THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BHYT CHO NGƯỜI NGHÈO Ở
THANH HOÁ
I. VÀI NÉT VỀ BHYT CHO NGƯỜI NGHÈO Ở VIỆT NAM
1. Quy định KCB cho người nghèo ở Việt Nam
1.1. Chuẩn nghèo
Công cuộc xoá đói giảm nghèo của nước ta bắt đầu từ những năm đầu
thập kỉ 90 của thế kỉ trước, nhưng các nước trong khu vực đã thực hiện từ thập
kỉ 70 và 80. Trên thế giới mãi đến đầu những năm`1990 mới bắt đầu nghiên
cứu, hình thành hệ thống lý luận và phương pháp luận cho cuộc chiến chống
nghèo đói. Tuy vậy trong nhận thức của người Việt Nam khi nói đến nghèo đói
mọi người đều hiểu rằng đó là tình trạng người dân cơm không đủ ăn, áo không
đủ mặc, con cái không được học hành tử tế, ốm đau không có tiền chữa bệnh,
nhà cửa tạm bợ...
Khái niệm nghèo khổ đã được Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á-
Thái bình dương (ESCAP) thống nhất như sau: “Nghèo khổ là tình trạng một bộ
phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người,
mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong
tục, tập quán của từng vùng được xã hội thừa nhận”. Như vậy sẽ không có một
chuẩn nghèo chung cho tất cả các quốc gia và các khu vực.
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội
ai thuộc diện nghèo và ai không nghèo để từ đó có chính sách trợ giúp cho
những người nghèo tiếp cận với thành quả của sự phát triển kinh tế - xã hội và
đảm bảo công bằng giữa các nhóm dân cư.
Chuẩn nghèo không phải là một đại lượng bất biến mà thay đổi theo thời
gian vì nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Từ năm 1996 đến
nay, chúng ta đã điều chỉnh chuẩn nghèo theo hướng tăng dần trong 3 giai đoạn
1996-1997, 1998-2000, 2001-2005. Vào thời điểm năm 2004 tỉ lệ đói nghèo của
Việt Nam là 8%; trong đó 2 tỉnh, thành phố đã cơ bản không còn hộ nghèo theo
chuẩn; 18 tỉnh tỷ lệ nghèo chỉ còn từ 3-5%; 24 tỉnh trên 5-10%; 15 tỉnh trên 10-
15 %; 3 tỉnh trên 15-20%. Đặc biệt đã có 8 tỉnh, thành phố nâng chuẩn nghèo
cao gấp 2-3 lần chuẩn nghèo hiện tại.
2010 là 15% (giảm 38% số hộ nghèo trong 5 năm).
1.2. Các chủ trương, Nghị định của Đảng hướng dẫn thực hiện BHYT cho
người nghèo
2. BHYT cho người nghèo ở Việt Nam.
2.1. Sự cần thiết BHYT cho người nghèo.
Việt Nam được xếp là một trong những nước nghèo trên thế giới, đa phần
nhân dân sống ở nông thôn và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Do điều kiện giao
thông ở những vùng này chưa phát triển nên việc cải thiện đời sống và CSSK
còn gặp nhiều khó khăn. Sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa trong những năm gần đây đã và đang mang lại nhiều kết quả tốt đẹp,
song bên cạnh đó vẫn còn sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, tạo ra sự bất
bình đẳng trong CSSK và hưởng thụ dịch vụ y tế của người nghèo so với người
giàu. Chính vì lí do này mà Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách
về KCB cho người nghèo, song vẫn xẩy ra nhiều bất cập như:
- Việc cấp giấy chứng nhận cho người nghèo để giám đốc các bệnh viện
căn cứ vào đó quyết định việc miễn giảm viện phí cho người nghèo, nhưng lại
gặp khó khăn về kinh phí KCB. Các cơ quan LĐ-TB&XH cấp xong giấy miễn phí là
hết trách nhiệm, lúc đó gánh nặng về tài chính chuyển sang các cơ sở KCB. Cơ
sở KCB phải sử dụng kinh phí eo hẹp của mình để miễn giảm cho đối tượng
này. Từ đó tạo nên sự thiếu hụt trầm trọng về kinh phí KCB của các cơ sở y tế.
Thực tế còn cho thấy việc xác định người nghèo dù là ở xã, phường, bệnh viện
vẫn mang tính chủ quan. Điều này tạo ra sự không công bằng trong xã hội.
- Có địa phương cấp một khoản ngân sách bổ sung cho các bệnh viện để
chi phí cho những người nghèo đến KCB tại bệnh viện sau đó định kì cơ quan
tài chính sẽ quyết toán theo số lượng và chi phí thực tế của người bệnh. Hình
thức này có những bất cập do nguồn kinh phí bổ sung không đều và không đủ
để chi trả chi phí cho người nghèo. Bệnh viện phải sử dụng kinh phí giường
bệnh để bù trừ gây khó khăn cho bệnh viện vốn đã rất eo hẹp về kinh phí.
Với các hình thức nêu trên, một bộ phận người nghèo đã được CSSK
thông qua KCB miễn phí, song các hình thức đó còn nhiều thiếu sót và hạn chế
như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh thực hiện 100%; Phú Yên, Đà Nẵng; Ninh Thuận,
Nghệ An 50%; Hà Tây 40%; Bình Thuận, Lâm Đồng 36%, nhiều địa phương đã
tích cực triển khai KCB BHYT tại trạm y tế xã. Sau khi Chính phủ ban hành
Quyết định 139/2002/QĐ-CP thì số thẻ BHYT cấp cho người nghèo trong tổng
số thẻ BHYT đã tăng lên từ đó đến nay.
2.2.2. Về công tác KCB cho người nghèo
Từ năm 2003-2005 nhà nước đã dành trên 2.000 tỷ đồng để KCB cho hơn
14 triệu người nghèo, thành lập quỹ KCB cho người nghèo ở 64 tỉnh, thành phố.
Đến nay 29 tỉnh thực hiện thực thanh, thực chi, 24 tỉnh mua thẻ BHYT, 11 tỉnh
thực hiện cả 2 hình thức trên. Như vậy cả nước đã có khoảng 4 triệu người được
cấp thẻ BHYT. Ngoài ra các bệnh viện còn miễn giảm viện phí cho 3,78 triệu
người với số tiền là 234 tỷ đồng trong năm 2004. Bên cạnh đó việc mở rộng
KCB về tuyến cơ sở cũng ngày càng được quan tâm và coi trọng; số trạm y tế
xã, phường qua các năm ngày càng tăng.
Đồ thị 1: Số trạm y tế xã, phường cả nước từ năm 2000 đến năm 2004
(Nguồn: Niên giám thống kê 2004)
Do đó số lượt người đi KCB hàng năm cũng vì thế mà tăng lên (bảng 3)
Bảng 3: Tình hình KCB cho người nghèo có thẻ BHYT
Năm
Số lượt KCB (lượt) Tỷ lệ (%)
Nội trú Ngoại trú Nội trú Ngoại trú
1999 18.200 207.157 0.036 0,415
2000 55.446 660.379 0,047 0,547
2001 67.835 782.029 0,046 0,526
2002 90.556 1.225.390 0,054 0,736
(Nguồn: BHXH Việt Nam)
Năm 2000 có khoảng 600.000 lượt người nghèo đi KCB ngoại trú, bằng
59% số thẻ đã phát hành, với chi phí trên 10,7 tỷ đồng; bình quân một lần KCB
ngoại trú khoảng 18.000 đồng. Đã có trên 55.000 lượt người nghèo điều trị nội
trú tại các tuyến, bằng khoảng 5 % số người nghèo có thẻ BHYT, tổng chi phí
như: do điều kiện kinh tế, thu nhập; do định cư ở những vùng xa bệnh viện; do
mạng lưới y tế tại địa phương chưa phát triển... từ đó hạn chế phần nào quyền
lợi KCB cho người nghèo, làm sai lệch nhận thức về ý nghĩa của BHYT dành
cho người nghèo. Vì vậy cần tạo môi trường thuận lợi hơn để người nghèo được
tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế, góp phần làm cho chính sách BHYT
cho người nghèo phát huy hết ý nghĩa.
II. GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN BHXH TỈNH HẢI DƯƠNG
1. Sự hình thành và phát triển của BHXH tỉnh Hải Dương
1.1. Quá trình hình thành của BHXH tỉnh Hải Dương
Cùng với hệ thống BHXH của cả nước, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau,
BHXH tỉnh Hải Dương đã từng bước trưởng thành và phát triển vững mạnh về
mọi mặt, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đảm bảo quyền lợi cho người
tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT góp phần ổn định kinh tế,
chính trị, xã hội tại địa phương.
Trước năm 1995 BHXH nước ta thực hiện theo cơ chế bao cấp, nguồn
kinh phí do Nhà nước đảm bảo, tất cả cán bộ, công nhân viên chức trong cơ
quan Nhà nước, lực lượng vũ trang đều được hưởng chế độ BHXH. Sau năm
1995 thể chế hoá Bộ Luật lao động ban hành năm 1994, ngày 16/2/1995 Chính
phủ có Nghị định số 19/CP về việc thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống
nhất các tổ chức BHXH thuộc hệ thống Công đoàn và Lao động-Thương binh &
Xã hội (LĐ-TB&XH) với chức năng tổ chức thực hiện các chế độ BHXH và để
thống nhất tổ chức thu, chi BHXH, quản lý quỹ BHXH theo quy định của Nhà
nước.
Do đó, ngày 15/6/1995 BHXH tỉnh Hải Hưng được thành lập. Sau 2 năm
hoạt động BHXH tỉnh Hải Hưng được chia tách thành BHXH tỉnh Hải Dương
và BHXH tỉnh Hưng Yên từ ngày 1/10/1997, thực hiện Quyết định số
20/2002/QĐ-TTg ngày 24/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển
BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh Hải Dương đã tiếp nhận
BHYT tỉnh Hải Dương và bắt đầu hoạt động theo mô hình mới, thêm nhiệm vụ
quản lý quỹ và chi trả chế độ BHYT cho người tham gia BHYT từ ngày
tỉnh, sự phối hợp của các huyện thành phố, BHXH tỉnh đã được bổ nhiệm cán
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Sau khi BHYT chuyển sang BHXH đội ngũ cán
bộ đã được bố trí, phân công, sắp xếp hợp lý để kiện toàn bộ máy tổ chức. Do
vậy đến nay đã có đủ số lượng cán bộ theo biên chế được giao và đã bổ nhiệm
đủ Trưởng phó phòng, Giám đốc, Phó giám đốc BHXH 12 huyện, thành phố.
Đội ngũ cán bộ, nhân viên của đơn vị đã được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ và ngày càng trưởng thành.
Bảng 5: Số cán bộ, nhân viên trong biên chế và làm việc theo hợp
đồng tại BHXH Hải Dương
Đơn vị: Người
Thời
gian
Tổng số cán
bộ-nhân viên
Trong đó
Biên chế HĐ dài
hạn
HĐ có
thời hạn
7/1995 124 124 - -
9/1997 113 102 - 11
12/200
4
196 143 49 4
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Hải Dương)
Bảng 6: Cán bộ, nhân viên được phân chia theo trình độ chuyên môn
tại BHXH Hải Dương
Đơn vị: Người
Thời
gian
khắc phục đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, sự lãnh đạo của BHXH Việt Nam,
của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ
với các ngành như Báo Hải dương, Đài phát thanh truyền hình, Ban tuyên giáo
tỉnh uỷ, Thanh tra Nhà nước tỉnh, Sở LĐ-TB&XH, Liên đoàn lao động tỉnh
trong việc tuyên truyền chính sách BHXH và thanh tra việc thực hiện chế độ
BHXH ở các doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức tính thu theo
tháng với các đơn vị làm cơ sở để đôn đốc thu, hàng năm đều tổ chức khảo sát
nắm số lao động trong các đơn vị, doanh nghiệp mới hoạt động để đôn đốc vận
động tham gia BHXH. Thực hiện hướng dẫn triển khai kịp thời, đầy đủ các văn
bản quy định về chế độ BHXH, tiền lương đến các đơn vị sử dụng lao động.
Công tác đôn đốc thu đã bám sát đơn vị, nắm rõ khó khăn, vướng mắc về
đóng nộp BHXH của từng đơn vị, kịp thơì bàn biệp pháp tháo gỡ, đến nay đã
thực hiện thu hết số nợ tiền BHXH trên 8 tỷ đồng do ngành Thuế bàn giao sang
tháng 7/1995 và không còn đơn vị nợ đọng tiền BHXH kéo dài.
Trong 10 năm, từ năm 1995 đến 2005 BHXH tỉnh Hải Dương đã thu vào
quỹ BHXH được 754 tỷ đồng so với tổng kế hoạch được giao là 705 tỷ đồng,
đạt 107%.
Công tác cấp sổ BHXH được triển khai từ năm 1996, quá trình triển khai
đã có sự phối hợp của các đơn vị sử dụng lao động trong việc tháo gỡ thiếu mất
hồ sơ, BHXH đã chủ động tham mưu cho Uỷ ban Nhân dân tỉnh có văn bản chỉ
đạo các cấp, các ngành chỉ đạo các đơn vị bổ sung hồ sơ, những đơn vị có
vướng mắc nhất là đối với cán bộ xã, phường, thị trấn lãnh đạo BHXH tỉnh đã
trực tiếp làm việc với lãnh đạo huyện để bàn cách tháo gỡ. Đến nay đã cơ bản
cấp kịp thời và xác nhận bổ sung sổ BHXH cho người lao động. Thực hiện ghi
và xác nhận thời gian tham gia BHXH cho trên 5.200 người của 42 doanh
nghiệp sắp xếp lại theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP và trên 700 người về theo
Nghị quyết 09 của ngành giáo dục, tạo cho người lao động yên tâm, góp phần
đẩy nhanh quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp của tỉnh.
Bảng 7: Kết quả thu BHXH từ năm 1995 đến 2004
Năm Số đơn
sách đối với đối tượng tham gia BHXH.
Tổng kết từ tháng 9/1995 đến hết năm 2004 BHXH tỉnh Hải Dương đã
xét duyệt, giải quyết chế độ thường xuyên cho 15.776 người lao động, trong đó
chế độ hưu trí 7.579 người; cán bộ xã hưởng trợ cấp hàng tháng 119 người; trợ
cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hàng tháng 286 người; trợ cấp tuất
định suất cơ bản 7.774 định suất; tuất nuôi dưỡng 18 định suất.
Đã giải quyết chế độ BHXH một lần cho 6.906 người, trong đó hưu trí 1
lần theo điều 28- Điều lệ BHXH cho 4.470 người; trợ cấp tuất 1 lần cho 1.934
người; trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp 1 lần cho 307 người; trợ cấp 1
lần cho cán bộ xã 195 người.
Điều chỉnh kịp thời chế độ tiền lương theo Chính sách của Nhà nước cho
đối tượng, trong đó chế độ lương hưu cho 2.860 cán bộ quân đội khi nghỉ hưu
có giữ chức vụ lãnh đạo theo Nghị định số 31/CP của Chính phủ. Thực hiện Chỉ
thị số 15 CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 09 CT/TW của Tỉnh uỷ và chỉ đạo
của BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh đã rà soát đối chiếu hồ sơ với chế độ đang
hưởng thực hiện điều chỉnh lại các trường hợp có sai lệch theo đúng chế độ
chính sách, pháp luật của Nhà nước đảm bảo công bằng, được sự đồng tình ủng
hộ cao của đông đảo đối tượng.
Giải quyết chế độ cho trên 400.000 lượt người hưởng trợ cấp ốm đau,
trên 16.000 người hưởng trợ cấp thai sản và gần 10.000 hưởng trợ cấp dưỡng
sức phục hồi sức khoẻ.