Chuyên đề ngữ văn lớp 7 - Pdf 23

Chuyên đề ngữ văn lớp 7
Tuần 30 – Buổi 17
TÌM HIỂU THÊM VỀ PHÉP LẬP LUẬN GIẢI THÍCH.
A. Mục tiêu cần đạt:
- Củng cố cho h/s kiến thức về văn giải thích.
- Biết cách làm bài văn giải thích.
B. Chuẩn bị: - GV: Soạn bài.
- Học sinh: Ôn lại kiến thức về câu chủ động, bị động, dùng cụm c – v để
mở rộng câu.
C.Tiến trình lên lớp.
* Tổ chức: - Thứ ……ngày …., lớp 7B, sĩ số: 38 vắng:
……………………………
*. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra kiến thức về văn lập luận giải thích.
*. Bài mới:
Đề bài 1: Phát biểu suy nghĩ của em về câu tục ngữ “ Thương người như thể
thương thân”
1. Mở bài:
- Tình yêu thương là một nét đẹp trong đạo đức sáng ngời của dân tộc Việt. Truyền
thống ấy được cha ông ta gửi gắm trong rất nhiều những câu ca dao, tục ngữ.
- Là người Việt Nam chắc hẳn không ai không biết đến câu “ Thương người như thể
thương thân”. Câu tục ngữ chính là bài học thấm thía về đạo lí làm người.
1
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Thương: Tình yêu thương, quan tâm, thấu hiểu, đồng cảm và chia sẻ.
- thân: bản thân mình.
- người: những người xung quanh không có quan hệ thân thiết ruột thịt với mình
=> Câu tục ngữ ngắn gọn với nghệ thuật so sánh, qua đó cha ông ta muốn gửi gắm một
bài học sâu sắc thấm thía về cách đối nhân xử thế, về đạo lí làm làm người: Hãy thương
yêu những người xung quanh như thương chính bản thân mình

một xã hội tốt đẹp và giàu lòng nhân ái.
- Những người có tình yêu thương và giúp đỡ người khác luôn được mọi người yêu quý,
và họ cũng sẽ nhận được tình yêu và giúp đỡ của những người bên cạnh mình khi họ cần
đến.
- Tình yêu thương chính là
* Dẫn chứng: Tình yêu thương đã là truyền thống tốt đẹp và trong cuộc sống hiện đại
tình cảm ấy càng được phát huy. Trong những năm qua nhân dân VN luôn thực hiện và
phát huy truyền thống đó: Giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt, ủng hộ nạn nhân bị nhiễm chất độc
màu da cam, các hoạt động từ thiện “ Tết vì người nghèo”. “ Nối vòng tay lớn”, “ Trái
tim cho em”… còn rất nhiều, rất nhiều các chương trình tình nghĩa đầy ắp tình yêu
3
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
thương và sự sẻ chia giúp cho biết bao mảnh đời bất hạnh được ấm lòng, nhiều người
thành lập các tổ chức để thu nhận những trẻ em lang thang, cơ nhỡ, những người tàn tật,
tạo công ăn việc làm giúp họ ổn định c/s…. ( d/c cụ thể tại địa phương, trường, lớp…)
* Mở rộng vấn đề:
- Phê phán những người không có tình yêu thương, trái tim họ héo úa, vô cảm trước nỗi
đau của đồng loại -> Họ bị xa lánh, khinh bỉ.
- Tình yêu thương không chỉ thể hiện ở lời nói xuông mà phải bằng hành động thực tế.
Đặc biệt nó xuất phát từ t/c chân thành chứ không vì bất cứ mục đích nào khác. Những kẻ
nhân danh tình yêu thương, tổ chức các hoạt động từ thiện nhưng thực chất là để đánh
bóng tên tuổi, với tham vọng mình thành người nổi tiếng. Hoặc có kẻ những kẻ vô lương
tâm mượn mác xây dựng tổ chức từ thiện để bóc lột sức lao động của trẻ em, của những
người không được hoàn thiện… những kẻ đó không chỉ bị lên án mà còn đáng bị pháp
luật trừng trị .
- Phê phán những người nhận được sự giúp đỡ của người khác nhưng thiếu ý chí vươn
lên, chỉ biết sống ỷ lại, dựa dẫm.
- Ngày nay quan niệm về t/y thương không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, một
dân tộc mà mở rộng thành một quan niệm mới mẻ, tiến bộ. Đó là t/c mang tính quốc tế.
( D.c: Ủng hộ trẻ em Cu – Ba, nhân dân Nhật bị động đất, sóng thần…)

công việc suốt đời, mãi mãi, con người cần phải luôn luôn học hỏi ngay cả khi mình đã
có được một vị trí nhất định trong xã hội.
* Tại sao phải Học, học nữa, học mãi.
- Bởi học tập là con đường giúp chúng ta tồn tại và sống tốt trong xã hội.
- Bởi xã hội luôn luôn vận động, cái mới luôn được sinh ra, nếu không chịu khó học hỏi,
ta sẽ nhanh chóng lạc hậu về kiến thức.
- Bởi cuộc sống có rất nhiều người tài giỏi, nếu ta không nỗ lực học tập ta sẽ thua kém
họ, tự làm mất đi vị trí của mình trong cuộc sống.
* Học ở đâu và học như thế nào?
- Học trên lớp, trong sách vở, học ở thầy cô, bạn bè, cuộc sống
- Khi không còn ngồi trên ghế nhà trường, ta vẫn có thể học thêm trong sách vở, trong
cuộc sống, trong công việc
- Có thể học mọi lúc, mọi nơi
* Liên hệ: Bản thân và bạn bè đã và đang vận dụng câu nói của Lê-nin ra sao ( không
ngừng học tập, học lẫn nhau, tìm sách vở bổ trợ )
3. Kết bài:
- Khẳng định tính đúng đắn và tiến bộ trong lời khuyên của Lê-nin: đó là lời khuyên đúng
đắn và có ích đối với mọi người, đặc biệt là lứa tuổi học sinh chúng ta.
* Luyện tập viết đoạn văn cho dàn bài số 2.
- H/s viết đoạn văn -> GV gọi 1 số h/s trình bày
-> HS khác nhận xét -> GV nhận xét -> KL
* Bài tập về nhà: Hoàn thiện đề bài trên.
6
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
Ôn lại các kiến thức về văn giải thích
Chuẩn bị: Sống chết mặc bay.
…………………………………………………………………….
7
BGH duyệt:………….
Chuyên đề ngữ văn lớp 7

trách nhiệm trước quyền lợi cuộc sống, tính mạng của nhân dân. Theo đạo đức phong
kiến xưa: Quan là cha mẹ của nhân dân, quan phải lo cuộc sống của muôn dân. Trong tác
phẩm của mình, Phạm Duy Tốn đã đưa một tình huống căng thăng về khúc đê ở làng X
có nguy cơ sắp vỡ. Những người dân tay không dưới trời mưa tầm tã, vật lộn với bùn.
Nguy cơ vỡ đê trông thấy. Vậy mà quan phụ mẫu lại bỏ mặc dân với khúc đê xung yếu
sắp vỡ, với trời mưa, với nước sông Nhị Hà ngày một dâng cao. Quan cứ ngồi trên đình
cao ráo, đèn đuốc sáng rực, kẻ hầu người h: đứa bóp chân, đứa quạt, đứa châm điếu, lại
còn bốn thầy ngồi hầu quan nữa… xung quanh nơi ngài ngồi toàn những thứ sang trọng:
nào tầu vàng cau đậu, ống vôi chạm, ngoáy tai, tăm bông… lại còn bát yến hấp đường
phèn nóng nghi ngút… Quan không hề quan tâm, nhòm ngó đến đê vỡ hay không, lụt lội
sông nước thế nào. Có người vào cấp báo tình hình đê vỡ, quan lại khó chịu, quát gắt, dọa
bỏ tù. Quan ù ván bài to trong khi đê vỡ, nước ngập mênh mông, dân tình khổ sở. Thái độ
“ Sống chết mặc bay” mà Phạm Duy Tốn đặt nhan đề cho tác phẩm của mình. Tác phẩm
có giá trị tố cáo cao.
9
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
*Đề 2: Phân tích nhân vật: “Quan phụ mẫu” trong truyện ngắn “Sống chết mặc bay”
của Phạm Duy Tốn.
DÀN Ý
I.Mở bài
- Văn xuôi quốc ngữ buổi đầu đã có sự đóng góp của Phạm Duy Tốn. Trong truyện
ngắn“Sống chết mặc bay” của ông là một trong những thành tựu đột xuất của dòng văn
học hiện thực thuở so khai. Tác giả viết truyện ngắn này vào tháng 7.1928, được đăng tải
trên báo Nam Phong số 18 tháng 12.1928
- Truyện kể về một “quan phụ mẫu” ung dung ăn chơi bài bạc trong cảnh vỡ đê, nhân dân
trên một vùng rộng lớn chìm đắm trong thảm họa. Tác giả đã lên án thói ăn chơi vô trách
nhiệm, bộ mặt vô nhân đạo của bọn quan lại trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
- Tên “quan phụ mẫu” được miêu tả bằng những chi tiết rất hiện thực có giá trị tố cáo sâu
sắc.
II. Thân bài

III. Kết bài
11
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
- Một lối viết ngắn, sắc sảo. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thế tương phản rất đặc
sắc. Câu chuyện đầy kịch tính, thương tâm, giàu giá trị tố cáo hiện thực và tinh thần
nhân đạo.
- Xây dựng thành công nhân vật “quan phụ mẫu” mệnh danh là “cha mẹ dân” mà coi
tính mạng của dân như rơm rác, “Sống chết mặc bay”! Tên “quan phụ mẫu” khá điển
hình cho sự thối nát của chế độ thời Pháp thuộc.
- Đâu chỉ tên “quan phụ mẫu” thối nát! Hắn là một trong hàng ngàn hang vạn bọn
quan lại ngày xưa, hắn là sản phẩm, là công cụ đắc lực của chế độ thực dân nửa
phong kiến thối nát.
…………………………………………………….
* Câu 3: Giải thích và chứng minh nhận định sau: “Trong văn bản “Sống chết mặc bay”
là truyện ngắn sử dụng thành công phép nghệ thuật tương phản và tăng cấp”
1. Mở bài:
- Phạm Duy Tốn là tác giả xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX
- “Sống chết mặc bay” là truyện ngắn xuất sắc nhất của van học hiện đại Việt Nam. Nó
được coi là “ Bông hoa đầu mùa” của thể loại này.
- Đây là truyện ngắn thành công trên cả hai phương tiện nội dung và nghệ thuật. Đặc biệt
là nghệ thuật tương phản và tăng cấp.
2. Thân bài
a. Giải thích: thế nào là phép tương phản và tăng cấp trong thơ văn?
b. Chứng minh nhận định
- b1: Nghệ thuật tương phản
12
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
+ Một bên là cảnh tượng hàng trăm hàng nghìn dân phu đang vật lộn căng thẳng trong
bùn lầy, nước lớn, dưới trời mưa tầm tã, vất vả đến cực độ trước nguy cơ đê vỡ.
+ Một bên là cảnh quan phủ cùng nha lại, chánh tổng trong đình vững chãi, nguy nga,

B. Chuẩn bị: - GV: Soạn bài
- Học sinh: Ôn lại kiến thức về câu chủ động, câu bị động.
C.Tiến trình lên lớp.
1. Tổ chức: - Thứ ……ngày …., lớp 7B, sĩ số:………., vắng:
……………………………
2. Kiểm tra bài cũ : ( Lồng ghép trong bài).
3. Bài mới.
I. Ôn kiến thức cơ bản:
1. Thế nào là câu chủ động, câu bị động?
14
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
- Câu chủ động: Là câu có chủ ngữ chỉ người, vật thực hiện một h/đ hướng vào người
hoặc vật khác.
( Chủ ngữ là chủ thể gây ra hành động -> câu chủ động)
VD: Em buộc con dao díp vào lưng con búp bê và đặt ở đầu giường tôi. ( Khánh Hoài)
Mô hình: CN ( chủ thể) – ĐT ngoại động ( hành động) – Bổ ngữ ( đối tượng)
- Câu bị động: là câu có CN chỉ người, vật được h/đ của người, vật khác hướng vào.
( Do CN chịu tác động một cách thụ động nên gọi là câu bị động)
VD: Con dao díp được em tôi buộc vào lưng con búp bê và đặt ở đầu giường tôi.
- Nhiều phụ nữ, trẻ em ở miền Nam nước ta bị bom Mĩ sát hại.
Mô hình: Chủ ngữ ( đối tượng) – Vị ngữ.
=> Muốn nhận diện câu chủ động, câu bđ thì chỉ cần căn cứ vào vai trò của CN trong
quan hệ với hành động nêu ở VN. Nếu CN là đối tượng của hành động đó thì đó là câu
cđ.
* So sánh câu chủ động và câu bị động:
- Giống: Nội dung, ý nghĩa giống nhau.
- Khác: Cách sử dụng và sắc thái ý nghĩa. Đối tượng nào được đưa lên đầu câu có ý nhấn
mạnh đến đối tượng đó. Còn sắc thái ý nghĩa tùy theo từng trường hợp.
2. Các kiểu câu bị động: Chia là 2 kiểu
- Kiểu câu bị động có chưa các từ “ bị. được”:

Chuyên đề ngữ văn lớp 7
VD: Nhà vua truyền ngôi cho chú be -> Chú bé được truyền ngôi.
* Lưu ý: Không phải trường hợp nào từ câu chủ động cũng chuyển đổi thành câu bị
động.
VD: Nó rời lớp học -> Không thể chuyển thành: Lớp học bị nó rời.
II. Bài tập:
* Bài tập 1: Trong các câu sau, câu nào là câu bị động:
a. Tớ vừa chữa cái xe này xong.
b. Xe này vừa chữa xong.
c. Xe này vừa được chữa xong.
d. Xe này chữa được rồi.
e. Xe này được bác Nam chữa.
( Câu b.c.d.e là câu bị động)
* Bài tập 2: Chuyển các câu chủ động sau thành câu bị động ( theo 2 cách).
a. BGH nhà trường biểu dương lớp toàn chi đội lớp 7A.
- Toàn chi đội lớp 7A được BGH nhà trường biểu dương.
- Toàn chi đội lớp 7A được biểu dương.
b. Con rắn cắn vào tay ông Hoa.
- Ông Hoa bị con rắn cắn vào tay.
- Ông Hoa bị cắn vào tay ( Không nên chuyền theo cách 2 vì không rõ nghĩa: Đối tượng
nào cắn?)
c. Em giặt quần áo rồi -> Quần áo được em giặt rồi.
Quần áo được giặt rồi.
17
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
* Bài tập 3: Có thể thay đổi câu bị động dưới đây thành câu chủ động tương đương được
K? Tại sao?
Trong đợt thi HSG vừa qua, bạn Nam được giải nhất môn Toán. Bạn được thành
phố khen. Song, không vì thế mà bạn trở nên kiêu căng, bạn vẫn khiêm tốn và tận tình
giúp đỡ chúng tôi học tập.

…………………………………………………………
Tuần 26 - Buổi 12
LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN CHỨNG MINH
A. Mục tiêu cần đạt:
- Củng cố cho h/s kiến thức về văn nghị luận chứng minh.
- Biết cách viết đoạn văn chứng minh.
- Phân biệt được câu chứa “ bị, được” là câu chủ động với câu không phải là câu bị động.
- Biết sử dụng câu chủ động khi nói và viết.
B. Chuẩn bị: - GV: Soạn bài
- Học sinh: Ôn lại kiến thức về câu chủ động, câu bị động.
19
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
C.Tiến trình lên lớp.
1. Tổ chức: - Thứ ……ngày …., lớp 7B, sĩ số:………., vắng:
……………………………
2. Kiểm tra bài cũ : ( Lồng ghép trong bài).
3. Bài mới.
I. Ôn kiến thức cơ bản:
1. Thế nào là đoạn văn: Đoạn văn là phần văn bản quy ước tính từ chữ viết hoa lùi đầu
dòng đến dấu chấm xuống dòng.
2. Cách viết đoạn văn chứng minh:
- Như các bài văn khác, bài văn chứng minh cũng gồm nhiều đoạn văn: Đoạn mở bài,
nhiều đoạn cho phần thân bài, đoạn kết bài. Đoạn văn chứng minh là để phục vụ cho
phần trọng tâm của thân bài. Mỗi đoạn trình bày lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một luận
điểm cụ thể.
- Cách lập luận:
+ Nêu luận điểm rồi trình bày luận cứ cho lđ.( Phép diễn dịch)
+ Trình bày hệ thông luận cứ hợp lí để dẫn đế luận điểm.
+ Nêu luận điểm rồi trình bày các luận cứ, rồi sau đó khẳng định lại luận điểm ( Phép
Tổng – phân – hợp).

cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”, và kêu
gọi “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm
sóc, giáo dục các cháu bé cho tốt”. Trong Di chúc, Người lại nhấn mạnh: “Bồi dưỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những lời dạy của
Người thể hiện tầm nhìn sâu rộng của vị lãnh tụ cách mạng đối với thiếu niên nhi đồng -
những người chủ tương lai của đất nước, lực lượng cách mạng quan trọng.
* Bài tập 2: Viết đoạn chứng minh lòng yêu nước của dân tộc ta.
Cũng như bao truyền thống khác, tinh thần yêu nước là một nét đặc sắc trong văn hóa
lâu đời của nước ta, nó được thể hiện từ xưa đến nay và đi sâu vào từng hành động, ý
nghĩ của mỗi con người. Từ xa xưa, tinh thần yêu nước được được bộc lộ rõ nhất ở các
tấm gương anh hùng như hai bà Trưng, bà triệu, Trần Hưng Đạo v.v Đó là ở thời chiến
tranh. Còn bây giờ – thời bình - thời kì hiện đại hóa với những máy móc, dụng cụ đang
ngày càng hữu dụng, thiết thực. Xã hội ngày một tiến lên, mọi thứ đã thay đổi nhiều, chỉ
riêng tấm lòng yêu nước của mỗi cá nhân vẫn không bị mờ phai. Trong cuộc sống những
tư tưởng, việc làm giúp phát triển kinh tế nước nhà phần nào là tinh thần yêu nước. Từ
những người nông dân chân lấm tay bùn vẫn chất phác như ngày nào làm ra hạt lúa, hạt
gạo phục vụ nông nghiệp, đời sống mỗi cá nhân. Hay những người bác sĩ tận tình giúp đỡ
bệnh nhân, đó cũng là cử chỉ của tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương đồng loại, nói rộng
hơn đó chính là tinh thần yêu nước. Những nhà chính trị học, bác học, thành quả của họ
cũng bởi tinh thần yêu nước mà ra. Thậm chí mỗi một hành động nhỏ cũng là một phần
đóng góp cho tư tưởng cao đẹp ấy. Ý thức của mỗi con người là điều được bộc lộ rõ nhất.
Không vứt rác bừa bãi, giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp, chăm sóc cây cối tốt tươi làm
trong lành bầu khí quyển. Đó là cử chỉ cao đẹp cũng bởi mầm mống từ lòng yêu nước. Từ
22
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
người già đến trẻ nhỏ đều truyền thụ cho nhau hiểu và làm theo đức tính ấy. Lòng nồng
nàn yêu nước được thể hiện không phải bằng lời nói mà bằng những hành động đã giúp
ích cho đất nước. Những đợt hưởng ứng phong trào như chống nạn ma tuý, tuyên truyền
giữ gìn môi trường, tránh xa tệ nạn xã hội, học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Đó chẳng phải là tinh thần yêu nước sao! Hay đài báo, ti vi cũng đề cao vấn đề

kính”, biến đổi khí hậu đang diễn ra hàng năm đe dọa cuộc sống bình yên của loài người
trên Trái Đất.
* Bài tập 4: Viết đoạn văn chứng minh “ Bác là người sống rất giản dị”
Bác Hồ là người vô cùng giản dị. Theo lời kể của những người từng được sống gần
Bác hoặc qua những tư liệu còn lưu trữ được, chúng ta thấy việc ăn, mặc, ở cũng như
sinh hoạt, chi tiêu hàng ngày Bác đều hết sức tiết kiệm. Mỗi bữa ăn, Bác quy định không
quá 3 món và thường là các món dân tộc như: tương cà, dưa, cá kho… Bác bảo ăn món gì
phải hết món ấy, không được để lãng phí. Khi đi công tác các địa phương, Bác thường
bảo các đồng chí phục vụ chuẩn bị cơm nắm, thức ăn từ nhà mang đi. Chỉ khi nào công
tác ở đâu lâu, Bác mới chịu ăn cơm, nhưng trước khi ăn, bao giờ Bác cũng dặn “chủ nhà”
là: Đoàn đi có từng này người, nếu được, chỉ ăn từng này, từng này…Có thể dẫn ra nhiều
24
Chuyên đề ngữ văn lớp 7
câu chuyện về cách ăn uống chắt chiu, tiết kiệm của Bác. Thậm chí liên hoan chào mừng
Ngày thành lập Đảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh và đĩa cá. Khi tiếp đãi
khách, Bác thường nói: “Chủ yếu là thật lòng với nhau”. Chiêu đãi đồng chí Lý Bội
Quần, người Trung Quốc đã giúp Bác mua chiếc máy chữ từ Hải Phòng mang về, Bác
cũng chỉ “khao” một món canh và hai đĩa thức ăn, có thêm chén rượu gạo, tổng cộng
chưa hết một đồng bạc, thế mà vẫn đậm đà tình cảm giữa chủ và khách.Bác nói: Ở đời ai
chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc,
phiền hà của người khác thì không nên”. Hơn nữa, Bác luôn nghĩ đến người khác, có
món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình. Bác sẻ cho người này, sẻ cho người kia rồi
sau cùng mới đến phần mình và phần Bác thường là ít nhất. Trong trang phục hàng ngày,
Bác chỉ có bộ quần áo dạ màu đen mặc khi đi ra nước ngoài; chiếc mũ cát Bác đội khi đi
ra ngoài trời; chiếc áo bông, áo len Bác mặc trong mùa lạnh và một vài bộ quần áo gụ
Bác mặc làm việc mùa hè. Nói về sự giản dị trong cách ăn mặc của Bác, có lẽ ấn tượng
nhất phải kể đến đôi dép cao su và bộ quần áo ka-ki. Đôi dép cao su được Bác dùng hơn
20 năm đến khi mòn gót phải lấy một miếng cao su khác vá vào, các quai hay bị tuột phải
đóng đinh giữ. Còn bộ quần áo ka-ki Bác mặc đến khi bạc màu, sờn cổ áo. Những người
giúp việc xin Bác thay bộ quần áo mới thì Bác bảo: “Bác mặc như thế phù hợp với hoàn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status