Đánh giá triển vọng hợp tác kinh tế ASEAN - Pdf 18

Lời nói đầu
Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới của Việt Nam
là làm cho nền kinh tế của Việt Nam liên kết ngày càng chặt chẽ với nền kinh tế
khu vực và thế giới. Kinh nghiệm của nhiều nớc đã đạt đợc những thành công
trong phát triển kinh tế cho thấy việc tham gia vào phân công lao động quốc tế
trong khu vực là một điều kiện hết sức quan trọng để rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá, đạt đợc tốc độ phát triển cao và ổn định. Một trong những sự kiện
quan trọng theo hớng đó là việc Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của
hiệp hội các quốc gia Đông Nam á-ASEAN.
Trong những thập kỷ qua, đã có không ít các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực
của các nớc trong thế giới thứ ba đợc thành lập, nhng ASEAN đợc coi là trờng
hợp thành công nhất. Tuy nhiên hợp tác trong khuôn khổ ASEAN nói chung và
quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-ASEAN nói riêng với t cách là một thành viên
chính thức không chỉ là cơ hội mà còn là một thách thức đối với nền kinh tế của n-
ớc ta. Dới mái nhà chung ASEAN không chỉ có hợp tác mà còn có cả cạnh tranh.
Vì vậy chúng ta muốn nâng cao hiệu quả hợp tác thơng mại trong khuôn khổ
ASEAN thì không những phải tìm ra đợc giải pháp phát huy lợi thế, khắc phục khó
khăn trong quan hệ thơng mại với các nớc ASEAN mà còn phải đánh giá đúng
mối quan hệ đó.
Bản khoá luận này nhằm so sánh quan hệ kinh tế của Việt Nam và ASEAN
trớc và sau năm 1990, đồng thời đa ra những so sánh, phân tích tình hình và dự
báo về triển vọng của mối quan hệ này.
Kết cấu bài khoá luận bao gồm ba phần chính:
Chơng I: Tình hình và đặc điểm quan hệ Việt Nam ASEAN trớc 1990
Chơng II: Tình hình và đặc điểm kinh tế Việt Nam sau những năm 1990
Chơng III: Đánh giá triển vọng hợp tác kinh tế ASEAN
Có đợc những kiến thức này là nhờ vận dụng đợc những điều đã học đợc ở trờng
Đại học Dân lập Đông đô. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo
Hoa Hữu Lân - ngời đã hớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận này.
Tuy nhiên do sự hạn về thời gian cũng nh về năng lực chủ quan, bài khoá
luận này chắc chắn còn có nhiều thiếu sót. Em rất mong đợc sự thông cảm và góp

Việt Nam bị các nớc phơng tây cô lập về ngoại giao, trong bối cảnh đó thì quan hệ
2
ngoại giao Việt Nam ASEAN bị gián đoạn, cho nên quan hệ kinh tế thơng mại
giữa hai bên hầu nh bị ngng lại. Việt Nam lúc này chỉ có quan hệ thơng mại với
khối xã hội chủ nghĩa và một số các nớc Bắc Âu.
Từ năm 1985-1989 trở đi chuyển đổi từ đối đầu cùng tồn tại hoà bình với các
nớc ASEAN, việc Việt Nam rút dần quân ra khỏi Campuchia, quan hệ chính trị
giữa hai bên dần dần đợc khai thông trở lại để phát triển kinh tế thơng mại. Nhng
nhìn chung, quan hệ thơng mại Việt Nam ASEAN còn ở mức khiêm tốn. Dới
đây là một vài số liệu về quan hệ thơng mại Việt Nam và một số nớc ASEAN
Bảng: Kim ngạch buôn bán Việt Nam - ASEAN
Nớc 1985 1989
Singapore
Thái Lan
Malaixia
indonexia
Phillippin
Asean
60, 0 triệuUSD
0, 4 triệuUSD
0, 2 triệuUSD
60, 6 triệuUSD
112 triệuUSD
17, 5 triệuUSD
3, 4 triệuUSD
31, 5 triệuUSD
164, 4 triệuUSD

Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 1992- Nhà xuất bản thống kê.
Nhìn vào bảng trên có thể thấy quan hệ thơng mại Việt Nam ASEAN giai

ớc ngoài chủ yếu vẫn là các nớc xã hội chủ nghĩa.
Bảng: Tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam(1976-1986)
Năm Tổng số Xuất khẩu Nhập khẩu
1976 1. 246, 8 222, 7 1. 024, 1
1878 1. 630, 0 326, 8 1. 303, 2
1980 1. 652, 8 338, 6 1. 314, 2
1982 1. 998, 8 520, 6 1. 472, 2
1984 2. 391, 6 649, 6 1. 745, 0
1986 2. 978, 0 822, 9 2. 155, 1
Nguồn: Niên giám thống kê năm 1986
Nói chung, các hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam mới đạt 2. 978 triệu
USD vào năm 1986. Từ năm 1988 cải cách hệ thống thu ngân sách chính phủ diễn
ra nhanh chóng theo hớng đa dạng hoá các nguồn thu, giảm bớt sự phụ thuộc vào
4
nguồn thu quốc doanh. Thu quốc doanh giảm dần, từ chỗ các khoản này chiếm
75% thu ngân sách bình quân trong thời kỳ 1984-1987 giảm xuống còn 60% trong
năm 1988 và 40% trong năm 1990.
Với chính sách xuất khẩu, đa dạng hoá đa phơng hoá trong quan hệ ngoại th-
ơng, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh, từ 3. 623 triệu rúp -đôla năm
1988 lên hơn 20. 000 triệu rúp-đôla năm 1999. Thuế xuất khẩu cũng tăng lên
trong tổng thu ngân sách chính phủ, từ 7, 5% năm 1988 lên gần 12% năm 1990 và
đã tăng lên đến 22, 5% năm 1994. Hầu hết mọi loại hàng hoá thơng mại đều phải
chịu thuế nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu thì đợc qui định cho nhiều mặt hàng quan
trọng.
Từ ngày 1-3-1992 luật thuế xuất nhập khẩu đã đợc ban hành. Đó là cơ sở
pháp lý chắc chắn cho việc xử lý thuếu trong giao dịch thơng mại quốc tế.
2. Đầu t trực tiếp:
Vào những năm 80 quan hệ việt nam và ASEAN mới đợc thiết lập trở lại chủ
yếu là quan hệ thơng mại. chính phủ việt nam luôn cố gắng sủa đổi luật đầu t để
thu hút vốn đầu t. Tháng 12 năm 1987 quốc hội nớc ta thông qua luật đầu t nớc

thông qua các hiệp hội ngân hàng ASEAN để tài trợ cho các dự án liên doanh,
năm 1981 ngân thơng mại t nhân đã hợp tác thành lập công ty tài chính ASEAN.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, những cuộc họp của những ngời đứng đầu các cơ
bảo hiểm và tái bảo hiểm trong khu vực hội đồng bảo hiểm ASEAN, một tổ chức
phi chính phủ đợc thành lập năm 1977 và đợc công nhận là hội viên liên kết chính
thức của ASEAN từ tháng 6-1993. Hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ ba đã
thông qua sáng kiến thành lập công bảo hiểm ASEAN (ATC) trên cơ sơ quĩ bảo
hiểm ASEAN.
Về hợp tác hải quan, tháng 3-1983 các nớc ASEAN đã ký điều lệ hớng dẫn
hoạt động của hải quan ( The ASEAn custom code ò conduct). Điều lệ này
Giữa các nớc thành viên sáng lập ra ASEAN cũng chỉ chiếm 15% tổng số
kim ngạch xuất khẩu của các nớc, còn 85% là buôn bán với các nớc ngoài khu
vực, chủ yếu là các nớc t bản phát triển. Điều đó là do có nhiều điểm tơng đồng
giữa các nớc trong khu vực không có lợi cho sự phát triển thơng mại giữa họ. Tất
cả đều ở trong tình trạng thiếu nguồn vốn kĩ thuật lạc hậu, cơ cấu hàng xuất khẩu
chủ yếu là nguồn nguyên liệu, nông phẩm và hàng công nghiệp gia công chế biến
dựa vào thu hút nguồn lao động rẻ trong nớc còn đang d thừa.
Hơn nữa trong thời kì đầu vẫn còn nhiều nhân tố bất ổn định, mâu thuẫn và
nguy cơ xung đột giữa các quốc gia trong khu vực: Liên Xô và Mĩ đã chi phối
6
chiều hớng phát triển khác nhau tạo ra sự bất đồng, thậm chí có khi quan hệ giữa
các nớc trong khu vực còn mang tính đối đầu nhua. Vì vậy, ngay cả khi tổ chức
ASEAN đợc thành lập, mặc dù mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đợc đặt lên hàng
đầu nh trong tuyên bố chung ngày 8 8 1967 tại Bangkok, Thái Lan đã ghi:
các nớc Đông Nam á có trách nhiệm chính về tăng cờng sự ổn định kinh tế xã hội
của khu vực; quyết tâm đảm bảo an ninh và ổn định của mình, không có sự can
thiệp của bên ngoài dới bất kì hình thức biểu hiện nào, nhung chủ đề chính trong
chờng trình nghị sự của hội nghị ngoại trởng thờng viên của ASEAN trong khoảng
mời năm đầu chủ yếu tập trung vào việc tạo lập sự ổn định, bảo đảm an ninh, giải
quyết các tranh chấp và tìm kiếm thái độ chung trớc ảnh hởng quân sự từ nớc

tiến triển rất chậm chạp trong một thời gian dài, chủ yếu là quan hệ với các nớc xã
hội chủ nghĩa(chiếm đến 60- 70 % ) còn trong tổng giá trị hàng nhập khẩu phần từ
các nớc xã hội chủ nghĩa năm thấp nhất chiếm 56% và cao nhất lên tới 81%.
Các nớc đang phát triển nói chung (có cả nớc Đông Nam á) chiếm từ 13%
đến 20% trong tổng giá trị xuất khẩu và từ 4% đến13% trong tổng giá trị nhập
khẩu vào Việt Nam trong giai đoạn từ 1976 1985.
Đến giữa những năm 1986 quan hệ thơng mại của Việt Nam với các nớc
ngoài chủ yếu vẫn là các nớc xã hội chủ nghĩa và giá trị xuất khẩu tăng chậm với
số lợng thấp.
Trong những năm 1986-1989 Việt Nam còn buôn bán với các nớc SEU kim
ngạch buôn bán với khối này trong tổng kim ngạch ngoại thơng của Việt Nam cao
nhất lên tới 73, 8% (năm 1987) và thấp nhất là năm 1989 cũng lên tới 62%.
Tuy nhiên để đối phó với thách thức bên ngoài các nớc ASEAN phải tăng c-
ờng liên kết nội bộ ASEAN nhằm tạo sức mạnh chung cho ASEAN lấy đó là chỗ
dựa cho mỗi nớc, chính vì thế mà một sự kiện quan trọng trong sự điều chỉnh này
là lần đầu tiên sau 9 năm thành lập hội nghị cao cấp lần thứ nhất ASEAN đã tiến
hành ở Bali(Inđônêxia) năm 1976. Tuyên bố của hội nghị đã khẳng định ASEAN
là một tổ chức chính trị khu vực nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh tế và hình
thành cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn. Điều này rất có lợi cho quan hệ hợp tác giữa
Việt Nam và ASEAN sau này.
8
Ch ơng II
Tình hình và đặc điểm quan hệ giữa việt nam
và sau những năm 1990
I. Mục đích của Việt Nam gia nhập asean và tham gia AFTA:
Sau nhiều năm và nhiều giai đoạn thăng trầm trong quan hệ đối ngoại giữa
hai bên Việt Nam và ASEAN đã có nhiều chuyển biến quan trọng từ thập kỉ 90
đến nay, kết quả nổi bật nhất từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã đợc kết nạp vào
ASEAN. Nh vậy không gian ASEAN đã đợc mở rộng từ ASEAN 6 thành ASEAN
7.

các nguyên tắc hoạt động cũng nh thực hiện các thoả thuật trong khối. Trong đó
nổi bật nhất là Việt Nam tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Năm 1995 kim ngạch xuất khẩu chính thức của Việt Nam đạt 5, 2 tỉ USA và kim
ngạch nhập khẩu đạt 7, 5 tỉ USA, thâm hụt 2, 3 tỉ USA trong đó hơn một nửa
thâm hụt với các nớc ASEAN, những nớc này hầu hết xuất khẩu hàng chế tạo,
phân bón và máy móc sangViệt Nam và nhập dàu mỏ từ Việt Nam. Đồng thời đay
cũng là cơ hội để Việt Nam có điều kiện tham vào sự phân công lao động sản xuất
của ASEAN, tạo điều kiện cho Việt Nam đầu t, pháp triển có chiều sâu theo hớng
chuyên môn hoá và thúc đẩy hơn nữa chất lợng sản phẩm hàng hoá để có thể vừa
hợp tác vừa cạnh tranh trong phạm vi khu vực.
II. tiến trình thực hiện AFTA của Việt Nam
Để thực hiện afta, các nớc thành viên có thể tiến hành bắt đầu cắt giảm
thuế quan của các mặt hàng thuộc diện cắt giảm vào những thời gian khác nhau,
nhng thời điểm hoàn thanh việc cắt giảm là nh nhau. Riêng đối với Việt Nam,
những thời hạn phải hoàn thành việc cắt giảm đều đợc cộng thêm ba năm.
Theo nguyên tắc này, Singapore và Malaysia đã bắt đầu thực hiên việc cắt
giảm thuế quan ngay từ năm 1993. Đối với các mặt hàng có mức thuế quan trên
20%, Brunei bắt đầu giảm từ năm 1994, Philippines năm 1996 Indonesia và Thái
lan năm 1998, Nhng đối với các mặt hàng có mức thuế quan dới 20% thì Brunei và
Philippines bắt đầu thực hiện năm 1996 còn Thái lan đến năm 1999 mới bắt đâù
thực hiện.
Tại hội đồng AFTA của ASEAN tháng 10 /1995. Việt Nam đã công bố danh
mục giảm thuế 1622 mặt hàng cho cả thời kì 1996-2000 và bắt đầu từ 1-1 -1996 sẽ
tham gia ngay vào đợt đầu lịch trình CEPT với 875 danh mục giảm thuế nhập khẩu
xuống 0-5% và sẽ tự do hoá thơng mại hoàn toàn vào năm 2006
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status