BỘ CÂU HỎI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN LẦN 1 MÔN ĐƯỜNG LỐI HỌC KỲ II NĂM HỌC 2014 –
2015.
Chương 1
Câu 1: Phân tích nội dung chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thể kỷ
XX? Hệ quả của chính sách cai trị này đối với xã hội Việt Nam như thế nào? (10điểm)
* Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, dưới sự cai trị của triều Nguyễn, Việt Nam là 1 nước phong kiến
lạc hậu. Năm 1858, Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn
bất lực để nước ta dần rơi vào tay giặc. Đến năm 1884 với hiệp ước Pa-tơ-nốt, Pháp đã làm chủ trên toàn
cõi và bắt đầu thực hiện chính sách cai trị ở Việt Nam.
Về chính trị, Thực dân Pháp tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà
Nguyễn; chia Việt Nam ra thành 3 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ , Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai
trị riêng; câu kết với địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị với nhân dân ta. Ngoài ra, quyền
dân chủ của người dân bị bóp nghẹt, những cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị tắm máu, đàn áp dã man.
Về kinh tế, Pháp đã thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa qua 2 giai đoạn ( 1884-1918) và (1919-
1939) với tính chất bóc lột ngày càng quy mô hơn. Trong nông nghiệp, Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất
bằng bạo lực để lập đồn điền tạo điều kiện cho địa chủ Pháp và Việt tay sai áp bức dân ta. Trong công
nghiệp, Pháp đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản Việt Nam để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ở
chính quốc. Ngoài ra, Pháp thực hiện chính sách thương mại ‘’ Đồng hóa thuế quan’’ và chính sách tiền tệ
‘’ Liên hợp tiền tệ’’ để hàng hóa Pháp giữ thế độc tôn tại Việt Nam và nền kinh tế nước ta phải phụ thuộc
sâu sắc vào nền kinh tế của chúng.
Về văn hóa, bọn thực dân hiện chính sách văn hóa ngu dân. Một mặt, Pháp dung túng, duy trì các hủ tục
lạc hậu, hạn chế du nhập văn hóa tiên tiến mà ‘’ Âu hóa’’ các thói hư tật xấu tràn ngập khắp nơi. Mặt khác,
chúng đầu độc nhân dân ta bằng rượu cần thuốc phiện, xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học để dân ta
phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm, không có quyền tự do học tập.
* Dưới tác động của các chính sách cai trị mọi mặt của Pháp, xã hội Việt Nam đã có những biến đổi sâu
sắc.
Việt Nam từ một nước phong kiến đã trở thành thuộc địa nửa phong kiến song vẫn tối tăm lạc hậu về
văn hóa, què quặt về kinh tế và ngột ngạt về chính trị. Hai giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam ra
đời. Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội VN đều mang thân phận mất nước và bị áp bức bốc lột ở những
mức độ khác nhau đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong xã hội: mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và
thực dân Pháp xâm lược và mâu thuận giữa nhân dân Việt Nam ( chủ yếu nông dân ) vớ giai cấp địa chủ
khởi nghĩa nào của phong kiến rộng rãi mà chỉ mang tính chất địa phương, lãnh đạo là phong kiến không
tập hợp được nhiều nông dân tham gia chống Pháp. Mặt khác, các hệ tư tưởng trái nhau đã gây cản trở sự
đoàn kết chống Pháp. Việc chủ chiến hay chủ hòa, lãnh đạo là nông dân hay phong kiến, chủ trương cải
cách hay bạo động khác nhau khiến đường lối chính trị ở nước ta không thống nhất, hệ thống thiếu tổ chức
thiếu chặt chẽ và kết quả là từng phong trào cứ lần lượt thất bạ. Cuối cùng là chưa 1 khởi nghĩa hay phong
trào nào có một lãnh tụ đủ tài năng, uy tín để tập hợp lực lượng và lãnh đạo nhân dân kháng chiến 1 cách
rộng rãi với một đường lối chính trị đúng đúng, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
Cách mạng Việt Nam đã lâm vào tình khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo. Nhiệm vụ
khách quan lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, với một giai cấp có đủ tư cách đại
biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc,
dân chủ đi đến thành công.
Câu 3: Phân tích quá trình Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị tư tưởng và tổ chức cho sự
ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu? (10điểm)
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa của Lênin và đi đến một sự lựa chọn dứt khoát con đường giải phóng dân tộc do Lênin vạch ra.
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc đã tán thành việc
gia nhập Quốc tế thứ III và biểu quyết sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp. Nguyễn Ái Quốc trở thành chiến sĩ
cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân và dân tộc ViệtNam.
Nguyễn Ái Quốc tích cực xúc tiến việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập
Đảng Cộng sản ViệtNam.
Về mặt tư tưởng và chính trị:
Người đã viết bài đăng các báo: “Người cùng khổ” do Người sáng lập, báo “Nhân đạo” – cơ quan Trung
ương của Đảng Cộng sản Pháp, báo “Đời sống công nhân” - tiếng nói của giai cấp công nhân, báo Sự thật
(Liên Xô), Tạp chí thư tín quốc tế (Quốc tế cộng sản), báo Thanh niên (Việt Nam thanh niên cách mạng
đồng chí hội)… và các tác phẩm “bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường cách mệnh” mang tên Người.
Qua các nội dung các bài báo và các tác phẩm đó, Người tập trung lên án chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa
thực dân nói chung và chủ nghĩa thực dân Pháp. Người vạch trần bản chất xâm lược, phản động, bóc lột,
đàn áp tàn bạo của chủ nghĩa thực dân. Bằng những dẫn chứng cụ thể, sinh động, Người đã tố cáo trước dư
luận Pháp và thế giới tội ác tày trời của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa. Đặc biệt,
Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn
toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.
Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải,
ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch
thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho
dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám giờ
Về văn hoá - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, …; phổ thông giáo dục theo
công nông hoá.
Lực lượng của cách mạng Việt Nam: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa
vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến; làm cho các đoàn
thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc
gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào
phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách
mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như
Đảng lập hiến v.v.) thì đánh đổ.
Lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam .
Quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách mạng Việt Nam là một
bộ phận của cách mạng thế giới.
• Ý nghĩa:
3
_ Quy tụ 3 tổ chức cộng sản => 1 Đảng cộng sản duy nhất tạo nên sự thống nhất về tư tưởng
chính trị và hành động ;
_ Là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở nước ta trong thời đại
mới, chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo
_ Chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cách mạng của cấp lãnh đạo phong trào yêu
nước trong suốt 2/3 thế kỉ.
_ CMVN trở thành 1 bộ phận của CMTG.
Câu 5: Phân tích chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng? Ý
nghĩa của vấn đề nghiên cứu? (10điểm)
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự
- Nhờ việc xác định, đánh giá đúng đắn thái độ chính trị của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam
lúc đó mà ngay từ khi ra đời Đảng đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh của giai cấp công nhân và của cả
dân tộc Việt Nam. Đó là một đặc điểm và đồng thời là một ưu điểm của Đảng, làm cho Đảng trở thành lực
lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, sớm được nhân dân thừa nhận là đội tiên phong của
mình, tiêu biểu cho lợi ích, danh dự, lương tâm và trí tuệ của dân tộc.
- Quan điểm xác định lực lượng cách mạng trong Cương lĩnh đã phát huy sức mạnh dân tộc, phân hoá và
cô lập kẻ thù để thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
4
Chương II
Câu 6. Phân tích nội dung cơ bản của Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 và rút ra nhận xét?
(10điểm)
Tháng 4/1930, sau thời gian học tập ở Liên Xô, Trần Phú được Quốc tế Cộng sản cử về nước hoạt động.
Tháng 7/1930, Trần Phú được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ ngày 14 đến ngày
31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương họp lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) do Trần Phú chủ
trì. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng; thảo luận Luận cương
chánh trị của Đảng, Điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng. Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng
sản, Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị cử
Ban chấp hành Trung ương chính thức và cử Trần Phú làm Tổng Bí thư.
Luận cương chính trị đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên
những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với
một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
Phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: Luận cương chỉ rõ: “Tư sản dân quyền cách
mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục
“phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”.
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền: Đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất
triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ chiến
lược đó có quan hệ khắng khít với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ, để
tiến hành cách mạng thổ địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc
chủ nghĩa. Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản
_ Nguyên nhân hạn chế:
+ Chưa nắm vững đặc điểm của xã hội Việt Nam
+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của khuynh hướng ‘’tả’’ của Quốc tế cộng sản
Câu 7: Phân tích chủ trương và nhận thức mới của Đảng giai đoạn đấu tranh 1936 – 1939? Ý nghĩa?
(10điểm)
Hoàn cảnh lịch sử:
Thế giới:
_ Khủng hoảng 29-33 => mâu thuẫn nội tại CNTB gay gắt
_ Chủ nghĩa phát xít xuất hiện và thắng lợi ở nhiều nơi
_ Đại hội VII QTCS (7/1935)
Trong nước:
_ Bọn cầm quyền ĐD bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, khủng bố, đàn áp đấu tranh
_ Các giai cấp, tầng lớp => đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, cơm áo hòa bình.
Chủ trương của Đảng: đấu tranh đòi quyền dân chủ dân sinh:
_ Theo tính chất và xu hướng phát triển CM ở ĐD: yêu cầu cấp thiết trước mắt là tự do dân chủ, cải thiện
thời sống của nhân dân.
_ Kẻ thù của cách mạng: trước mắt và nguy hại nhất là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng
6
_ Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng: chống phát xít, chiến tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa và
tay sai, đòi tự do dân chủ, áo cơm và hòa bình => Thành lập Mặt trận nhân dân phản đế ( sau đổi – MT DC
Đông Dương).
_ Đoàn kết quốc tế: đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và Đảng CS Pháp, ủng hộ chính phủ MTND
Pháp.
_ Hình thức và biện pháp đấu tranh: Tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp, nửa hợp
pháp => Đảng mở rộng quan hệ với quần chúng, giáo dục, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh
Nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ giữa 2 nhiệm vụ dân tộc và dân chủ:
_ Nếu nhiệm vụ chống đế quốc là cần kíp cho lúc hiện thời thì có thể trước mắt tập trung đánh đế quốc rồi
sau mới giải quyết vấn đề điền địa.
_ Nếu phát triển cuộc đấu tranh chia đất mà ngăn trở cuộc đấu tranh phản đế thì phải lựa chọn vấn đề quan
trọng mà giải quyết trước.
ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho công bằng
và giảm tô, giảm tức”…
+ Thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (còn gọi là Việt Minh) để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách
mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc thay cho hình thức mặt trận trước đó; đổi tên các hội phản đế
thành hội cứu quốc
+ Quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta
trong giai đoạn hiện tại.
Để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đến thắng lợi cần phải ra sức phát triển lực lượng CM, bao gồm lực lượng
TW đến cơ sở. Một số tổ chức chính trị yêu nước ra đời và đã tham gia làm thành viên của Mặt trận Việt
Minh như Đảng dân chủ VN (6/1944). Lực lượng chính trị quần chúng ngày càng đông đảo và được rèn
luyện trong đấu tranh chống Pháp-Nhật theo khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh.
Ngoài ra:
Xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta
Chú trọng công tác XD Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương
gấp rút đào tạo các bộ cho CM và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
8
*Ý nghĩa:
- Qúa trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được hoàn chỉnh góp phần giải quyết mục tiêu hàng đầu của
CMVN là độc lập dt, đưa đến những chủ trương,sự chỉ đạo đúng đắn để thực hiện mục tiêu đó.
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược giúp cho nhân dân ta có đường hướng đúng để tiến lên giành thắng
lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập cho dt và tự do cho nhân dân.
- Sự chuyển hướng chiến lược của Đảng giúp công tác chuẩn bị giành độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi ở khắp
các địa phương trong cả nước, cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng của quần chúng vùng lên
đấu tranh giành chính quyền.
- Đảng đã chỉ đạo việc vũ trang cho quần chúng CM, từng bước XD lực lượng vũ trang nhân dân làm cơ sở
đưa tới sự ra đời của VN giải phóng quân sau này.
- ĐCS Đông Dương cũng chỉ đạo việc lập các chiến khu và căn cứ địa CM, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn-Vũ
Nhai và căn cứ Cao Bằng
Câu 9: Phân tích nội dung của Chỉ thị: “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban
Thường vụ Trung ương Đảng ra ngày 12 tháng 3 năm 1945? Ý nghĩa? (10điểm)
tới Tổng khởi nghĩa.
Câu 10: Phân tích những bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945? Liên hệ với công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay? (10điểm)
Cách Mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam nhiều bài học quý báu,
góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc.
Những bài học kinh nghiệm chính là:
Một là: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và
chống phong kiến. Hai nhiệm vụ này có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ chống đế quốc là chủ
yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ ấy “tất cả mọi vấn đề của cách mạng, vấn
đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”. Nhờ đó mà Đảng đã tổ chức được lực
lượng chính trị to lớn mà nòng cốt là khối liên minh công nông để thực hiện yêu cầu cấp bách của cách
mạng là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho dân tộc. Sự chuyển hướng đúng đắn, đặt nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu, góp phần quyết định thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám năm 1945.
Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công - nông.
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi là nhờ cuộc đấu tranh yêu nước anh hùng của hơn 20 triệu người
Việt Nam . Nhưng cuộc nổi dậy của toàn dân chỉ có thể thực hiện được khi có đạo quân chủ lực là giai cấp
công nhân và giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đạo quân chủ lực này được xây dựng, củng cố
qua ba cao trào cách mạng và lớn mạnh vượt bậc trong tổng khởi nghĩa. Dựa trên đạo quân chủ lực làm nền
tảng. Đảng đã xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, động viên toàn dân tổng khởi nghĩa thắng lợi.
10
Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Đảng ta đã lợi dụng được mâu thuẫn giữa chủ
nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phát xít, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và một bộ phận thế lực địa
chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền tay sai của Pháp và của Nhật, cô lập cao độ kẻ thù
chính là bọn đế quốc phát xít và bọn tay sai phản động; tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng.
Như vậy, Cách mạng Tháng Tám mới giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu.
Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp
để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân. Trong Cách mạng Tháng Tám, bạo
lực cách mạng là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, kết hợp nổi dậy của
quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn và thành thị đập tan bộ máy
nhà nước của giai cấp thống trị, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.
Cách mạng nước ta thời kỳ này đứng trước những khó khăn, thủ thách nghiêm trọng:
11
Nước ta còn nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và các chính quyền phản động trong khu vực.
Nước ta còn chưa nhận được sự giúp đỡ trực tiếp của các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ trên
thế giới.
Nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn đói năm 1945 làm 2 triệu người
chết, tiếp đó là nạn lũ lụt, hạn hán kéo dài làm 50% ruộng đất bị bỏ hoang. Sản xuất nông nghiệp đình đốn.
Tài chính khô kiệt, kho bạc trống rống, ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp. Trình độ
văn hóa của nhân dân ta thấp kém, 90% số dân mù chữ.
Ở miền Bắc: 20 vạn quân Tưởng ồ ạt tràn qua biên giới, theo gót chúng là bọn Việt Quốc, Việt Cách, chúng
lập chính quyền phản động ở một số nơi, cướp của giết người và chống phá chính quyền cách mạng. Ở
miền Nam: quân Anh với danh nghĩa Đồng Minh kéo vào nước ta tiếp tay thực dân Pháp trở lại xâm lược
nước ta lần thứ hai. “Tổ quốc lâm nguy! Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc!”.
Nội dung cơ bản của Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”
Ngày 25-11-1945, Ban thường vụ trung ương Đảng ra bản chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” vạch rõ nhiệm
vụ chiến lược và nhiệm vụ cần kíp của cách mạng nước ta.Chỉ thị xác định:
“Cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Khẩu hiệu đấu tranh vẫn là
“Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”.
Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là thực dân Pháp xâm lược.
Nhiệm vụ cơ bản, trước mắt của toàn dân tộc ta là: củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp
xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống của nhân dân. Nhiệm vụ bao trùm là bảo vệ, củng cố chính
quyền cách mạng.
Chỉ thị vạch ra những biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ trên.
+ Về nội chính: xúc tiến bầu cử Quốc hội, thành lập Chính phủ chính thức, lập hiến pháp, xử lý bọn phản
động đối lập, củng cố chính quyền nhân dân.
+ Về quân sự: động viên lực lượng toàn dân trường kỳ kháng chiến.
+ Về ngoại giao: kiên trì nguyên tắc “bình đẳng, tương trợ”, thêm bạn bớt thù. Đối với quân đội Tưởng,
thực hiện khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện”.
Ý nghĩa: giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược
cách mạng trong thời kỳ mới giành được chính quyền, đưa đất nước vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi
Câu 13: Phân tích nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng, vận dụng phương châm
kháng chiến toàn dân của Đảng vào giai đọan cách mạng hiện nay? (10điểm)
Hoàn cảnh lịch sử: T11/1946 quân Pháp tấn công và chiếm đóng Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên
Đà Nẵng, gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta.
TW Đảng chủ trương hòa hoãn với Pháp nhưng không được.
13
Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20h ngày 19/12/1946 tất cả các chiến trường trong cả nước
đã đồng loạt nổ súng. Ngày 20/12/1946 , lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của HCM được phát đi.
Thuận lợi của nhân dân khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là ta chiến đấu để
bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc và đánh địch trên nước mình nên có chính nghĩa. Ta có sự chuẩn bị
cần thiết về mọi mặt, trong khi đó Pháp có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, quân sự ở trong nước và
Đông Dương.
Khó khăn của ta là tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch, bị bao vây 4 phía, chưa được nước nào
công nhận, giúp đỡ. Quân Pháp có vũ khí tối tân, đã chiếm đóng được 2 nước Campuchia, Lào
Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành bổ sung, hoàn chỉnh qua thực tiễn. Ngày 19/10/1946 ,
thường vụ TW Đảng mở hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 1, đã đề ra những chủ trương biện pháp cụ thể
về tư tưởng và tổ chức dể quân dân cả nước bước vào cuộc chiến đấu mới.
Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được hoàn thành và thể hiện tập trung trong 3 văn kiện: Toàn
dân kháng chiến của TW Đảng (12/12/1946), lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của HCM (19/12/1946),
tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh.
Nội dung đường lối:
Mục đích kháng chiến là đánh phản động thực dân Pháp xâm lược ,giành thống nhất và độc lập.
Tính chất kháng chiến là 1 cuộc chiến tranh CM của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa, có tính chất toàn
dân, toàn diện và lâu dài. Là 1 cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập dân chủ và hòa bình.
Chính sách kháng chiến: liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp, đoàn kết với
Miên,Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do và hòa bình, đoàn kết chặt chẽ toàn dân, thực hiện toàn dân
kháng chiến, phải tự cấp tự túc về mọi mặt.
Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến, đkết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí thực hiện toàn
dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến giành quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ,
thống nhất Trung, Nam, Bắc.
của dân tộc Việt Nam. Đảng ta đã biết phát huy truyền thống đó và vận dụng vào trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội:
15
+ Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt
trận dân tộc thống nhất: Qua các nhiệm kì Quốc hội, Đảng ta đã khẳng định dân chủ xã hội chủ nghĩa là
bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; khẳng định đại đoàn kết
toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là
nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết.
+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân: Cương lĩnh
năm 1991 mới xác định xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa’’ lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng tại Hội nghị
đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII. Các Đại hội VIII, IX và X đều nhấn mạnh xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, cương lĩnh bổ sung, phát triển năm
2011, xác định: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân’’ là một trong tám phương án cơ bản, là đúng đắn, phù hợp cả về lí luận và thực tiên.
+ Đảng xác định sự nghiệp công nghiệp hóa là sự nghiệp của toàn dân, sức mạnh của sự đổi mới là sức
mạnh của nhân dân, việc tăng cường đổi mới chính là tăng cường sức dân, trong đó công nông là gốc. Công
cuộc đổi mới chỉ giành thắng lợi khi việc tham gia vào công cuộc đổi mới đã trở thành hành động tự giác
của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng ai cũng lo xây dựng công cuộc đổi mới. Đó là tính chất nhân
dân trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều quan trọng trong việc tổ chức lực lượng toàn
dân là xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu. Lực lượng chính trị quần chúng là lực lượng trong nhân dân
được giác ngộ chính trị, đã hiểu rõ mục đích và đường lối của Đảng, tham gia đổi mới có tổ chức, đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Họ tự nguyện tham gia các tổ chức hoặc hoạt động có kế hoạch.
Câu 14: Phân tích nội dung Chính cương của Đảng lao động Việt Nam được thông qua tại Đại hội II
(2/1951) và ý nghĩa của Chính cương? (10điểm)
*Nội dung chính cương của đảng lao động VN
-Trước yêu cầu cảu tình hình mới của đảng cộng sản đông dương đã họp ĐH lần II tại Tuyên Quang(2-
1951).ĐH đã thong qua báo cáo chính trị của BCH TƯ đảng do chủ tịch HCM trình bày và ra nghị quyết
tách đảng cộng sản đông dương thành 3 đảng CM.Ở VN đảng ra hoạt động công khai lấy tên là “đảng lao
dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ
17
Câu1 5: Phân tích kết quả và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954, từ
nguyên nhân thắng lợi vận dụng vào giai đoạn cách mạng hiện nay? (10điểm)
Kết quả
Về chính trị: Đảng ra hoạt động công khai đã có điều kiện kiện toàn tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo đối
với cuộc kháng chiến. Bộ máy chính quyền năm cấp được củng cố. Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam
(Liên Việt) được thành lập. Khối đại đoàn kết toàn dân phát triển lên một bước mới. Chính sách ruộng đất
được triển khai, từng bước thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng.
Về quân sự: Đến cuối năm 1952, lực lượng chủ lực đã có sáu đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công binh -
pháo binh. Thắng lợi các chiến dịch Trung Du. Đường 18, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng
Lào đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai và dân cư, mở rộng vùng giải
phóng của Việt Nam và cho cách mạng Lào Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 được ghi vào lịch
sử dân tộc ta như một Bạch Đằng một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế
giới như một chiến công hiển hách, báo hiệu sự thắng lợi của nhân dân các dân tộc bị áp bức, sự sụp đổ của
chủ nghĩa thực dân.
Về ngoại giao: Với phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, khi biết tin Pháp có ý
định đàm phán, thương lượng với ta, ngày 27-12-1953, Ban Bí thư ra Thông tư nêu rõ: "lập trường của
nhân dân Việt Nam là kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Song nhân dân và Chính phủ ta
cũng tán thành thương lượng nhằm mục đích giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam". Ngày 8-5-1954, Hội
nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh Đông Dương chính thức khai mạc ở Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Ngày 20-7-
1954, các văn bản của Hiệp nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương được
ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân ta kết thúc thắng lợi.
Ý nghĩa lịch sử
Đối với nước ta, việc đề ra và thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân
dân đã làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức ở mức độ cao,
buộc chúng phải công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương; đã làm thất
bại âm mưu mở rộng và kéo dài chiến tranh của đế quốc Mỹ, kết thúc chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông
Dương; giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo điều kiện để miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm căn cứ địa,
hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh ở miền Nam; tăng thêm niềm tự hào dân tộc cho nhân dân ta và nâng cao uy
Câu 17: Phân tích nội dung Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ III (1960)? Ý nghĩa của Đại hội?
(10 điểm)
Nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam hiện nay là: tǎng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết
đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy
mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở
độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, thiết thực góp phần tǎng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam á và
thế giới.
Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược:
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất
nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau.
Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau,
mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt.
Hai nhiệm vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và
bọn tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Nhiệm vụ cách mạng miền Bắc
Sau khi hoàn thành việc khắc phục hậu quả do cuộcKháng chiến chống Pháp để lại và thực hiện những
nhiệm vụ bước đầu của chính quyền dân chủ nhân dân theo kinh nghiệm của Liên Xô và Đông
Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Đại hội quyết định sẽ đưa miền Bắc đi lên cách mạng xã hội chủ
nghĩa đồng thời đưa ra nhận định công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc sẽ có vai trò quyết
định nhất với sự phát triển của toàn bộ cách mạng VN và với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đại hội khẳng
định đứa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắ lên chủ nghĩa xã hội.
19
Nhiệm vụ cách mạng miền Nam
Do Pháp không thực hiện Tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneva 1954 và việc vận động thực hiện hiệp định
bị chính quyền Diệm đàn áp do sợ thất bại nên Việt Nam chưa thống nhất được
[3]
. Đại hội do đó đã quyết