LỜI NÓI ĐẦU
Thanh hóa là một tỉnh đông dân, tỷ lệ đói nghèo còn rất cao, không
những vậy số lượng đối tượng hưởng chính sách BHXH, BHYT của tỉnh lớn so
với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Những năm trước đây để chăm lo sức
khỏe cho người nghèo tỉnh thực hiện giải pháp tạm thời cấp sổ chứng nhận hộ
đói nghèo để các cơ sở y tế miễn phí cho người nghèo khi đi khám chữa bệnh.
Những năm gần đây, tỉnh thực hiện cấp thẻ BHYT theo chủ trương của Đảng
và Nhà nước. Việc triển khai chính sách hỗ trợ người nghèo trong CSSK thông
qua cấp thẻ BHYT đã từng bước giúp người nghèo tiếp cận với các dịch vụ y
tế cơ bản, tránh được các cú sốc về kinh tế. Tuy nhiên, việc triển khai chính
sách BHYT cho người nghèo trong thời gian qua đã bộc lộ một số yếu kém và
bất cập cần đòi hỏi phải có các giải pháp phù hợp. Đây chính là lý do em lựa
chọn đề tài: “BHYT cho người nghèo ở Thanh Hoá. Thực trạng và giải
pháp”.
Nội dung của đề tài bao gồm:
Chương I: Lý thuyết cơ bản về BHYT,
ChươngII: Thực trạng hoạt động BHYT cho người nghèo ở Thanh Hoá,
Chương III: Một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt BHYT cho người nghèo ở
Thanh Hoá.
Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên
bài viết chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Chúng em rất mong các
thầy cô đóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần
viết sau chúng em có điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.
Cuối cùng chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy Phạm Đức Trọng đã
tận tình giúp đỡ chúng em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời chúng
em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Bảo Hiểm đã truyền đạt các kiến
thức trong khi giảng dạy để chúng em có thể hoàn thành bài viết này.
Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.
1
CHƯƠNG I
thiếu trong đời sống con người. Vậy BHYT là gì?
BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự
đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám
bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. (Khái niệm về BHYT được trình bày trong
cuốn “Từ điển Bách Khoa Việt Nam 1 xuất bản năm 1995”-Nhà xuất bản từ
điển Bách Khoa)
1.2. Bản chất của BHYT
BHYT trước hết là một nội dung cơ bản của Bảo hiểm xã hội (BHXH)-
một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống đảm bảo xã hội hay còn gọi
là hệ thống an sinh xã hội. Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế
độ ưu đãi xã hội, chế độ bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của
BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền
móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội. Chính vì vai trò cực kì quan trọng của
BHXH như vậy, cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH
luôn do nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH.
Đó cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt loại hình BHYT này với BHYT
trong Bảo hiểm thương mại (BHTM). Ở các nước công nghiệp phát triển thì
loại hình BHYT trong BHTM cũng được phát triển và cũng tồn tại song song
với BHYT của Nhà nước. Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là
đang đề cập đến BHYT của Nhà nước hay nói cách khác là BHYT theo luật
pháp.
BHYT sẽ đảm bảo cho những người tham gia BHYT và gia đình họ
những khả năng để phòng tránh bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật, chữa trị và
khôi phục sức khỏe sau bệnh tật. Do các chế độ BHXH về khám chữa bệnh
(KCB), chế độ thai sản và chế độ ốm đau đều có cùng phương thức hoạt động
và các nguyên tắc cơ bản chung, cho nên tùy theo đặc điểm lịch sử, tập quán
3
của từng nước mà BHYT có thể bao gồm cả chế độ KCB, chế độ thai sản và
chế độ ốm đau hoặc được tách ra theo từng chế độ riêng biệt. Điều đó liên
quan đến phạm vi đối tượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và đối tượng
BHXH được bao nhiêu. Nếu định hướng theo mức độ rủi ro thì khi ốm đau họ
sẽ được đền bù với mức là bao nhiêu căn cứ vào trước đó họ đã đóng góp theo
mức nào như trong BHYT tư nhân hay còn gọi là bảo hiểm thương mại. Chính
định hướng này đã làm nền tảng cho các nguyên tắc cơ bản về BHYT. Chính
vì vậy, BHYT luôn mở rộng phạm vi đối tượng tham gia theo nghĩa vụ (mang
tính chất bắt buộc) và ban đầu BHYT cho người làm thuê rồi đến BHYT cho
người lao động làm thuê rồi đến BHYT cho người lao động tự do, cho người
lao động trong nông nghiệp…cho đến khi BHYT toàn dân.
Nếu nhìn nhận dưới giác độ kinh tế thì BHYT trước hết được hiểu là sự
hợp nhất kinh tế của số lượng những người trước cùng một loại hiểm nguy do
bệnh tật gây nên mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và
lo liệu được. Nhưng cái chung đó cần phải đáp ứng được bằng nguồn tài chính
dự trữ một cách thoả đáng thông qua hệ thống cân bằng rủi ro tương ứng do
nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện. Cụ thể như sau: Tổng chi phí cho KCB =
Tổng số tiền đóng góp của những người tham gia BHYT.
Như vậy cân đối về chi phí KCB được thực hiện cân bằng giữa một bên
là tổng chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và bên kia
là tổng số đóng góp của tất cả những người tham gia BHYT bất kể họ có hoặc
không có nhu cầu KCB. Thời gian cân đối về thu chi của BHYT thông thường
là một năm. Có những nước người ta tính toán cân đối để dự trù kinh phí chi
trả cho thời gian thêm một tháng. Việc cân đối thu chi còn có thể được bổ sung
thêm tùy tình hình cụ thể của từng nước và từng năm cụ thể. Trong tổng số chi
còn phải tính thêm khoản chi phí cho bộ máy quản lý làm công tác BHYT.
Trong khoản thu có thể bao gồm cả các khoản thu từ đóng góp của ngân sách
địa phương, của Trung ương và các khoản thu khác.
5
Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của nó
đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham
gia BHYT. Do vậy, hoạt động BHYT không có khoản thu lợi nhuận và đương
nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy tỉ lệ đóng góp chỉ được nâng
sử dụng nguồn quỹ đóng góp của những người tham gia BHYT và nâng cao
chất lượng KCB. Trong các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu, số người
tham gia BHYT theo luật pháp chiếm tới 90% dân số, chỉ 10% dân số còn lại
không tham gia BHXH. Nhóm người này không thuộc đối tượng điều chỉnh
của luật BHYT và phần lớn trong số họ là những người giàu có, họ có đủ khả
năng tự lo liệu khi ốm đau hoặc tham gia BHYT tư nhân để hưởng những
quyền lợi cao hơn khi ốm đau.
Ở nước ta BHYT được tiến hành từ năm 1992 và cho đến nay vẫn thực
hiện BHYT bắt buộc đối với người lao động có quan hệ việc làm giữa người
sử dụng lao động với người lao động. Những đối tượng xã hội như: người có
công với cách mạng, thân nhân sỹ quan quân đội, người nghèo cũng được Nhà
nước cấp kinh phí để tham gia BHYT. Các đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi
được KCB miễn phí bằng nguồn ngân sách Nhà nước và địa phương và đang
được xem xét để tham gia BHYT. Hình thức BHYT tự nguyện đang được vận
động thực hiện đối với học sinh, sinh viên và nhóm cộng đồng theo địa bàn
dân cư hoặc theo tổ chức xã hội…
2. Vai trò của BHYT
Trong đời sống kinh tế – xã hội, ngoài những tác dụng to lớn của hoạt
động bảo hiểm nói chung, BHYT còn có những tác dụng như sau:
BHYT giúp người tham gia BHYT khắc phục sự thiếu hụt về tài chính,
đáp ứng nhu cầu KCB của mọi người dân, khi bất ngờ bị ốm đau, bệnh tật vì
việc khám, chữa, điều trị chi phí rất tốn kém, ảnh hưởng đến ngân sách gia
đình, trong khi thu nhập của họ bị giảm đáng kể, thậm chí mất thu nhập. Từ đó
góp phần ổn định cuộc sống của họ và gia đình, vai trò này thể hiện rõ nhất đối
với người nghèo trong xã hội có thu nhập thấp.
7
BHYT góp phần nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng trong
KCB. Bởi vì khi tham gia BHYT thì mọi người dân bất kể giàu nghèo đều
được KCB và chăm sóc sức khoẻ tại các cơ sở y tế, do đó sẽ đảm bảo được
công bằng xã hội. Đồng thời quỹ BHYT sẽ hỗ trợ cho ngân sách y tế để cải
1.1. Đối tượng BHYT
BHYT như trên đã nói nhằm mục đích chăm lo sức khoẻ, khám bệnh và
chữa bệnh cho nhân dân do đó đối tượng của BHYT chính là sức khoẻ của mọi
người được bảo hiểm. Có nghĩa là nếu người được bảo hiểm gặp rủi ro về sức
khoẻ (bị ốm đau, bệnh tật…) thì sẽ được cơ quan BHYT xem xét chi trả bồi
thường.
BHXH ở nước ta hiện có các chế độ: Chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ
cấp ốm đau, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu
trí, chế độ tử tuất như vậy cũng thể hiểu BHYT là chế độ khám chữa bệnh
(KCB).
Hoạt động y tế thường bao gồm: phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi
chức năng. Tuỳ theo tính chất và phạm vi hoạt động mà BHYT ở mỗi quốc gia
có các loại hình như:
- Phòng bệnh và chữa bệnh
- Chữa bệnh và phục hồi chức năng
- Phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng
Ở các quốc gia có các loại hình như vậy thì BHYT được gọi là Bảo hiểm
sức khoẻ. Còn nếu chỉ gồm hoạt động chữa bệnh thì chỉ gọi là BHYT.
1.2. Đối tượng tham gia BHYT
BHYT nói riêng và bảo hiểm sức khoẻ nói chung là một dịch vụ bảo
hiểm rất nổi tiếng trên thế giới và được đông đảo nhân dân tham gia. Bất kì ai
có sức khoẻ có nhu cầu Bảo hiểm sức khỏe đều có quyền tham gia bảo hiểm.
Như vậy đối tượng tham gia BHYT là mọi người dân có nhu cầu BHYT cho
sức khoẻ của mình hoặc cũng có thể là người đại diện cho một tập thể, một
9
đơn vị, cơ quan…đứng ra kí kết hợp đồng BHYT cho tập thể, đơn vị, cơ quan
đó. Trong trường hợp này, mỗi cá nhân tham gia BHYT tập thể sẽ được cấp
một giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc thẻ bảo hiểm để phục vụ quyền lợi của
riêng mình. Văn bản này có thể có tên gọi khác nhau như giấy chứng nhận bảo
hiểm hoặc thẻ bảo hiểm…ở các nước khác nhau.
theo nhu cầu. Nhưng do đó công tác quản lý sẽ phức tạp hơn.
2. Phương thức BHYT
Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ
BHYT, BHYT được phân ra:
BHYT trọn gói: Là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu
phần trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được
BHYT.
BHYT trọn gói, trừ các đại phẫu thuật: Là phương thức BHYT trong đó
cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT
cho người được BHYT, trừ các chi phí y tế cho các cuộc đại phẫu thuật (theo
quy định của cơ quan y tế).
BHYT thông thường: Là phương thức BHYT trong đó trách nhiệm của
cơ quan BHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của
người được BHYT.
Đối với các nước phát triển, mức sống dân cư cao, hoạt động BHYT đã
có từ lâu và phát triển, có thể thực hiện BHYT theo cả ba phương thức trên.
Đối với các nước nghèo, mới triển khai hoạt động BHYT thường áp dụng
phương thức BHYT thông thường.
Đối với phương thức BHYT thông thường, có hai hình thức tham gia
bảo hiểm, đó là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện. BHYT bắt buộc được
thực hiện với một số đối tượng nhất định, được quy định trong các văn bản
pháp luật về bảo hiểm. Dù có muốn tham gia hay không, những người thuộc
11
đối tượng này đều phải tham gia BHYT. Số còn lại (không thuộc nhóm đối
tượng), tuỳ theo nhu cầu và khả năng có thể tham gia BHYT tự nguyện.
3. Quỹ BHYT
3.1. Nguồn hình thành quỹ BHYT
Quỹ BHYT là một quỹ tài chính độc lập có quy mô phụ thuộc chủ yếu
vào số lượng thành viên đóng góp và mức độ đóng góp của các thành viên đó.
Thông thường, với mục đích nhân đạo, không đặt mục đích kinh doanh
i
i
n
i
i
n
f
1
1
Trong đó:
i
f
: Chi phi y tế thuộc trách nhiệm BHYT của toàn bộ
người được BHYT trong năm i;
i
n
: Số người được BHYT trong năm i;
i : Số năm thống kê tính toán, thường từ 3 đến 5 năm.
Ngoài ra, quỹ BHYT còn được bổ sung bằng một nguồn khác như: sự hỗ
trợ của ngân sách nhà nước (thông thường chỉ trong trường hợp quỹ có dấu
hiệu mất khả năng chi trả), sự đóng góp và ủng hộ của các tổ chức từ thiện, lãi
do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi theo quy định của các văn bản pháp luật về BHYT
nhằm đảm bảo và tăng trưởng quỹ, …
3.2. Các khoản chi
Sau khi hình thành, quỹ BHYT được sử dụng như sau:
- Chi thanh toán chi phí y tế cho người được BHYT: Đây là khoản chi
thường xuyên, lớn nhất của quỹ BHYT. Những người thuộc đối tượng được
hưởng BHYT thì khi gặp những vấn đề về sức khoẻ sẽ được khám chữa bệnh
theo quy định của Nhà nước, khi đó BHYT sẽ thanh toán những khoản tiền
này trong phạm vi theo quy định.
kỉ 70 và 80. Trên thế giới mãi đến đầu những năm`1990 mới bắt đầu nghiên
cứu, hình thành hệ thống lý luận và phương pháp luận cho cuộc chiến chống
nghèo đói. Tuy vậy trong nhận thức của người Việt Nam khi nói đến nghèo đói
mọi người đều hiểu rằng đó là tình trạng người dân cơm không đủ ăn, áo
14
không đủ mặc, con cái không được học hành tử tế, ốm đau không có tiền chữa
bệnh, nhà cửa tạm bợ...
Khái niệm nghèo khổ đã được Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á-
Thái bình dương (ESCAP) thống nhất như sau: “Nghèo khổ là tình trạng một
bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con
người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội
và phong tục, tập quán của từng vùng được xã hội thừa nhận”. Như vậy sẽ
không có một chuẩn nghèo chung cho tất cả các quốc gia và các khu vực.
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội
ai thuộc diện nghèo và ai không nghèo để từ đó có chính sách trợ giúp cho
những người nghèo tiếp cận với thành quả của sự phát triển kinh tế - xã hội và
đảm bảo công bằng giữa các nhóm dân cư.
Chuẩn nghèo không phải là một đại lượng bất biến mà thay đổi theo thời
gian vì nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Từ năm 1996 đến
nay, chúng ta đã điều chỉnh chuẩn nghèo theo hướng tăng dần trong 3 giai
đoạn 1996-1997, 1998-2000, 2001-2005. Vào thời điểm năm 2004 tỉ lệ đói
nghèo của Việt Nam là 8%; trong đó 2 tỉnh, thành phố đã cơ bản không còn hộ
nghèo theo chuẩn; 18 tỉnh tỷ lệ nghèo chỉ còn từ 3-5%; 24 tỉnh trên 5-10%; 15
tỉnh trên 10-15 %; 3 tỉnh trên 15-20%. Đặc biệt đã có 8 tỉnh, thành phố nâng
chuẩn nghèo cao gấp 2-3 lần chuẩn nghèo hiện tại.
Trong giai đoạn 2006-2010, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ là giảm nghèo toàn diện hơn, công bằng hơn, bền vững và hội nhập;
đồng thời thu nhập và mức sống của người dân cũng được nâng cao, do vậy,
chuẩn nghèo cũng như các giải pháp thực hiện chương trình giảm nghèo cũng
phải thay đổi cho phù hợp. Theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2006-2010:
phần nhân dân sống ở nông thôn và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Do điều kiện
giao thông ở những vùng này chưa phát triển nên việc cải thiện đời sống và
CSSK còn gặp nhiều khó khăn. Sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa trong những năm gần đây đã và đang mang lại nhiều kết quả
tốt đẹp, song bên cạnh đó vẫn còn sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, tạo ra
sự bất bình đẳng trong CSSK và hưởng thụ dịch vụ y tế của người nghèo so
16
với người giàu. Chính vì lí do này mà Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều
chính sách về KCB cho người nghèo, song vẫn xẩy ra nhiều bất cập như:
- Việc cấp giấy chứng nhận cho người nghèo để giám đốc các bệnh viện
căn cứ vào đó quyết định việc miễn giảm viện phí cho người nghèo, nhưng lại
gặp khó khăn về kinh phí KCB. Các cơ quan LĐ-TB&XH cấp xong giấy miễn
phí là hết trách nhiệm, lúc đó gánh nặng về tài chính chuyển sang các cơ sở
KCB. Cơ sở KCB phải sử dụng kinh phí eo hẹp của mình để miễn giảm cho
đối tượng này. Từ đó tạo nên sự thiếu hụt trầm trọng về kinh phí KCB của các
cơ sở y tế. Thực tế còn cho thấy việc xác định người nghèo dù là ở xã, phường,
bệnh viện vẫn mang tính chủ quan. Điều này tạo ra sự không công bằng trong
xã hội.
- Có địa phương cấp một khoản ngân sách bổ sung cho các bệnh viện
để chi phí cho những người nghèo đến KCB tại bệnh viện sau đó định kì cơ
quan tài chính sẽ quyết toán theo số lượng và chi phí thực tế của người bệnh.
Hình thức này có những bất cập do nguồn kinh phí bổ sung không đều và
không đủ để chi trả chi phí cho người nghèo. Bệnh viện phải sử dụng kinh phí
giường bệnh để bù trừ gây khó khăn cho bệnh viện vốn đã rất eo hẹp về kinh
phí.
Với các hình thức nêu trên, một bộ phận người nghèo đã được CSSK
thông qua KCB miễn phí, song các hình thức đó còn nhiều thiếu sót và hạn chế
cần khắc phục.
Như vậy, để tránh tình trạng khó khăn trong công tác KCB cho người
nghèo và đảm bảo lợi ích chính đáng của họ thì “BHYT cho người nghèo” là
địa phương đã tích cực triển khai KCB BHYT tại trạm y tế xã. Sau khi Chính
phủ ban hành Quyết định 139/2002/QĐ-CP thì số thẻ BHYT cấp cho người
nghèo trong tổng số thẻ BHYT đã tăng lên từ đó đến nay.
2.2.2. Về công tác KCB cho người nghèo
Từ năm 2003-2005 nhà nước đã dành trên 2.000 tỷ đồng để KCB cho
hơn 14 triệu người nghèo, thành lập quỹ KCB cho người nghèo ở 64 tỉnh,
18
thành phố. Đến nay 29 tỉnh thực hiện thực thanh, thực chi, 24 tỉnh mua thẻ
BHYT, 11 tỉnh thực hiện cả 2 hình thức trên. Như vậy cả nước đã có khoảng 4
triệu người được cấp thẻ BHYT. Ngoài ra các bệnh viện còn miễn giảm viện
phí cho 3,78 triệu người với số tiền là 234 tỷ đồng trong năm 2004. Bên cạnh
đó việc mở rộng KCB về tuyến cơ sở cũng ngày càng được quan tâm và coi
trọng; số trạm y tế xã, phường qua các năm ngày càng tăng.
Đồ thị 1: Số trạm y tế xã, phường cả nước từ năm 2000 đến năm
2004
(Nguồn: Niên giám thống kê 2004)
Do đó số lượt người đi KCB hàng năm cũng vì thế mà tăng lên (bảng 3)
Bảng 3: Tình hình KCB cho người nghèo có thẻ BHYT
Số lượt KCB (lượt) Tỷ lệ (%)
Nội trú Ngoại trú Nội trú Ngoại trú
1999 18.200 207.157 0.036 0,415
2000 55.446 660.379 0,047 0,547
2001 67.835 782.029 0,046 0,526
2002 90.556 1.225.390 0,054 0,736
(Nguồn: BHXH Việt Nam)
Năm 2000 có khoảng 600.000 lượt người nghèo đi KCB ngoại trú, bằng
59% số thẻ đã phát hành, với chi phí trên 10,7 tỷ đồng; bình quân một lần
KCB ngoại trú khoảng 18.000 đồng. Đã có trên 55.000 lượt người nghèo điều
trị nội trú tại các tuyến, bằng khoảng 5 % số người nghèo có thẻ BHYT, tổng
19
nhất.
Người nghèo chưa tiếp cận với các dịch vụ y tế do nhiều nguyên nhân
như: do điều kiện kinh tế, thu nhập; do định cư ở những vùng xa bệnh viện; do
mạng lưới y tế tại địa phương chưa phát triển... từ đó hạn chế phần nào quyền
lợi KCB cho người nghèo, làm sai lệch nhận thức về ý nghĩa của BHYT dành
cho người nghèo. Vì vậy cần tạo môi trường thuận lợi hơn để người nghèo
được tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế, góp phần làm cho chính sách
BHYT cho người nghèo phát huy hết ý nghĩa.
II. GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN BHXH TỈNH HẢI DƯƠNG
1. Sự hình thành và phát triển của BHXH tỉnh Hải Dương
1.1. Quá trình hình thành của BHXH tỉnh Hải Dương
Cùng với hệ thống BHXH của cả nước, trải qua nhiều thời kỳ khác
nhau, BHXH tỉnh Hải Dương đã từng bước trưởng thành và phát triển vững
mạnh về mọi mặt, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đảm bảo quyền lợi
cho người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT góp phần ổn định
kinh tế, chính trị, xã hội tại địa phương.
Trước năm 1995 BHXH nước ta thực hiện theo cơ chế bao cấp, nguồn
kinh phí do Nhà nước đảm bảo, tất cả cán bộ, công nhân viên chức trong cơ
quan Nhà nước, lực lượng vũ trang đều được hưởng chế độ BHXH. Sau năm
1995 thể chế hoá Bộ Luật lao động ban hành năm 1994, ngày 16/2/1995 Chính
phủ có Nghị định số 19/CP về việc thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở
thống nhất các tổ chức BHXH thuộc hệ thống Công đoàn và Lao động-Thương
binh & Xã hội (LĐ-TB&XH) với chức năng tổ chức thực hiện các chế độ
BHXH và để thống nhất tổ chức thu, chi BHXH, quản lý quỹ BHXH theo quy
định của Nhà nước.
Do đó, ngày 15/6/1995 BHXH tỉnh Hải Hưng được thành lập. Sau 2
năm hoạt động BHXH tỉnh Hải Hưng được chia tách thành BHXH tỉnh Hải
21
Dương và BHXH tỉnh Hưng Yên từ ngày 1/10/1997, thực hiện Quyết định số
20/2002/QĐ-TTg ngày 24/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển
Phó Giám
đốc
Phòng
Chế
độ,
chính
sách
Phòng
kế
hoạch
tài
chính
Phòng
thu
Phòng
Giám
định
chi
Phòng
Bảo
hiểm
tự
nguyện
Phòng
Công
nghệ
thông
tin
Phòng
tổ
bộ-nhân viên
Trong đó
Biên chế HĐ dài
hạn
HĐ có
thời hạn
7/1995 124 124 - -
9/1997 113 102 - 11
12/200
4
196 143 49 4
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Hải Dương)
Bảng 6: Cán bộ, nhân viên được phân chia theo trình độ chuyên môn
tại BHXH Hải Dương
Đơn vị: Người
Thời
gian
Tổng số cán
bộ-nhân viên
Chia theo trình độ chuyên môn
Đại học Trung cấp Sơ cấp
nhân viên
7/1995 124 31 90 4
9/1997 113 45 63 5
12/200
4
196 129 61 6
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Hải Dương)
1.2.3 Về xây dựng cơ sở vật chất
24