Thực trạng hoạt động BHYT cho người nghèo ở BHXH Hải Dương và một số kiến nghị - Pdf 23

GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
LỜI NÓI ĐẦU
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ với dân số hơn 1,5
triệu người, đại bộ phận dân cư sống ở nông thôn, phát triển kinh tế chủ yếu
dựa vào nông nghiệp, đời sống người dân vẫn còn nhiều khó khăn. Trong
những năm gần đây, tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh đã có bước phát triển
khá, đời sống của nhân dân đã từng bước được cải thiện, nhưng đồng thời với
sự tăng trưởng đó tình trạng gia tăng cách biệt giàu nghèo giữa các nhóm dân
cư trong xã hội cũng trở lên phổ biến hơn. Sự cách biệt này làm cho việc tiếp
nhận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội, trong đó có dịch vụ y tế cũng khác
nhau. Trước tình hình đó, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghèo nhất là
nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ (CSSK), bộ phận người nghèo đã được Uỷ
ban nhân dân (UBND) tỉnh quan tâm ngày càng nhiều hơn, giúp họ đảm bảo
được cuộc sống; trong thời gian qua, Sở Lao động Thương binh Xã hội (LĐ-
TB&XH) và Sở y tế phối hợp với Sở Tài chính Vật giá tham mưu cho UBND
tỉnh nhiều chủ trương và chính sách, một trong những chính sách đó chính là
Bảo hiểm y tế (BHYT) cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn nhằm
chăm sóc sức khoẻ cho họ – một nhu cầu thiết yếu của bất kì người dân nào.
Việc triển khai chính sách hỗ trợ người nghèo trong CSSK thông qua
cấp thẻ BHYT đã từng bước giúp người nghèo tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ
bản, tránh được các cú sốc về kinh tế. Tuy nhiên, việc triển khai chính sách
BHYT cho người nghèo trong thời gian qua đã bộc lộ một số yếu kém và bất
cập cần đòi hỏi phải có các giải pháp phù hợp. Đây chính là lý do em lựa chọn
đề tài: “Thực trạng hoạt động BHYT cho người nghèo ở BHXH Hải Dương
và một số kiến nghị”
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
Nội dung của đề tài bao gồm:
Chương I: Lý thuyết cơ bản về BHYT
ChươngII: Thực trạng hoạt động BHYT cho người nghèo ở
BHXH Hải Dương 2008 -2010

pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, tuy nhiên, không thể áp dụng
trong trường hợp rủi ro kéo dài và lặp đi lặp lại. Vì thế, cuối thế kỉ XIX,
BHYT ra đời nhằm giúp đỡ mọi người lao động và gia đình khi gặp rủi ro về
sức khoẻ để ổn định đời sống, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Đồng thời cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống con người được
nâng cao và nhu cầu KCB cũng tăng lên. Bởi vì khi điều kiện kinh tế cho
phép thì dù trạng thái sức khoẻ thay đổi rất ít như nhức đầu, mệt mỏi, kém
ngủ…đều có nhu cầu KCB. Hơn nữa, một số bệnh mới và nguy hiểm xuất
hiện, đe doạ đời sống con người. Thêm vào đó chi phí KCB ngày càng tăng
lên do ngành y tế sử dụng các trang thiết bị y tế hiện đại, các loại thuốc men
thì tăng giá do biến động giá cả chung của thị trường.
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
Do đó phải huy động các thành viên trong xã hội đóng nhằm giảm gánh
nặng cho ngân sách Nhà nước (NSNN) và cũng để phục vụ chính bản thân
mình khi gặp rủi ro về sức khoẻ. Càng ngày BHYT càng tỏ ra không thể thiếu
trong đời sống con người. Vậy BHYT là gì?
Để có thể định nghĩa rõ ràng về BHYT thì trước hết phải khẳng định
rằng BHYT là một loại hình Bảo hiểm xã hội (BHXH), có rất nhiều định
nghĩa về BHXH như:
- BHXH là sự đảm bảo về việc làm, thu nhập và sức lao động cho
người lao động.
- BHXH nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho người lao động.
- BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về
kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già, tàn tật và tử vong.
- BHXH là biện pháp đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
của người lao động bị mất hoặc giảm, do mất hoặc giảm khả năng lao động,
mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ tập trung từ sự đóng góp của người

chế độ ốm đau hoặc được tách ra theo từng chế độ riêng biệt. Điều đó liên
quan đến phạm vi đối tượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và đối tượng
tham gia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ được hưởng.
Ở các nước công nghiệp phát triển người ta định nghĩa BHYT trước hết
là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ
sức khỏe, khôi phục lại sức khoẻ hoặc cải thiện tình trạng sức khoẻ của người
tham gia BHYT. Như vậy trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết
cùng chia sẻ rủi ro rất cao, là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức
khỏe, nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu, giữa
thanh niên với người già cả, giữa những người có thu nhập cao và những
người có thu nhập thấp. Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự
đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của
sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau. Đây
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
cũng chính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT mà chúng ta thường đề
cập đến. Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn
phải là nghĩa vụ đóng góp. Sự công bằng và bình đẳng của một chế độ xã hội
được gắn bó với sự đoàn kết được thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt được sự bền
chặt và đoàn kết thì phải thực hiện nhiều hơn sự công bằng. Điều đó chỉ có
thể được tạo ra thông qua sự điều chỉnh trong thực rế, vì “sự công bằng” là
yếu tố động, nó chỉ đạt được tại một thời điểm, còn lại đều là sự không công
bằng. Đây là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển xã hội. Do
vậy cần có sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thường xuyên nhằm đảm
bảo mối quan hệ tương thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động
BHYT.
Nếu nhìn trên giác độ tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương
diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì công cụ BHYT là công cụ thứ hai trong quá
trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần đảm bảo sự bình đẳng
và công bằng xã hội. Hệ thống BHYT ngay từ khi hình thành đã không định

góp của ngân sách địa phương, của Trung ương và các khoản thu khác.
Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của
nó đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người
tham gia BHYT. Do vậy, hoạt động BHYT không có khoản thu lợi nhuận và
đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy tỉ lệ đóng góp chỉ
được nâng lên theo đòi hỏi quyền lợi chung của quá trình thực hiện BHYT.
Tức là tỉ lệ đóng góp BHYT chỉ được nâng lên theo nhu cầu chữa trị bệnh tật,
nhu cầu nâng cao chất lượng KCB và ứng dụng những thành tựu khoa học
tiên tiến và công tác KCB của cả cộng đồng.
Phương thức đoàn kết chia sẻ rủi ro phải được thực hiện bằng sự điều
tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội. Việc lập ra quỹ BHYT và từng bước mở
rộng phạm vi đối tượng tham gia từ đó đã mở rộng phạm vi cân bằng, chia sẻ
rủi ro trong cộng đồng những người tham gia BHYT.
Nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro chỉ được thực hiện một
cách đầy đủ và hợp lí thông qua những giới hạn nhất định. BHYT chỉ bao
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
gồm những đối tượng là những người về nguyên tắc luôn có nhu cầu được
bảo vệ về sức khỏe. Những đối tượng cụ thể sẽ được quy định theo pháp luật.
BHYT trước hết được thực hiện đối với những người lao động phụ
thuộc, tức là người lao động không có tư liệu sản xuất và phải đi làm thuê hay
những người có quan hệ lao động. Đây là loại hình BHXH nghĩa vụ, nó mang
tính bắt buộc đối với mọi người lao động phụ thuộc và chủ sử dụng lao động.
Sau đó do bản chất ưu việt nên nó được mở rộng ra các đối tượng lao động
khác như người hành nghề tự do, lao động nông lâm, ngư nghiệp…và BHYT
theo đơn vị gia đình.
Vấn đề KCB không chỉ đơn thuần liên quan đến vấn đề kỹ thuật y tế
mà còn liên quan một cách rất chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế như: các khoản
chi trả cho các nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật (khám bệnh, phẫu thuật, thủ
thuật…) của các bác sỹ, chi phí cho bệnh viện với các trang thiết bị, vật tư y

GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
Bảng 1: So sánh BHYT của Nhà nước và BHYT trong BHTM
Nội dung BHYT trong BHXH BHYT trong BHTM
Cơ sở của sự
hình thành
quan hệ bảo
hiểm
- Theo hiệu lực của pháp luật
- Bảo hiểm bắt buộc đối với người lao
động có việc làm theo nghĩa vụ BHXH và
một số đối tượng khác theo quy đinh của
pháp luật.
- Theo sự thỏa thuận dân sự về từng
loại bảo hiểm và mức độ rủi ro.
- Căn cứ vào các điều khoản của
hợp đồng bảo hiểm đã ký kết.
Mục đích - Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
- Phục vụ lợi ích xã hội.
- Hoạt động vì mục đích lợi nhuận.
- Có sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp bảo hiểm.
Cơ quan tổ
chức thực
hiện
- Cơ quan Nhà nước thực hiện hoặc các
doanh nghiệp hoạt động theo luật hành
chính công.
- Hoạt động thông qua sự điều hành của
Hội đồng quản lý gồm: đại diện của Nhà
nước, đại diện của người sử dụng lao động

định căn cứ vào tiền lương hoặc tiền công,
không phân biệt tuổi tác, giới tính, trạng
thái sức khỏe nhưng hưởng theo nhu cầu
KCB thực tế của từng người bệnh.
- Tương quan tỷ lệ thuận giữa mức
phí bảo hiểm đã lựa chọn đóng góp
với mức hưởng, mức rủi ro theo
bảng danh mục đã quy định sẵn;
đóng góp ở mức cao thì được bồi
hoàn ở mức cao và ngược lại.
Đối tượng
và điều kiện
tham gia bảo
hiểm
- Là người lao động có nghĩa vụ tham gia
BHXH
- Những đối tượng khác theo quy định của
Nhà nước
- Không phân biệt tuổi tác, giới tính, tình
trạng sức khỏe khi tham gia BHYT.
- Tự do cho mọi đối tượng.
- Xem xét và kiểm tra kỹ lưỡng các
yếu tố: tuổi tác, giới tính, tình trạng
sức khỏe trước khi kí kết hợp đồng
BHYT.
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
2. Vai trò của BHYT
Trong đời sống kinh tế – xã hội, ngoài những tác dụng to lớn của hoạt
động bảo hiểm nói chung, BHYT còn có những tác dụng như sau:

biệt là gắn bó với các chế độ xã hội. BHYT không ngừng mở rộng đối tượng
tham gia, từ đó có sự chia sẻ rủi ro trong cộng đồng những người tham gia
BHYT
Chính sách BHYT đã thúc đẩy sự phát triển của một lĩnh vực khoa học
mới, đó là lĩnh vực kinh tế y tế.
BHYT góp phần khôi phục và phát triển hệ thống y tế trường học, thực
hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu, hỗ trợ về tài chính trong tai nạn và bệnh tật
cho hàng triệu học sinh cả nước.
BHYT đã đóng góp thiết thực vào công tác tăng cường và phát triển y
tế cơ sở.
3. Mối quan hệ giữa BHYT và chế độ chăm sóc y tế
Chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ban đầu là những CSSK thiết yếu dựa trên
những phương pháp và kỹ thuật học thực tiễn, có căn cứ khoa học và chấp
nhận được về mặt xã hội, được đưa đến mọi người và gia đình trong cộng
đồng một cách rộng rãi thông qua sự tham gia đầy đủ với một chi phí mà cộng
đồng và quốc gia có thể chi trả được ở mọi giai đoạn phát triển của họ trong
tinh thần tự lực và tự quyết (Tuyên ngôn Alma Ata).
Như vậy, CSSK ban đầu nhằm góp phần thực hiện công lý và công
bằng xã hội bằng cách làm giảm sự chênh lệch giữa người có thể tiếp cận với
cấp chăm sóc y tế thích hợp và người không thể. CSSK ban đầu là CSSK thiết
yếu, nghĩa là nhằm giải quyết những vấn đề sức khoẻ có tính phổ biến và
quan trọng của cộng đồng. Mặt khác, nó phải dựa trên kỹ thuật thích nghi có
cơ sở khoa học, có sự tham gia của mỗi cá nhân và cộng đồng.
Trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ đầu tiên là chăm sóc y tế,
chủ yếu phục vụ cho CSSK ban đầu và KCB. Nội dung của CSSK ban đầu
bao gồm các công tác giáo dục và quản lý sức khoẻ; cung cấp thực phẩm và
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
dinh dưỡng hợp lý; cung cấp đầy đủ nước sạch và tinh khiết môi trường; mở
rộng tiêm chủng phòng bệnh nhiễm khuẩn quan trọng; chăm sóc bà mẹ và trẻ

1. Đối tượng, đối tượng tham gia và phạm vi BHYT
1.1. Đối tượng BHYT
BHYT như trên đã nói nhằm mục đích chăm lo sức khoẻ, khám bệnh
và chữa bệnh cho nhân dân do đó đối tượng của BHYT chính là sức khoẻ của
mọi người được bảo hiểm. Có nghĩa là nếu người được bảo hiểm gặp rủi ro về
sức khoẻ (bị ốm đau, bệnh tật…) thì sẽ được cơ quan BHYT xem xét chi trả
bồi thường.
BHXH ở nước ta hiện có các chế độ: Chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ
cấp ốm đau, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu
trí, chế độ tử tuất như vậy cũng thể hiểu BHYT là chế độ khám chữa bệnh
(KCB).
Hoạt động y tế thường bao gồm: phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi
chức năng. Tuỳ theo tính chất và phạm vi hoạt động mà BHYT ở mỗi quốc
gia có các loại hình như:
- Phòng bệnh và chữa bệnh
- Chữa bệnh và phục hồi chức năng
- Phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng
Ở các quốc gia có các loại hình như vậy thì BHYT được gọi là Bảo
hiểm sức khoẻ. Còn nếu chỉ gồm hoạt động chữa bệnh thì chỉ gọi là BHYT.
1.2. Đối tượng tham gia BHYT
BHYT nói riêng và bảo hiểm sức khoẻ nói chung là một dịch vụ bảo
hiểm rất nổi tiếng trên thế giới và được đông đảo nhân dân tham gia. Bất kì ai
có sức khoẻ có nhu cầu Bảo hiểm sức khỏe đều có quyền tham gia bảo hiểm.
Như vậy đối tượng tham gia BHYT là mọi người dân có nhu cầu BHYT cho
sức khoẻ của mình hoặc cũng có thể là người đại diện cho một tập thể, một
đơn vị, cơ quan…đứng ra kí kết hợp đồng BHYT cho tập thể, đơn vị, cơ quan
đó. Trong trường hợp này, mỗi cá nhân tham gia BHYT tập thể sẽ được cấp
một giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc thẻ bảo hiểm để phục vụ quyền lợi của
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền

GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
tượng này. Thông thường phạm vi BHYT của nhóm BHYT tự nguyện linh
hoạt hơn nhóm BHYT bắt buộc, do họ được quyền lựa chọn phạm vi BHYT
theo nhu cầu. Nhưng do đó công tác quản lý sẽ phức tạp hơn.
2. Phương thức BHYT
Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có
thẻ BHYT, BHYT được phân ra:
BHYT trọn gói: Là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ
chịu phần trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người
được BHYT.
BHYT trọn gói, trừ các đại phẫu thuật: Là phương thức BHYT trong đó
cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT
cho người được BHYT, trừ các chi phí y tế cho các cuộc đại phẫu thuật (theo
quy định của cơ quan y tế).
BHYT thông thường: Là phương thức BHYT trong đó trách nhiệm của
cơ quan BHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của
người được BHYT.
Đối với các nước phát triển, mức sống dân cư cao, hoạt động BHYT đã
có từ lâu và phát triển, có thể thực hiện BHYT theo cả ba phương thức trên.
Đối với các nước nghèo, mới triển khai hoạt động BHYT thường áp dụng
phương thức BHYT thông thường.
Đối với phương thức BHYT thông thường, có hai hình thức tham gia
bảo hiểm, đó là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện. BHYT bắt buộc được
thực hiện với một số đối tượng nhất định, được quy định trong các văn bản
pháp luật về bảo hiểm. Dù có muốn tham gia hay không, những người thuộc
đối tượng này đều phải tham gia BHYT. Số còn lại (không thuộc nhóm đối
tượng), tuỳ theo nhu cầu và khả năng có thể tham gia BHYT tự nguyện.
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
3. Quỹ BHYT

=
=
n
i
i
n
i
i
n
f
1
1
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
Trong đó:
i
f
: Chi phi y tế thuộc trách nhiệm BHYT của toàn bộ
người được BHYT trong năm i;
i
n
: Số người được BHYT trong năm i;
i : Số năm thống kê tính toán, thường từ 3 đến 5 năm.
Ngoài ra, quỹ BHYT còn được bổ sung bằng một nguồn khác như: sự
hỗ trợ của ngân sách nhà nước (thông thường chỉ trong trường hợp quỹ có dấu
hiệu mất khả năng chi trả), sự đóng góp và ủng hộ của các tổ chức từ thiện, lãi
do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi theo quy định của các văn bản pháp luật về
BHYT nhằm đảm bảo và tăng trưởng quỹ, …
3.2. Các khoản chi
Sau khi hình thành, quỹ BHYT được sử dụng như sau:

Nam ra đời theo Nghị định 299-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng và chính thức
đi vào hoạt động từ ngày 01/10/1992.
BHYT Việt Nam được tổ chức thống nhất từ Trung Ương đến địa
phương. ở Trung ương, BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ y tế. ở tỉnh thành phố
trực thuộc Trung ương có BHYT tỉnh, thành phố. Các cơ quan này lại quản lý
các chi nhánh BHYT ở cấp quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh và thành
phố. Ngoài ra ở một số ngành nghề, do tính chất đặc thù của lao động ngành
đó mà Chính phủ cho phép thực hiện BHYT ngành như BHYT giao thông
vận tải, BHYT ngành than trực thuộc BHYT Việt Nam, đồng thời chịu sự
quản lý, giám sát của các Bộ chủ quản (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công
nghiệp...). Ngoài ra, cá biệt có ngành dầu khí, BHYT ngành này được thực
hiện bởi cơ quan chuyên doanh ngành dầu khí, BHYT ngành này được thực
hiện bởi cơ quan kinh doanh bảo hiểm chuyên ngành dầu khí - PVIC, nhưng
hoàn toàn tuân thủ điều lệ BHYT chung cuả cả nước.
Từ khi ra đời đến nay BHYT luôn được xem xét, sửa đổi cho phù hợp
với thực tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu KCB của nhân dân. Cụ thể, ngày
13/08/1998 Chính phủ đã ban hành điều lệ BHYT kèm theo Nghị định số
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
58/1998/NĐ-CP thay thế cho các quy định cũ, và gần đây là Nghị định
63/2005/NĐ-CP ban hành ngày 16/05/2005 thay thế cho Nghị định 58 nói
trên. Mặt khác do những bất cập trong quản lý và do sự chồng chéo trong một
số khâu nên ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số
20/2002/QĐ chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam quản lý nhưng
vẫn hạch toán độc lập.
1.1. Đối tượng tham gia BHYT
BHYT Việt Nam được triển khai cho rất nhiều đối tượng nhưng người
ta phân thành hai đối tượng là bắt buộc và tự nguyện.
Đối tượng tham gia bắt buộc gồm người lao động Việt Nam làm việc
theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng không

tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, các trường hợp tự tử, nghiện ma tuý, cố ý
gây thương tích, vi phạm pháp luật. Như vậy, Nghị định mới cũng mở rộng
quyền lợi BHYT cho đối tượng tham gia như thanh toán cho chi phí phục hồi
chức năng, chi phí vận chuyển trong trường hợp phải chuyển tuyến chuyên
môn kĩ thuật đối với người nghèo, người thuộc diện chính sách, người sinh
sống, công tác ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Mặt khác trong trường hợp
trước đây không được quỹ BHYT thanh toán như tai nạn giao thông, bệnh
bẩm sinh, nay được thanh toán theo Nghị định mới. Đối với việc sử dụng dịch
vụ kĩ thuật cao thì người bệnh chỉ phải trả phần chênh lệch so với mức tối đa
được BHXH thanh toán; một số đối tượng như hưu trí, hưởng trợ cấp BHXH
hàng tháng người có công với cách mạng, người nghèo...được quỹ BHYT
thanh toán theo hạn mức do Bộ Y tế và Bộ Tài chính thống nhất quy định.
Đối với BHYT tự nguyện, phạm vi bảo hiểm rộng hơn, bao gồm cả
những dịch vụ y tế đặc biệt như tạo hình thẩm mỹ, phục hồi chức năng, làm
chân tay giả, răng giả, khám chữa bệnh ở nước ngoài...
1.3. Quỹ BHYT
Quỹ BHYT được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: thu tiền đóng
BHYT từ các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, tự nguyện và các nguồn
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
khác như từ ngân sách Nhà nước, viện trợ của các tổ chức quốc tế, hội từ
thiện, lãi đầu tư...
Đối với BHYT bắt buộc mức đóng được quy định thống nhất là 3%
tiền lương, tuy nhiên một số đối tượng: người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên,
người cao tuổi quy định tại điều 6 Nghị định số 30/2002/NĐ-CP, các đối
tượng được KCB theo quy định tại Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg thì mức
đóng góp tạm thời là 50.000đồng/người/ năm. Toàn bộ số tiền đóng góp này
được tập trung về BHYT tỉnh, thành phố.
Đối với BHYT tự nguyện, đóng BHYT theo thoả thuận với cơ quan
BHYT. 80% số tiền đóng góp này được tập trung về BHYT tỉnh, thành phố;

cả vật chất và tinh thần.
Có thể kể ra một vài chương trình như sau:
 Chương trình "Đem lại ánh sáng cho người nghèo mù" do đục thủy tinh
thể.
Tỷ lệ người mù do đục thủy tinh thể ở thành phố, đặc biệt ở vùng sâu,
vùng xa và các tỉnh rất cao, đục thủy tinh thể là loại mù lòa có thể cứu được
nhưng chi phí mổ đắt tiền, người mù rất mơ ước sáng mắt nhưng vì nghèo nên
cam chịu số phận mù lòa sống khổ sở 5, 10 năm đến 40 năm.
Chính vì vậy, chương trình này đem lại niềm vui vô giá cho gia đình và
cộng động đồng thời có ảnh hưởng gây xúc động rộng lớn cho trong nước và
nước ngoài.
 Chương trình "Xe lăn cho người tàn tật nghèo và trẻ em bại liệt".
Số người nghèo và trẻ em bại liệt chưa có xe lăn rất nhiều. Xe lăn với
người bại liệt là mong ước rất thiết yếu và bức xúc cho sinh hoạt và cuộc
sống. Thông cảm trước yêu cầu đó từ năm 1998, Hội Bảo Trợ bệnh nhân
nghèo TP. Hồ Chí Minh mở cuộc vận động " Xe lăn cho người tàn tật nghèo
và trẻ em bại liệt"
 Chương trình tăng cường sức khoẻ sinh sản (có sự hỗ trợ của nước
Đức) được bắt đầu thực hiện từ năm 1994 nhằm thực hiện mục tiêu cải thiện
các dịch vụ y tế để tăng cường sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục cho
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ
GVHD: ThS. Tôn Thị Thanh Huyền
nhân dân các vùng nghèo và nông thôn ở 9 tỉnh Hà Nội , Lào Cai, Quảng
Ninh, Cao Bằng, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Bình Định,
qua đó nhằm góp phần cải thiện tình hình sức khoẻ chung của nhân dân, đặc
biệt là của các bà mẹ và trẻ sơ sinh và góp phần làm giảm tăng trưởng dân số
và tỉ lệ lây nhiễm HIV cũng như để giải quyết tình hình đói nghèo do các vấn
đề liên quan đến sức khoẻ sinh sản gây ra.
 Chương trình sàng lọc sơ sinh được khởi động từ năm 1998 ở Hà Nội
tại 4 nhà hộ sinh: Nhà hộ sinh A, Nhà hộ sinh Đống Đa, Nhà hộ sinh Hai Bà

Công cuộc xoá đói giảm nghèo của nước ta bắt đầu từ những năm đầu
thập kỉ 90 của thế kỉ trước, nhưng các nước trong khu vực đã thực hiện từ
thập kỉ 70 và 80. Trên thế giới mãi đến đầu những năm`1990 mới bắt đầu
nghiên cứu, hình thành hệ thống lý luận và phương pháp luận cho cuộc chiến
chống nghèo đói. Tuy vậy trong nhận thức của người Việt Nam khi nói đến
nghèo đói mọi người đều hiểu rằng đó là tình trạng người dân cơm không đủ
ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành tử tế, ốm đau không có
tiền chữa bệnh, nhà cửa tạm bợ...
Khái niệm nghèo khổ đã được Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu
Á- Thái bình dương (ESCAP) thống nhất như sau: “Nghèo khổ là tình trạng
một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của
con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã
hội và phong tục, tập quán của từng vùng được xã hội thừa nhận”. Như vậy sẽ
không có một chuẩn nghèo chung cho tất cả các quốc gia và các khu vực.
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã
hội ai thuộc diện nghèo và ai không nghèo để từ đó có chính sách trợ giúp cho
những người nghèo tiếp cận với thành quả của sự phát triển kinh tế - xã hội và
đảm bảo công bằng giữa các nhóm dân cư.
Chuẩn nghèo không phải là một đại lượng bất biến mà thay đổi theo
thời gian vì nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Từ năm
1996 đến nay, chúng ta đã điều chỉnh chuẩn nghèo theo hướng tăng dần trong
Bảo hiểm 44B SVTH: Nghiêm Thị Huệ

Trích đoạn ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status