HÀ NỘI – 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Bài Thảo Luận
Học phần: Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn:
Nhóm : 08
Lớp : 1315RLCP0111BẢNG PHÂN NHIỆM VỤ
Danh sách nhóm
Stt Họ tên Điểm Kí tên
1 Vũ Thị Tươi
2 Hoàng Thị Xuyến
3 Nguyễn Thị Hà Yên
4 Vũ Thị Yến
5 Đặng Thị Hồng Vinh
6 Phạm Thị Thanh Xuân
7 Đào Mai Yến
8 Nguyễn Thị Ứng
9 Chu Tuấn Viêt
10 Trần Thị Vui
11 Nguyễn Thị Uyên
12 Hoàng Thị Thu Vân
13 Trần Thị Xiêm
14 Kiều Thị Xuyến
Nhóm trưởng
Trả lời :
Quá trình chuẩn bị về tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam : - Với
sự giúp đỡ của Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng một số chiến sĩ cách mạng ở nhiều
nước thuộc địa của Pháp thành lập hội liên hiệp thuộc địa năm 1921 ở Pari nhằm tập
hợp tất cả những người dân sống ở thuộc địa của Pháp đấu tranh chống Chủ nghĩa thực
dân. Đến ngày 11/11/1924, Người tới Quảng Châu, Trung Quốc.Tại đây,Người cùng các
nhà cách mạng của Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ… thành lập hội liên hiệp các đân tộc
bị áp bức.
- Bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam đó là: Ngày 6/1925, Người thành lập hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
+ Hội đã mở lớp huấn luyện chính trị,cách mạng cho cán bộ cách mạng Việt Nam.
+ Xây dựng được nhiều trung tâm kinh tế, chính trị trong nước.
+ 1928, chủ trương vô sản hóa.
- Nguyễn Ái Quốc lựa chọn những thanh niên Việt Nam ưu tú gửi đi học tại các trường
Đại học Phương Đông (Liên Xô), trường Lục Quân Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đạo
tạo các cán bộ cho cách mạng Việt Nam.
- Người tổ chức ra các tờ báo: Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, tiền phong.
- Người có vai trò lớn trong việc thống nhất ba Đảng Cộng sản cùng tồn tại, ảnh
hưởng ở Việt Nam lúc bấy giờ thành một Đảng Cộng Sản duy nhất. Nhận được tin về sự
chia rẽ của những người Cộng sản ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm tới Trung
Quốc. Người chủ trì hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ 6.1 tới 8.1
năm 1930 dẫn tới sự thống nhất ba đảng trên thành một Đảng duy nhất có tên Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Câu 3: Phân tích nội dung của Cương Lĩnh tháng 2-1930 (tập trung xác định nhiệm
vụ Cách mạng, lực lượng Cách mạng).
Trả lời:
Cương lĩnh được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh
xác định vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mạng là
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
*)Ý nghĩa Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
- Cương lĩnh khẳng định cách mạng Việt Nam phải tiến hành bằng bạo lực cách mạng
của quần chúng, để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, rồi dựng ra
chính phủ công nông binh chứ không phải bằng con đường cải lương.
- Cương lĩnh đầu tiên khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng "thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng phải thu phục cho
được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng
đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến", đồng thời phải liên minh với các giai cấp cách
mạng và tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết họ, tổ chức họ đấu tranh cho giai phóng dân
tộc và để đi tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
- Cương lĩnh đâu tiên là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác -
Lênin, đường lối của Quốc tế cộng sản và kinh nghiệm cách mạng thế giới vào hoàn cảnh
cụ thể nước ta, là sự thể hiện tập trung tư tưởng cơ bản của Nguyễn ái Quốc về cách
mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước thuộc địa nửa phong kiến.
Tuy sau này bị phê phán, nhưng thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh cho sự
đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên.
*) Ý nghĩa sự thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
- Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quy tụ và hợp nhất được ba tổ chức cộng
sản thành một Đảng Cộng Sản duy nhất – Đảng Cộng Sản Việt Nam - theo 1 đường lối
chính trị đúng đắn , tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong
trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh dân tộc và
đấu tranh giai cấp, phong trào yêu nước ở Việt Nam, phong trào công nhân , là sự khẳng
định vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mac-Lenin đối với cách
mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là 1 bước ngoặt vô cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạnh Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp công nhân ta đã
trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.
- Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một
bộ phận của cách mạng thế giới đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế
cách mạng: một là, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành đọc lập cho dân tộc, tự do
cho nhân dân; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân,chủ
yếu là ruộng đát cho nông dân.Trong đó chống đế quốc, giải phóng dân tọc là nhiệm vụ
hàng đầu.
Trong luận cương tháng 10/1930 đã không làm nêu được mâu thuẫn chủ yếu tồn tại trong
xã hội Việt nam lúc bấy giờ, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc
lên hàng đầu.
Câu 6: So sánh nhiệm vụ cách mạng, lực lượng cách mạng được Đảng ta xác định
trong Cương lĩnh tháng 2- 1930 và Luận cương tháng 10-1930.
Trả lời:
*) Nhiêm vụ Cách mạng
- Cương lĩnh tháng 2.1930 xác định: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến;
làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân
đội công nông.=> Vấn đề chủ yếu là chống thực dân.
- Luận Cương tháng 10.1930 xác định : Đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng
đất triệt để và đánh đổ đế quốc chu nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
=> Vấn đề thổ địa là cái cốt.
- Giống : đều xác định một trong các nhiệm vụ quan trọng của Cách mạng là đánh đổ
phong kiến, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nhân dân.
- Khác :
+ Cương lĩnh tháng 2.1930 : đặt nhiệm vụ đánh đổ đế quốc lên hàng đầu.
+ Luận cương tháng 10.1930 chưa có chiến lược Đại đoàn kết dân tộc và đặt nhiệm vụ
thổ địa ruộng đất là thiết yếu.
*) Lực lượng Cách mạng
- Cương lĩnh tháng 2.1930 xác định: chủ trương chiến lược Đại đoàn kết, toàn bộ các
giai cấp, tầng lớp yêu nước đều tham gia trong đó lực lượng lòng cốt là giai cấp vô sản –
công nông binh.
- Luận cương tháng 10.1930 xác định: giai cấp vô sản là giai cấp chính tham gia và lãnh
đạo cách mạng.
- Giống: đều xác định được lực lượng chính và sẽ lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản.
Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc
lập , tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi
kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được.
Với những lý do trên Đảng ta đã xác định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng
đầu.
Câu 8: Tại sao trong giai đoạn 39-45 Đảng ta lại xác định hình thái của cuộc khởi
nghĩa là đi từ từng phần đến tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước?
Trả lời :
*) Cơ sở lí luận:
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- lenin về khởi nghĩa vũ trang: khởi nghĩa vũ trang là
nghệ thuật biết thắng từng bước cho đúng, đánh lui địch từng bước, đánh đổ từng bộ
phận, đánh bại từng mục tiêu , tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.
=>Tư tưởng, chủ trương đáng từng phần, từng bộ phận ròi mới tiến lên tổng khởi nghĩa
toàn phần là có cơ sở khoa học, rất phù hợp .
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước ông cha ta cũng đúc kết và khẳng định cần lấy nhỏ
thắng lớn, lấy ít thắng nhiều, từ từng phần mà tiến tới tổng khởi nghĩa sẽ đúng quy luật
vận động của các cuộc đấu tranh.
*) Cơ sở thực tiễn:
- Địa hình nước ta ¾ là đồi núi hiểm trở, mỗi vùng lại có điều kiên tự nhiên, cơ sở vùng
rất khác biệt nên ta cần tiến hành cách mạng từng khu, từng miền với phương pháp, cách
thức khác nhau theo kiểu từng phần.
- Khởi nghĩa từng phần để mọi miền, mọi vùng đều có các lực lượng vừa biết sản xuất
đồng thời đều được tập luyện thao lược cách chiến đấu.
- Không tập trung khởi nghĩa toàn bộ ngay để cho ta có thời gian rèn luyện, tránh sự tập
kích tàn phá của địch vào cơ quan đầu não cách mạng.
- Với mỗi khu, địch lại phân bố thế và lực khác nhau nên cần có các cuộc khởi nghica
nhỏ lẻ từng phần để tiêu hao, hao mòn từng chút, từng bộ phận sinh lực địch.
Câu 9: Trong Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc 25.11.1945 , Đảng ta đã xác định những
nhiệm vụ nào? Nhiệm vụ nào quan trọng nhất? Tại sao?
Trả lời :
*) Kháng chiến toàn dân:
- Xuất phát từ quan điểm Cách mạng là sự nghiệp quốc gia, nhân dân là người làm nên
lịch sử, Đảng ta khẳng định Kháng chiến toàn dân là: “Bất kì đàn ông đàn bà không
chia tôn giáo , đảng phái dân tộc, bất kì người già, người trẻ. Hế là người Việt Nam thì
phải đứng lên đánh thực dân Pháp, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mối làng
xóm là một pháp đài.”
- Với chủ trương đoàn kết toàn dân đánh Pháp ta đã tập hợp 1 lực lượng cách mạng hùng
hậu của cả dân tộc tham gia vào kháng chiến chống Pháp làm nên chiến thắng Điện Biên
Phủ lịch sử 1954 và kháng chiến chống Mỹ năm 1975.
*)Ý nghĩa của tư tưởng toàn dân trong công cuộc đổi mới ngày nay:
- Là kim chỉ nam cho mọi phương hướng, chính sách hoạt động của Đảng và nhà nước ta.
Tất cả mọi hành động đều phải huy động hết sức dân. Đề cao vai trò của người dân đối
với mối quốc gia dân tộc. Dân là gốc,dân với quốc gia như thuyền với nước, đẩy thuyền
là dân mà lật thuyền cũng là dân. Đảng và nhà nước cầ hiểu dân, do dân và vì dân.
- Toàn dân hợp lực là một sức mạnh to lớn vô cùng, các chủ trương hoạt động của nhà
nước ta nếu biết kết hợp sức dân, tạo nên sự đại đoàn kết dân tộc thì chuyện gì cũng có
thể thành công.
Câu 11: Kháng chiến toàn diện là gì? Nêu ý nghĩa của tư tưởng toàn diện trong công
cuộc đổi mới ngày nay?
Trả lời :
Đồng hành cùng chiến lược kháng chiến toàn dân là chiến lược toàn diện, đã toàn dân thì
phải toàn diện, Kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt , mọi phương diện như :
Về chính trị phải đoàn kết toàn dân chống pháp xâm lược, phải thống nhất toàn dân, làm cho
mặt trận dân tộc thống nhất mỗi ngày một vững, mỗi ngày một rộng. Phỉ củng cố chế độ cộng hoà
dân chủ, xây dượng bộ máy kháng chiến vững mạnh thống nhất quân, chính, dân trong toàn quốc,
ptriển các đoàn thể cứu quốc, củng cố bộ máy lãnh đạo kháng chiến toàn dân. phải cô lập kẻ thù,
kéo thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân pháp và ndân các thuộc địa pháp tích cực ủng hộ ta, chống
lại thực dân phản động pháp.
Về quân sự: triệt để dùng “ du kích vận động chiến”, tiến công địch ở khắp nơi, vừa đánh định
vừa xây dựng lực lượng, tản cư nhân dân ra xa vùng chiến sự.
- Cách mạng Việt Nam luôn lấy Chủ nghĩa Mac- Lênin làm kim chỉ nam cho sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong Chủ nghĩa Mac- Lênin đã nêu quan điểm về bạo lực
vũ trang như sau: “Bạo lực vũ trang luôn là bà đỡ cho xã hội mới đang được thai nghén
trong xã hội cũ”,”vũ khí phê phán không thể phê phán được bằng vũ khí”, “đó là nghệ
thuật biết thắng từng bước cho thắng” –Lênin
- Cuộc chiến tranh chống lại Đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh
chính nghĩa,cuộc chiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ đối với Viêt Nam là cuộc chiến
tranh phi nghĩa,cũng như là bạo lực cách mạng đối lập với bạo lực phản cách mạng.
Cơ sở thực tiễn:
- Trên thực tế,Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã diễn ra hoàn toàn thắng lợi với sự kết hợp
của đấu tranh chính trị cùng với bạo lực vũ trang và dân quân tự vệ.
- 9 năm kháng chiến chống Pháp, quân và dân ta đều tiến hành các cuộc bạo lực cách
mạng trên các mặt trận như mặt trận Điện Biên Phủ, Và dân tộc ta đã dành được độc
lập, tự do từ tay Thực dân Pháp.
- Thực tế cách mạng miền nam (1954-1959), Đảng ta một bên sử dụng kiên trì đấu tranh
hòa bình,yêu cầu Pháp chấp hành nghiêm chỉnh hiệp định Gionever nhưng thực dân Pháp
không hề tuân thủ những quy định trong hiệp định. Đảng ta đã rút ra kinh nghiệm từ đây
để xác định con đường cơ bản phát triển cách mạng miền nam là bạo lực cách mạng đối
với Đế quốc Mỹ.
Vì vậy, Nghị quyết 15- 1-1959, Đảng ta đã khẳng định “Con đường phát triển cơ bản
cách mạng miền nam là bạo lực cách mạng”.
Câu 13:Phân tích vai trò, vị trí, mối quan hệ của hai miền Nam, Bắc được thể hiện
trong Đại hội III của Đảng năm 1960?
Trả lời: .
Vai trò, vị trí của hậu phương vững chắc miền Bắc :
Khi bàn về chiến tranh cách mạng, Lênin có một luận điểm nổi tiếng: “Muốn tiến hành
chiến tranh một cách nghiêm chỉnh phải có một hậu phương tổ chức vững chắc”. Hậu
phương và tiền tuyến có mối quan hệ vô cùng mật thiết. Hậu phương mạnh thì tiền tuyến
mạnh. Tiền tuyến đánh thắng sẽ bảo vệ được hậu phương, động viên và tạo điều kiện
thuận lợi để hậu phương cũng cố và xây dựng. Ngược lại, việc xây dựng hậu phương
sức người, sức của cho miền Nam, miền Nam bằng mọi cách đạt được hi vọng, niềm tin
được miền Bắc gửi gắm.
Câu 14 : Vì sao nói: mặc dù Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam
nước ta nhưng so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay đổi
lớn?
Trả lời:
Đầu năm 1965 nhằm cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản
của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc “chiến tranh cục bộ” ồ ạt
đưa quân đội viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam. Tình
hình đó buộc Đảng ta phải mở các hội nghị nhằm phân tích tình hình để đề ra các đường
lối đấu tranh đúng đắn. Hội nghị trung ương lần thứ 11 và 12 đã tập trung đánh giá tình
hình và đề ra đường lối kháng chiến trong cả nước. Trên cơ sở đó Đảng cũng nhận định
“Mặc dù đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta nhưng
so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay đổi lớn”.
Vì sao Đảng lại có nhận định như vây? Đảng căn cứ vào 3 vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, căn cứ vào thế và lực của ta và địch trên chiến trường. Về phía ta,
đang giành thế chủ động tấn công trên mọi mặt trận đã đánh tan chiến lược chiến tranh
đặc biệt của kẻ thù, vì vậy tạo niềm tin và sức mạnh tinh thần rất lớn, đặc biệt chúng ta
đang ở thế tiến công. Ngược lại, quân địch rơi vào trạng thái hoang mang lo sợ, bị động
do chúng ta đã chiến thắng trên chiến trường. Vì vậy, khi quân địch tăng cường quân viễn
chinh mặc dù cũng là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới nhưng buộc phải
thực thi trong thế thua, thế thất bại và thế bị động cho nên chứa đựng đầy mâu thuẫn về
chiến lược.
Thứ hai, các lực lượng tiến bộ trên thế giới phản đối cuộc chiến tranh
xâm lược của Mỹ một cách gay gắt vì vậy chúng tăng cường quân viễn chinh cũng chỉ
là hành vi uy hiếp tinh thần, chúng muốn chứng tỏ sức mạnh quân sự của mình nhưng
thực chất bọc lộ sự nhu nhược và bất lực. Bởi lẽ, chúng đang tiến hành một cuộc chiến
tranh xâm lược phi nghĩa nhưng nhân dân ta đang tiến hành cuộc chién tranh chính nghĩa
chông lại đế quốc để giành độc lập, tự do, vì vậy luôn được sự ủng hộ của nhân dân thế
giới. Chính điều này cũng phần nào tạo tâm lý lo ngại cho kẻ địch nhưng lại là nguồn lực
Trả lời:
*) Nội dung cơ bản chuyển hướng chỉ đạo chiến lược:
- Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi
được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp-
Nhật. Ban Chấp hành Trung ương quyết định tạm gác khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia
ruộng đất cho dân cày” bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian
chia cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm
tức”…
- Thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (còn gọi là Việt Minh) để đoàn kết, tập hợp lực
lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc thay cho hình thức mặt trận trước
đó; đổi tên các hội phản đế thành hội cứu quốc
- Xác định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân
dân ta trong giai đoạn hiện tại; ra sức phát triển lực lượng cách mạng (bao gồm lực lượng
chính trị và lực lượng vũ trang), xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng.
- Xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: lãnh đạo cuộc khởi nghĩa
từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi mở đường cho một cuộc tổng khởi
nghĩa to lớn.
- Chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của
Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ cho cách mạng và đẩy mạnh công tác
vận động quần chúng.
- Đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kêu gọi Đoàn kết dân tộc để đánh Pháp
đuổi Nhật.
- Các cấp bộ Đảng và Mặt trận Việt minh tích cực xây dựng các tổ chức cứu quốc của
quần chúng, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của
quần chúng.
=> Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận thức nhiệm vụ giải phóng
dân tộc lên cao hơn hết thảy, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt
trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành
thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, nâng cao hơn nữa năng lực tổ
chức và lãnh đạo của Đảng là tinh thần chung của quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến
Trả lời:
*) Lợi thế:
- Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển ngày càng cao, thúc
đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội.
Đây là cơ hội thuận lợi cho phép chúng ta có thể khai thác những nguồn lực bên trong đất
nước hiệu quả, thực hiện CNH rút ngắn, kết hợp các bước đi tuần tự với nhảy vọt, vừa đi
trước đón đầu.
-Nước ta có vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc phát triển và giao lưu kinh tế. Nằm trên
bán đảo Đông Dương gần trung tâm ĐNA, VN là cửa ngõ đầu mối giao thông của các
tuyến đường quốc tế quan trọng. Do đó, chúng ta có điều kiện để mở rộng các hoạt động
kinh tế đối ngoại.
- Có nguồn lao động dồi dào,.
- Có quan hệ rộng rãi với các nước trên thế giới ( đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa),
vị thế, nền độc lập dân tộc được công nhận và ngày càng nâng cao trong khu vực.
- Bên cạnh đó, nước ta còn có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, cần cù, ham học hỏi.
- Tài nguyên thiên nhiên phong phú, giàu có.
- Nước ta nhận được nguồn viện trợ rất lớn từ các nước XHCN, nhất là Liên Xô.
*) Nhận xét những lợi thế đó trong điều kiện hiện nay:
- Nguồn lao động của chúng ta dồi dào nhưng trình độ tay nghề còn kém.
- Hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt dần vì khai thác quá mức và
không hiệu quả.
=> Lợi thế của nước ta hiện nay: quá trình toàn cầu hóa và xu thế hội nhập quốc tế tạo
cho nước ta nhiều cơ hội.
Câu 18. Tại đại hội 6 Tháng 12.1986, Đảng đã đánh giá VN tiến hành CNH khép kín
hướng nội thiên về CN nặng. Theo anh chị mô hình này có phù hợp với VN k? Vì sao?
Trả lời: CNH theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên về công nghiệp
nặng không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ. Vì:
- Nước ta đi lên từ 1 nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu, nghèo nàn và trong điều kiện
chiến tranh kéo dài, bị tàn phá nặng nề,vừa không thể tập trung sức người, sức của cho
công nghiệp hóa. Vì vậy, nước ta phải đi lên từ từ.
đứng đầu là Mĩ; trình độ dân trí còn thấp, Để cải thiện và nâng cao, chúng ta phải tiến
hành CNH.
- Chúng ta nhận được sự viện trợ rất lớn từ các nước XHCN ( đặc biệt là Liên Xô).
Chúng ta tiến hàng CNH hướng khép kín, công nghiệp nặng theo Liên Xô.
- Trình độ LLSX nước ta thấp, vậy phải CNH để nâng cao LLSX.
- Trên thế giới, khoa học công nghệ đang có bước tiển nhảy vọt và có những đột phá lớn.
Đây là cơ hội thuận lợi cho phép chúng ta có thể khai thác nguồn lực bên ngoài và những
nguồn lực trong nước có hiệu quả.
- Là 1 nước đi sau, để xây dựng thành công XHCN, chúng ta phải tiến hành CNH trên cơ
sở học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới.
Câu 20. Vì sao ở VN CNH phải gắn với HĐH? Sự gắn kết này có phải là đặc điểm riêng
của Việt Nam? Tại sao?
Trả lời:
*) Ở VN CNH phải gắn với HĐH vì
- CNH là: quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh
tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị
gia tăng, v.v.
- CNH-HĐH là: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công
nghệ, xây dựng cơ cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội
từ trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự
tăng trưởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nói tóm lại
đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện.
- HĐH là cái đích cuối cùng mà CNH phải hướng tới. Vì không hiện đại hóa mà chỉ
công nghiệp hóa thì dùng những máy móc cũ sẽ tốn hao nhiên liệu nhiều , sản
phẩm kém chất lượng , giá thành cao không cạnh tranh với cơ chế thị trường ,cụ
thể như nhà máy sản xuất xi măng nhập loại cũ về dùng không được mà lại tốn
tiền , nên công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa tức là dùng những máy
móc tối tân hiện đại để bắt kịp với đà tiến triển trong khu vực và thế giới. Trong
kinh tế thị trường cạnh tranh rất khốc liệt, nếu máy móc chúng ta lạc hậu chi phí
nâng cao chất lượng cuộc sống . trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế
có tác động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa nhiều vào tri thức, dựa vào
các thành tựu mới của khoa học, công nghệ. Đó là những ngành kinh tế mới dựa
trên công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và cả những
ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ được ứng
dụng khoa học, công nghệ cao.
- Đặc điểm kinh tế tri thức:
+ Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý, là nguồn lực quan
trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển của kinh tế.
+ Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những bước biến đổi sâu
sắc, nhanh chóng, trong đó các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành
tựu mới nhất của khoa học và công nghệ ngày càng tăng và chiếm đa số.
+ Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội.
+ Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa và phát triển con người trở thành
nhiệm vụ trọng tâm của xã hội.
- Việt Nam cần có những giải pháp để phát triển kinh tế tri thức trong thời gian tới:
+thứ nhất, phải đổi mới cơ chế và chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới,
phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
+Thứ hai, chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nh
+Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.ân tài.
+Thứ tư, tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia để có thể tiếp thu,
làm chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học và công nghệ mới nhất của thế
giới cần thiết cho sự phát triển nước ta, từng bước sáng tạo những công nghệ mới
đặc thù của nước ta, xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến của Việt Nam.
Câu 23. Phân tích vai trò nguồn lực của con người trong quá trình xây dựng CNHHĐH
Trả lời: Quá trình CNH – HĐH ở nước ta phải phát huy nguồn lực con người là yếu tố
cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vứng bởi:
- Các nguồn lực khác phục vụ cho hoạt động kinh tế trong quá trình khai thác, sử dụng
Câu 25. Vì sao Đảng chủ trương đẩy mạnh phát triển CNHHĐH nông thôn? KHCN có
vai trò gì đối với CNH hiện nay?
Trả lời:
*) Đảng chủ trương xây dựng CNH –HĐH ở nông thôn là vì:
- Nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, "Mà đặc điểm to nhất của
ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã
hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa". Do đó, chúng ta phải
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi nông nghiệp, nông
thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với
các khu vực khác của nền kinh tế. Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực
lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% - 27% GDP của cả nước
- Nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của đất nước. Đảng
chủ trương xây dựng CCNH-HĐH ở nông thôn nhằm phát triển kinh tế nông thôn một
mặt đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ
và là thị trường cho công nghiệp, dịch vụ,…Do đó xây dựng CNH-HĐH ở nông thôn,
thúc đẩy sự phát triển ở nông thôn là cơ sở ổn định phát triển nền kinh tế quốc dân.
- Nông thôn là nơi có lực lượng lao động đảo nhất cả nước, đây là nguồn lực dồi dào để
phát triển kinh tế ở nông thôn, đồng thời sẽ giảm bớt thất nghiệp, hạn chế những tai tệ
nạn xã hội.
- Khi xây dựng CNH-HĐH ở nông thôn thì đời sống người nông dân được đảm bảo cả
về vật chất và tinh thần, điều này sẽ tạo sự ổn định về chính trị và xã hội cho đất nước.
- Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn vì nông dân,
nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước trước
đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện có tài
nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10
triệu ha đất canh tác chưa sử dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản
phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu ). Nông nghiệp, nông thôn còn giữ
vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển công nghiệp -
dịch vụ.
tăng trưởng nhanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
+ Khoa học công nghệ sẽ giải quyết các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện
sống và làm việc, giảm lao động nặng nhọc, độc hại; biến đổi cơ cấu lao động theo
hướng: nâng cao tỉ trọng lao động chất xám, lao động có kĩ thuật, giảm lao động phổ
thong, lao động chân tay…
+ Khoa học công nghệ hạn chế ảnh hưởng của thiên nhiên, cho phép phát triển công
nghiệp ngay cả khi thời tiết không thuận lợi.
+ Khoa học công nghệ làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền
kinh tế và mở rộng hơn nữa là tăng khả năng cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới.
- Khoa học công nghệ tiết kiệm, thay thế sức người, sức của trong sản xuất.
- Quy trình sản xuất hiện đại tạo ra tác phong làm việc công nghiệp, chuyên nghiệp, kỉ
luật cao.
Câu 26. Phân tích những khuyết tật của kinh tế thị trường, cho ví dụ minh họa.
Trả lời:
Những khuyết tật của nền kinh tế thị trường:
- Trong nền kinh tế thị trường, mục đích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là lợi
nhuận tối đa, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường
sống cho con người do đó hiệu quả kinh tế- xã hội không được đảm bảo hay khó giải
quyết cái gọi là hàng hóa công cộng như đường xá, trường học, bệnh viện,…
Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có nền công nghiệp rất giàu tiềm năng và đang trên đà
phát triển mạnh mẽ, thì tại đó cũng là hai nơi thải ra lượng khí thải lớn nhất, bằng ½
lượng khí thải của toàn thế giới.
- Phân phối thu nhập không công bằng, sự tác động của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự
phân hóa giàu nghèo, sự phân cực của cải, tác động xấu đến đạo đức, tình người.
Ở Mỹ, một đất nước phát triển bậc nhất thế giới dã có những học sinh, sinh viên do quá
căng thẳng với cuộc sống công nghiệp nên đã xả sung vào bạn bè, thầy cô trong trường
học rồi tự sát.
- Nền kinh tế thị trường điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm, khủng hoảng kinh tế
có chu kì và thất nghiệp.
Cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến người Việt phải thu hẹp chi tiêu, cụ thể là: 91% người