá thể.
Để hiểu rõ hơn về bản chất của kinh tế tư nhân, ta cần xem xét nó trên
các quan hệ kinh tế cơ bản sau:
Thứ nhất, về quan hệ sở hữu: kinh tế tư nhân thể hiện quan hệ sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất (hoặc vốn) cũng như của cải vật chất được tạo ra nhờ
sản xuất (hoặc vốn) ấy. Trong quá trình phát triển của sản xuất xã hội, sở hữu
tư nhân đã trải qua hai trình độ, phát triển từ thấp tới cao. Trình độ thấp là sở
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
12
hữu tư nhân nhỏ. Đây là sở hữu của những người lao động tự do sản xuất ra
sản phẩm từ lao động của chính mình và các thành viên trong gia đình. Trình
độ cao là sở hữu tư nhân lớn. Sở hữu này phát triển từ tư nhân nhỏ, song khi
nó được hình thành thì nó lại là cơ sở nảy sinh mâu thuẫn về giai cấp - mâu
thuẫn giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột.
Thứ hai, về quan hệ quản lý: xuất phát từ quan hệ sở hữu của kinh tế tư
nhân trong quan hệ quản lý của khu vực kinh tế này gồm các quan hệ quản lý
dựa trên sở hữu tư nhân lớn - đây là quan hệ quản lý giữa chủ sở hữu và
người lao động, giữa quản lý và bị quản lý.
Thứ ba, về quan hệ phân phối: trong kinh tế tư nhân, quan hệ phân phối
được dựa trên sở hữu tư nhân, do chủ tư nhân thực hiện. Đối với các cơ sở tư
nhân mà người sở hữu đồng thời là người lao động, không thuê mướn công
nhân, thì phân phối kết quả sản xuất được thực hiện trong nội bộ gia đình.
Còn các cơ sở sản xuất tư nhân lớn, chủ sử dụng lao động của lao động làm
thuê thì phân phối kết quả sản xuất thì căn cứ vào giá trị sức lao động của lao
động làm thuê để trả công cho họ, còn phần thặng dư thuộc về người sở hữu.
Tất nhiên, trong các phương thức sản xuất khác nhau thì quan hệ phân phối
của kinh tế tư nhân cũng có sự khác biệt nhất định.
phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh
cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn” [10, 31], phát triển các loại
hình thông tin với qui mô phù hợp trên từng địa bàn.
b, Bộ phận kinh tế tư bản tư nhân.
Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa
trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột
sức lao động làm thuê.
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa tư bản như hiện nay, thành phần
kinh tế này có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản
xuất, xã hội hóa sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
14
hội. Đây cũng là thành phần kinh tế rất năng động nhạy bén với kinh tế thị
trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng
kinh tế của đất nước. Hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát
triển, nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh
doanh bất động sản, đầu tư vào sản xuất còn ít và chủ yếu quy mô vừa và nhỏ.
Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích tư bản tư nhân bỏ
vốn vào đầu tư phát triển sản xuất, đáp ứng nhu cầu của dân cư. Nhà nước bảo
hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của họ: xóa bỏ định kiến và tạo điều kiện
thuận lợi về tín dụng, về khoa học công nghệ, về đào tạo cán bộ- cho thành
phần kinh tế này.
Tuy nhiên,đây là thành phần kinh tế có tính tự phát rất cao.Trong văn
kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định: “khuyến khích
phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất,
kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về
chính sách pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định
hướng ưu tiên của nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích
mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ". Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là
quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc với các lĩnh vực của đời sống xã hội
(kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ…) làm cho xã hội phát triển lên một
trạng thái mới về chất. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, là phải xây
dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp
và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Chính vì vậy muốn
thực hiện thành công nhiệm vụ trên thì nhất thiết phải tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa tức là chuyển kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành kinh tế
công nghiệp.
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
16
Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, thì cũng cần có một nền
kinh tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội cân
phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất tiên tiến nhất của khoa
học và công nghệ.Cơ sở vật chất kỹ thuật đó phải tạo ra được một năng suất
lao động xã hội cao. Do đó chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại
hóa để tạo nền tảng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Ngoài ra, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kĩ thuật còn thấp kém, trình độ của lực lượng
sản xuất chưa phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập,
chưa hoàn thiện. Vì vậy, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa là rất cần
thiết.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công
nghệ, sản xuất, tăng năng suất lao động công nghiệp hoá hiện đại hoá chính là
thực hiện xã hội hoá nhiều mặt, góp phần ổn định, ngày càng nâng cao đời
hiện các chủ truơng về xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục… đem lại thu nhập
cao hơn cho nguời lao động. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp thu nhập cao
hơn nghĩa là thị trường rộng lớn hơn, sức khỏe và giáo dục tốt hơn thì lực
lượng lao động có năng suất cao hơn sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Chính vì
vậy, kinh tế tư nhân ngày càng có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển của
đất nước nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra
hết sức mạnh mẽ như hiện nay. Đồng thời nhờ có kinh tế tư nhân chúng ta sẽ
hoàn thành mục tiêu cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo huớng hiện
đại vào năm 2020. Vai trò của kinh tế tư nhân trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa được thể hiện trong nhiều mặt của đời sống xã hội.
1.3.1. Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
18
Khu vực kinh tế tư nhân phát triển khắp các vùng của cả nước tạo khả
năng to lớn trong việc giải quyết việc làm và ổn định đời sống cho người lao
động (nhất là trong hoàn cảnh thất nghiệp như hiện nay).
Theo báo cáo của viện nghiên cứu kinh tế trung ương(CIEM), tổng số
lao động làm việc tại các doanh nghiệp năm 2006 là 6722,2 ngàn người, tăng
3184,7 ngàn người so với năm 2000. Trong đó, số lao động làm việc trong
DNNN đã giảm mất 181,5 ngàn người; trong đó doanh nghiệp tư nhân tăng
thêm 2329 ngàn người và trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(DNFDI) tăng thêm 1037,7 ngàn người. Như vậy, DNNN trong 7 năm qua
không tạo thêm công ăn việc làm mới cho người lao động; mà ngược lại, đã
mất đi hơn 181 ngàn chỗ làm việc. Ngược lại, số lao động làm việc trong
doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng hơn 3 lần trong những năm 2000-
2006, từ hơn 1 triệu lên hơn 3 triệu người. Tương tự, số lao động làm việc
trong các DNFDI đã tăng hơn 3 lần, từ hơn 407 ngàn người năm 2000 đã tăng
doanh sẽ có điều kiện di chuyển, thay đổi nơi làm việc một cách tự do không
bị ràng buộc bởi các cơ chế. Như vậy, tính cạnh tranh trên thị trường lao động
sẽ gay gắt hơn và chính sự cạnh tranh đó sẽ làm chất lượng lao động được
nâng cao.
Tính đến nay khu vực kinh tế tư nhân đã giải quyết trên 5 triệu việc làm
mới, bình quân 800.000 lao động/năm, chiếm 50% số lao động tăng thêm của
cả nước. Giai đoạn 2000 - 2008, cả nước có 330.490 doanh nghiệp đăng ký
hoạt động, gần 4 triệu hộ kinh doanh cá thể. Trong 3 năm gần đây, số doanh
nghiệp thành lập mới tăng gấp 1,5 lần về số lượng và gấp 5 lần về số vốn
đăng ký so với giai đoạn 2000 - 2005. Với trình độ lao động ngày càng cao
tay nghề ngày càng khéo léo hơn, góp phần giải quyết bài toán thất nghiệp
cho xã hội. [15, 134]
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
20
Như vậy, kinh tế tư nhân đã góp phần đáng kể vào việc xóa đói giảm
nghèo cải thiện đời sống cho nhân ở thành thị cũng như nông thôn. Theo thực
tế khảo sát, thu nhập của người lao động ở khu vực kinh tế tư nhân thường có
mức lương cao hơn thu nhập trồng lúa ở nông thôn cùng địa bàn.
1.3.2. Huy động nguồn vốn trong xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển,
đóng góp vào ngân sách nhà nước và địa phương, góp phần vào xây dựng
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Là một bộ phận hợp thành của kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tư
nhân đã góp phần khai thác tổng thể các nguồn lực của nền kinh tế quốc gia.
Thông qua việc huy động nguồn vốn trong xã hội đầu tư cho phát triển. Trong
những năm qua vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng tăng nhanh
trong tổng số vốn đầu tư của toàn xã hội. Năm 1990 mới có 3544 tỷ đồng,
năm 1999 là 21.000 tỷ đồng, đặc biệt trong những năm qua tư khi có luật
doanh nghiệp ra đời (từ 2000-2003) thì tổng số vốn mà các doanh nghiệp tư
Các loại hình doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp vao ngân sách nhà
nước với tỷ lệ ngày một tăng: năm 2001 là 6.4% năm 2002 là 7% năm 2007
là 10.6% tổng thu ngân sách. Ngoài việc đóng góp vào ngân sách nhà nước thì
kinh tế tư nhân còn đóng góp vào ngân sách của địa phương, chẳng hạn như:
TP.Hồ Chí Minh là 38%, Tiền Giang là 24%, Đồng Tháp là 16% Ngoài ra,
các doanh nghiệp tư nhân còn góp phần không nhỏ vào các phong trào đền ơn
đáp nghĩa, ủng hộ để xây dựng các công trình công cộng: cầu, cống, trường
học, trạm xá, khu văn hóa, thể thao, nhà tình nghĩa, nhà tình thương, quỹ
khuyến học…ở các địa phương. Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
22
1.3.3. Tạo nên sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất,
thực hiện dân chủ hóa kinh tế.
Khu vực kinh tế tư nhân phát triển đa dạng về các hình thức sở hữu với
các trình độ xã hội hóa về sở hữu, về quản lý và về phân phối, tạo nên sự phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở các ngành, các lĩnh vực
sản xuất,tư đó tạo ra khả năng huy động rộng rãi, tiêm năng nguồn lực, động
lực, trong toàn xã hội để đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều của cải làm giàu
cho mình và cho đất nước ( khắc phụ tình trạng trì trệ trong nền kinh tế tập
trung bao cấp trước đây).
Các loại hình tổ chức của kinh tế tư nhân được khuyến khích đầu tư sản
xuất kinh doanh và tự do phát triển, được nhà nước tạo điều kiện, pháp luật
bảo hộ và là biểu hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế trong đời sống xã hội ở
nước ta. Tứ đó, nó khơi dậy và phát huy tính năng động, nhạy bén, cần cù,
sáng tạo của quần chúng nhân dân trong lao động và sản xuất, thúc đẩy kinh
tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng quan hệ kinh
Năm
Tổng sản phẩm
trong nước(tỷ
đồng)
Nông nghiệp
Công nghiệp
và xây dựng Dịch vụ
1990 41.995 38.74 22.67 38.59
1995 228.892 27.18 28.76 44.06
2000 441.646 24.53 36.73 38.74
2008 1477.717 22.1 39.73 38.17
2009 1645.481 20.66 40.24 39.1
(Nguồn: Tổng cục thống kê-Niên giám thống kê 2009)
Như vậy là kinh tế tư nhân đã góp phần to lớn vào việc thực hiện đường
lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thế Anh – K33 GDCT
Trường ĐHSP Hà Nội 2
24
1.3.5. Kinh tế tư nhân góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hiện
đạ hóa sản xuất.
Với sự phát triển nhanh cả về quy mô và tốc độ của quá trình hội nhập
quốc tế, các phạm trù giao dịch quốc tế ngày càng mở rộng như giao dịch
hàng hóa, dịch vụ, thông tin, đầu tư, tài chính… và Việt Nam đang mở rộng
ngừng tăng lên từ 3 tỷ USD năm 2004 lên 7,4 tỷ USD vào năm 2008 và 6.8 tỷ
USD năm 2009.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng từ 2.4 tỷ USD năm 1990 lên
14.6 tỷ USD năm 2000, năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 19.843 tỷ USD
lên 64.8 tỷ USD vào năm 2008, đứng vào hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo,
cà phê, hồ tiêu…Trong đó kinh tế tư nhân góp phần chủ yếu.
1.3.6. Kinh tế tư nhân góp phần quan trọng vào việc phát triển xã hội.
Mục tiêu của phát triển xã hội là tạo ra sự công bằng về cơ hội cho tất
cả các thành viên trong xã hội bất kể vị thế kinh tế và xã hội của họ thông qua
các dự án xã hội. Những dự án này bao gồm giáo dục và đào tạo, sức khỏe,
nhà ở, trợ giúp cho sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Về trách nhiệm xã hội, nhiều công ty thuộc kinh tế tư nhân xem trách
nhiệm xã hội là trách nhiệm của họ, hành động với tư cách như những công
dân tốt trong xã hội, nhằm đảm bảo những mối quan tâm của xã hội như: môi
trường an toàn của khách hàng, an toàn của người lao động…, Sẽ được đảm
bảo và quan tâm một cách thích đáng trong kế hoạch kinh doanh và trong quá
trình hoạt động. Tại một số quốc gia, các doanh nghiệp tư nhân thường tuân
thủ tốt hơn những quy định về mặt môi trường so với các doanh nghiệp nhà
nước.