Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Sau hơn 30 năm ra đời, xây dựng và phát triển, Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam á, viết tắt là ASEAN (The Association of South East Asian
Nations) đã ngày một lớn mạnh. Từ một ASEAN gồm 5 nớc, đến nay
ASEAN đã trở thành một tổ chức gồm tất cả các nớc trong khu vực. Việt
Nam chính thức tham gia vào ASEAN tháng 7 năm 1995, nhng trớc đó đã
có mối quan hệ với từng nớc thành viên ASEAN và là quan sát viên của
ASEAN từ tháng 7/1992. Với sự chủ động hội nhập khu vực, Việt Nam đã
tận dụng và phát huy các lợi thế trong quan hệ hợp tác ASEAN, góp phần
hỗ trợ quan hệ song phơng với từng nớc thành viên ASEAN. Đặc biệt,
thông qua AFTA, Việt Nam sẽ có những điều kiện thuận lợi tăng cờng
quan hệ kinh tế, đầu t, thơng mại, giao lu văn hoá và nâng cao vị thế quốc
tế của Việt Nam. Sau 5 năm tham gia ASEAN quan hệ kinh tế giữa Việt
Nam và từng nớc thành viên ASEAN đã đợc mở rộng và đem lại một số
hiệu quả nhất định. Giá trị thơng mại, đầu t, các hợp tác kinh tế khác giữa
Việt Nam và ASEAN đã củng cố cho tiến trình liên kết kinh tế khu vực và
toàn cầu, nâng cao khả năng cạnh tranh của kinh tế Việt Nam với các nớc
trong khu vực. Phân tích đánh giá quan hệ kinh tế Việt Nam- ASEAN từ
đầu thập kỷ 90, đặc biệt từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của ASEAN (7/1995), thông qua các lĩnh vực hợp tác kinh tế cụ thể, từ đó
nêu lên một số triển vọng về quan hệ kinh tế giữa hai bên trong những năm
sắp tới là mục đích chủ yếu của khoá luận tốt nghiệp.
Cơ sở để thực hiện khoá luận:
Kế thừa và nghiên cứu một số công trình khoa học và bài báo,
đồng thời trớc khi làm khoá luận tác giả cũng có một chuyên đề thực tập
25 trang cùng đề tài này.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phơng pháp nghiên cứu chính đợc sử dụng trong khoá luận là: ph-
ơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; phơng pháp nghiên cứu so sánh, có
Giai đoạn này ASEAN coi Việt Nam là đối tác thù địch. Một số n-
ớc ASEAN tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc chiến tranh ở Việt
Nam. Lúc này, trên thế giới diễn ra cuộc chiến tranh lạnh và tình trạng đối
đầu giữa hai hệ thống xã hội. Các nớc ASEAN cũng bị tình hình trên tác
động mạnh và một số nớc, ở những mức độ khác nhau có những dính líu
vào cuộc chiến tranh Đông Dơng. Vào cuối những năm 60 đầu những năm
70 do những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực đã buộc các nớc
ASEAN phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình.
Tháng 11/1971, tại Cuala Lămpơ (Malaixia), Bộ trởng Ngoại
Giao các nớc ASEAN đã ký tuyên bố ZOPFAN và tìm cách thoát ra khỏi
sự dính líu vào cuộc chiến tranh Đông Dơng. Sau tuyên bố ZOPFAN, một
số nớc ASEAN đã bắt đầu thăm dò khả năng quan hệ với Việt Nam trên
một số lĩnh vực. Tuy nhiên, quan hệ hai bên lúc này cha có tiến triển gì
đáng kể.
Vào cuối những năm 1960 - đầu 1970, ở khu vực diễn ra một số
chuyển biến có tính chiến lợc, trong đó quan trọng nhất là thất bại trở nên
rõ ràng của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Thắng lợi của các nớc
nớc Đông Dơng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là những nhân tố tác
động sâu sắc tới cục diện Đông Nam á buộc các nớc ASEAN phải tính
toán lại chiến lợc của mình.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một trong những biểu hiện đầu tiên của quá trình điều chỉnh chiến
lợc này là tháng 2 - 1969 Thủ tớng Malaixia đa ra khái niệm trung lập hoá
Đông Nam á. Các nớc ASEAN, nhất là những nớc có quan hệ chặt chẽ với
Mỹ đa quân vào Việt Nam đã không tán thành khái niệm này. Trong quan
hệ với Việt Nam tuyên bố này cũng đánh dấu chấm dứt việc các nớc
ASEAN ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Thực ra trớc đó, do
tình thế thất bại của Mỹ- Nguỵ quyền Sài Gòn, các nớc ASEAN đã phải
dần dần giảm sự dính líu của mình nh: tháng 10- 1969, Philippin công bố
nhập ASEAN còn Xingapo và Thái Lan thì không nhất trí.
Những thiện chí, mong muốn tham gia ASEAN của Việt Nam ngày
càng thể hiện rõ nét. Tháng 1/ 1989, tại Hội Nghị các nhà báo Châu á -
Thái Bình Dơng ở Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch
tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các Đông Nam á (
1
)
Giai đoạn từ 1990 - 1995:
Là thời kỳ tiếp cận và bình thờng hoá quan hệ hai bên. Tại Đại hội
Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII (1991) đã khẳng định chủ chơng
thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá, trong đó
nhấn mạnh việc phát triển quan hệ hữu nghị với các nớc Đông Nam á và
Châu á- Thái Bình Dơng, phấn đấu vì một Đông Nam á hoà bình, hữu
nghị và hợp tác. Đờng lối đó đã đợc cụ thể hoá trong Nghị quyết Hội Nghị
Trung Ương lần thứ III, khoá VII (tháng 6/1992) trong đó nói rõ: Việt
Nam tham gia Hiệp ớc Bali, tham gia các diễn đàn đối thoại với ASEAN,
tích cực nghiên cứu mở rộng quan hệ với ASEAN trong tơnglai . Sau khi
Việt Nam tuyên bố muốn tham gia Hiệp ớc Bali (tháng 2/1989), các nớc
ASEAN đều lên tiếng ủng hộ và ngày 28/1/1992, Hội Nghị cấp cao
1
. Phạm Đức Thành. Việt Nam ASEAN. NXB KHXH, 1996, tr 37.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ASEAN lần thứ IV tại Xingapo (1992) đã tuyên bố rõ điều đó. Vì vậy, tới
ngày 22/7/1992 tại Hôi Nghị lần thứ 25 Bộ trởng Ngoại Giao các nớc
ASEAN, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ớc Bali và trở thành quan sát
viên của ASEAN. Việc Việt Nam trở thành quan sát viên của ASEAN đã
thể hiện sự cố gắng không mệt mỏi, với tinh thần khép lại quá khứ, hớng
tới tơng lai của các bên, nhằm xây dựng một Đông Nam á hoà bình, hữu
nghị, hợp tác để phát triển. Vào thời điểm này, nhận thức của các nớc
đứng của mình ở APEC, tìm biện pháp để chống bảo hộ mậu dịch, chuẩn
bị xây dựng vành đai kinh tế và an ninh.
Thời gian qua, các nớc ASEAN cũng quan tâm ở đờng lối đối ngoại
của Việt Nam với các nớc lớn. Theo họ nếu Việt Nam cha có cách xử lý
thích hợp liên quan với các nớc lớn trong chính sách đối ngoại, tức là Việt
nam và ASEAN cha có cách nhìn nhận, cũng nh các biện pháp cụ thể
giống nhau đối với các nớc lớn, do vậy sự gia nhập ASEAN của Việt Nam
cha đợc chín muồi. Đối với các nớc lớn, các nớc ASEAN đặc biệt quan tâm
đến thái độ của Trung Quốc về việc Việt Nam gia nhập ASEAN.
Việc Việt Nam tham gia vào Hiệp ớc Bali thể hiện cam kết của Việt
Nam với những nguyên tắc đợc Việt Nam nêu ra trớc đó trong chính sách 4
điểm của mình năm 1976. Điều đó cũng làm tăng sự tin cậy của các nớc
ASEAN và các nớc ngoài khu vực đối với Việt Nam. Trong giai đoạn này,
quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển mạnh mẽ cả trong lĩnh vực song ph-
ơng và đa phơng. Thơng mạiViệt Nam- ASEAN tăng từ 989 triệu USD năm
1990 lên 2.441 triệu USD năm 1994.
Ngày 11/7.1993, ông Gô- Chốc- Tông, Thủ tớng nớc Cộng Hoà
Xingapo đã trả lời phỏng vấn ASEAN không và sẽ không trở thành một
khối quân sự. Thế nhng, những tham khảo giữa các quan chức quốc phòng
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và quân sự sẽ tạo ra một môi trờng tin cậy lẫn nhau. Một điều tế nhị là
ASEAN không muốn trở thành một số nớc chống Trung Quốc. Do vậy,
ASEAN buộc phải thận trọng khi Việt Nam muốn gia nhập ASEAN.
Những ý kiến trên đây cho đến trớc Hội Nghị Ngoại trởng thờng kỳ
lần thứ 27 của ASEAN đợc xem là những quan điểm của các nớc ASEAN
cha nhất trí để Việt Nam gia nhập ASEAN.
Từ năm 1993, ASEAN lập cơ chế họp hiệp thơng giữa ASEAN và
Việt Nam nhân dịp Hội Nghị Ngoại trởng ASEAN. Tại Hội Nghị Ngoại tr-
ởng ASEAN lần thứ 26 tại Xingapo năm 1993, Việt Nam đã đợc mời tham
nhận Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN.
Trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển trong quan hệ Việt Nam-
ASEAN, đến tháng 7/1994 việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã đạt đợc sự
nhất trí từ hai phía. Sau khi Hội Nghị AMM lần thứ 27, Việt Nam đã đợc
mời tham dự cuộc họp đầu tiên của diễn đàn ARF (ASEAN Regional
Forum: Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN) diễn ra ngay sau đó tại Băng
Cốc.
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN chỉ còn
là thời gian và thủ tục, chứ không phải là vấn đề nguyên tắc và chính sách.
Thủ tớng Xingapo Gô - Chốc - Tông cho rằng có đợc ASEAN với toàn thể
10 nớc thành viên khu vực Đông Nam á là hãnh diện , ASEAN phải vơn
tới đội hình lớn để giành lấy sự kính trọng của thế giới (
1
). Trong buổi
gặp gỡ giữa Ngoại trởng Việt Nam với Ngoại trởng các nớc ASEAN ngày
23/7/1994, Ngoại trởng Xingapo là G. Gêyacuma phát biểu: việc Việt
Nam gia nhập ASEAN sẽ là một đóng góp quan trọng vào việc xây dựng
Đông Nam á hoà bình, hợp tác và phồn vinh (2).
1
. Phạm Đức Thành. Việt Nam - ASEAN. NXB KHXH, 1996, trang 38.
1
(1) , (2). Quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam - ASEAN. NXB Thống Kê 1997, trang 36, 37.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Năm 1994, quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển toàn diện. Trung
bình mỗi tháng có 2 cuộc viếng thăm cấp cao giữa hai bên. Cho đến nay có
khoảng 40 Hiệp định hợp tác song phơng và đa phơng đã đợc ký kết. Buôn
bán hai chiều 6 tháng đầu năm 1994 đạt trên 1 tỷ USD, trong đó cân bằng
xuất và nhập. Đầu t của ASEAN vào Việt Nam đến hết quý II năm 1994 là
1,433 tỷ USD. Tháng 9/1994 Thủ tớng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định Vụ
II. ý nghĩa của việc Việt Nam gia nhập ASEAN:
Thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá,
chủ động tích cực hội nhập khu vực và quốc tế, tháng 7/1995 Việt Nam
chính thức gia nhập ASEAN, đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử
Đông Nam á. Với sự chủ động trong công tác hội nhập khu vực, ta đã phát
huy các lợi thế trong hợp tác với ASEAN, góp phần nâng cao vị thế của ta
trên trờng quốc tế. Hơn nữa, gia nhập ASEAN, đó chính là yếu tố thúc đầy
quá trình hoà nhập của Việt Nam vào thị trờng khu vực và thế giới. Nó có ý
nghĩa kinh tế - xã hội to lớn không chỉ đối với Việt Nam mà cả khu vực.
Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã góp phần vào việc củng cố xu
thế hoà bình và hợp tác khu vực, tạo ra môi trờng quốc tế thuận lợi cho
công cuộc đổi mới, xây dựng kinh tế và bảo vệ đất nớc. Tham gia ASEAN
đã bổ trợ cho các mối quan hệ song phơng của ta với các nớc láng giềng
trong khu vực, tăng cờng hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, góp phần cải
thiện cơ bản và thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hữu nghị hợp tác của nớc ta với
các nớc này. Mặt khác, trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam có cơ
hội thúc đẩy và tăng cờng hơn nữa mối quan hệ tay đôi với các nớc ngoài
ASEAN, các tổ chức quan trọng và khu vực khác, trên các lĩnh vực chính
trị - an ninh, kinh tế - xã hội; tham gia các Hiệp định hợp tác của ASEAN
với các bên đối thoại nh: EU, Canađa, ôtxtrâylia, ... cũng nh hàng trăm các
dự án hợp tác cụ thể đợc các bên đối thoại tài trợ.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thông qua các hình thức hợp tác kinh tế, Việt Nam có thể tiếp cận
đợc những biện pháp quản lý trong một số lĩnh vực vốn là thế mạnh của
một số nớc ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam có thể học đợc những kinh
nghiệm của từng nớc nh kinh nghiệm của Thái Lan, Philippin về nông
nghiệp và công nghiệp chế biến, nông sản; kinh nghiệm của Malaixia và
Xingapo về du lịch, dịch vụ, kinh nghiệm của Xingapo về tổ chức thị trờng
vốn, kinh nghiệm của Malaixia về chế biến và xuất khẩu khoáng sản...
ASEAN với ASEAN lần lợt là 1,12 và 2,378 tỷ USD (Bảng 1).
Bảng 1: Kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN
Năm
Xuất
khẩu
(tỷ USD)
Nhập
khẩu
(tỷ USD)
Tổng kim
ngạch
buôn bán
(tỷUSD)
Tỷ lệ % so với tổng
kim ngạch của Việt
Nam với thế giới (%)
1995 1,112 2,378 3,490 23,9
1996 1,364 2,788 4,152 33,4
1997 1,911 3,166 5,077 25,5
1998 2,372 3,749 6,122 29,7
1999 2,463 3,288 5,751
Nguồn: Hội thảo 5 năm Việt Nam tham gia ASEAN, Học Viện Quan hệ Quốc tế
Hà Nội, 20/6/2000.
Đến cuối năm 1996, chỉ hơn một năm sau khi Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của ASEAN thì tổng kim ngạch buôn bán giữa Việt
Nam và ASEAN đã tăng lên đến 4,152 tỷ USD tơng đơng với 33,4 % tổng
kim ngạch buôn bán của Việt Nam với thế giới, tăng gấp 1,2 lần về số tơng
đối và tăng xấp xỉ 0,7 tỷ USD về số tuyệt đối so với năm 1995. Riêng về
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đơn vị: triệu USD và %
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
% trong ASEAN
194,5
497,0
691,5
77,8
401,7
821,6
1.223,3
80,5
593,5
1.145,8
1.739,3
67,3
1.250,0
2.032,6
3.322,6
69,7
1,080
2,437
3.517
57,4
822
1,883
2.705
47,0
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Hạt tiêu
Gạo
Cà phê
Cao su
Chè
Hải sản
Rau quả
Hạt điều
Linh kiện điện tử
TCMN
Linh kiện vi tính
Dầu thô
Giày dép
Dệt may
USD
Tấn
Tấn
nhập khẩu từ Xingapo là máy móc, ô tô, nguyên liệu và bán thành phẩm...
(Bảng 4)
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 4: Một số hàng hoá chủ yếu nhập từ Singapo năm 1999
Hàng hoá Đơn vị Số lợng
Xăng dầu các loại
Phân bón các loại
Sắt thép các loại
Linh kiện xe máy
Máy móc thiết bị
Linh kiện điện tử
Chất dẻo nguyên liệu
Nguyên phụ liệu dệt da
Tân dợc
Ô tô nguyên chiếc
Tấn
Tấn
Tấn
Bộ
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn USD
Chiếc
5.792.795
706.549
53.178
2.566
trong 10 năm qua. Giá trị ngoại thơng Việt Nam - Thái Lan tăng từ 69,3
triệu USD năm 1990 lên 869 triệu USD năm 1999. Năm cao nhất là
năm1998 đạt 943,3 triệu USD. (Bảng 5)
Bảng 5: Xuất nhập khẩu Việt Nam - Thái Lan
Đơn vị: triệu USD và %
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
% trong ASEAN
52,3
17,0
69,3
7,8
71,5
41,2
112,7
7,4
97,6
225,7
323,3
12,5
107,4
494,5
601,9
12,6
295,3
648,0
943,3
15,4
đến nay, Việt Nam luôn là nớc nhập siêu trong quan hệ thơng mại với Thái
Lan. Mức độ nhập siêu lên tới 352,7 triệu USD năm 1998, gấp 13 lần so
với năm 1993. Tình hình nhập siêu của Việt Nam có thể gia tăng nếu Việt
Nam không nâng cao chất lợng, giảm giá thành sản phẩm và chuyển dịch
cơ cấu sản xuất để tăng khả năng cạnh tranh khi chơng trình CEPT đợc
thực hiện.
c. Quan hệ thơng mại Việt Nam - Malaixia:
Quan hệ thơng mại Việt Nam - Malaixia mới đợc đẩy mạnh từ
năm1992 nhng mức độ đạt đợc còn thấp. Năm 1990, kim ngạch buôn bán
hai chiều mới đạt 0,6 triệu USD đến năm 1999 tăng lên 9,8 triệu USD.
(Bảng 6)
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 6: Xuất nhập khẩu Việt Nam - Malaixia.
Đơn vị: triệu USD và %
1990 1992 1994 1996 1998 1999 6/2000
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
% trong
ASEAN
5,0
0,8
5,8
0,6
68,4
35,9
104,3
6,9
64,8
Giá trị hàng nhập khẩu từ Malaixia tăng nhanh hơn xuất khẩu, năm
1999 là 309 triệu USD so với 0,8 triệu USD năm 1990, tăng gấp 386 lần.
Nhng tính đến tháng 6/2000 thì giá trị hàng nhập khẩu từ Malaxia là 164
triệu USD. Nh vậy, Việt Nam - Malaxia bắt đầu có xu hớng cân bằng trong
cán cân thơng mại. Hàng nhập khẩu từ Malaxia năm 1999 chủ yếu là xăng
dầu các loại: 79.266 tấn, phân bón các loại: 20.087 tấn, hàng điện tử: 26
triệu tấn, chất dẻo, nguyên liệu: 13 triệu USD.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhìn chung kể từ năm 1994 đến nay, trong quan hệ thơng mại với
Malaxia, Việt Nam luôn là nớc nhập siêu và cha tơng xứng với tiềm năng
vốn có của hai nớc. Tỷ lệ hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam sang
Malaixia chỉ chiếm 0,3% tổng giá trị ngoại thơng của Malaixia. Vì vậy,
Việt Nam cần có những chính sách thích hợp nh: nâng cao hiệu quả hợp
tác hai bên cũng nh nâng cao giá trị sản phẩm về chất lợng và số lợng để có
khả năng đáp ứng và cạnh tranh với thị trờng Malaixia đầy tiềm năng này.
d. Quan hệ thơng mại Việt Nam - Inđônêxia:
Trong số các nớc ASEAN, quan hệ thơng mại Việt Nam -
Inđônêxia đợc thực hiện từ rất sớm, từ những năm 60. Tuy nhiên, chỉ từ
1990 đến nay quan hệ thơng mại hai bên mới đợc đẩy mạnh.
Bảng 7: Xuất nhập khẩu Việt Nam - Inđônêxia
Đơn vị: triệu USD và %
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
% trong
ASEAN
14,6
9,8
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1999 Inđônêxia là nớc đứng đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam với
947.446 tấn năm 1998, và hơn 1,14 triệu tấn năm 1999. Kim ngạch xuất
nhập khẩu sang Inđônêxia năm 1999 đã chiếm 3,6% tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam - ASEAN và thị trờng lớn thứ 2 trong khu vực sau
Xingapo.
Giá trị xuất nhập khẩu từ Inđônêxia năm 1999 là 285 triệu
USD, chiếm 2,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
và đứng thứ 4 trong khối ASEAN. Hàng nhập khẩu của Việt Nam
từ Inđônêxia chủ yếu là: phân bón, hoá chất, bột giấy, linh kiện
và xe gắn máy, xăng dầu các loại...
e. Quan hệ thơng mại Việt Nam - Philippin:
Philippin là đối tác không thể coi nhẹ của Việt Nam. Mặc dù nửa
đầu những năm 1990 buôn bán giữa hai nớc mới đạt ở mức rất thấp và biến
động thất thờng (Bảng 8).
Bảng 8: Xuất nhập khẩu Việt Nam - Philippin
Đơn vị: triệu USD và%
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
% trong
ASEAN
57,0
3,6
60,6
6,8
1,0
càng tăng, năm 1995 là: 16,8 triệu USD, 1996 là: 103,1 triệu USD và năm
1999 là: 350 triệu USD.
So với các nớc ASEAN khác, Philippin là thị trờng tiêu thụ lớn nhất
của Việt Nam về linh kiện máy vi tính. Năm 1999, xuất khẩu linh kiện máy
vi tính của Việt Nam sang Philippin đạt 232,982 triệu USD, tiếp theo là
gạo: 507,393 tấn và các mặt hàng cà phê, dệt may, hạt tiêu, hạt điều, than
đá, cát trắng, rau củ quả, hải sản,... Năm 1999, Philippin chiếm 3,4% tổng
giá trị xuất khẩu của Việt Nam và là bạn hàng lớn thứ 4 của Việt Nam so
với các nớc ASEAN khác.
Việt Nam nhập khẩu từ Philippin chủ yếu là phân bón, chiếm 70%
đến 80% giá trị nhập khẩu hàng năm của nớc này. Riêng năm 1999 nhập
tới 112.700 tấn phân bón các loại, ngoài ra còn nhập các mặt hàng khác
nhng với khối lợng không lớn nh: sắt thép các loại, máy móc phụ tùng, chất
dẻo,...
f. Quan hệ thơng mại Việt Nam - Lào:
Việt Nam - Lào có mối quan hệ đặc biệt thân thiết và dành cho
nhau chế độ u đãi, đặc biệt là quan hệ ngoại thơng, mức thuế xuất khẩu
bằng 0%. Tuy nhiên, do kinh tế của hai nớc còn khó khăn nên thơng mại
hai chiều còn đạt ở mức rất thấp. (Bảng 9).
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 9: Xuất nhập khẩu Việt Nam - Lào:
Đơn vị: triệu USD.
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu 16,6 16,0 20,9 24,9 73,3 164
Nhập khẩu 3,9 7,7 102,9 68,1 104,0 195
Tổng số 20,5 23,7 123,8 93,0 177,3 359
Nguồn: Tổng cục Thống kê, sđd
Bộ Kế hoạch và Đầu t, 1999
Từ năm 1997 trở về trớc, kim ngạch buôn bán giữa hai nớc tăng