TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM HÀN QUỐC - Pdf 66

TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC KINH TẾ
THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM HÀN QUỐC
3.1) Triển vọng mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam – Hàn
Quốc.
Với những kết quả đã đạt được trong lĩnh vực thương mại và đầu tư trong
thời gian vừa qua là rất đang khích lệ. Từ đó chúng ta có cơ sở để tin tưởng vào
triển vọng tốt đẹp trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam- Hàn Quốc. Bên cạnh đó
việc đánh giá đúng về tiềm năng và triển vọng trong quan hệ trên lĩnh vực
thương mại và đầu tư sẽ giúp chúng ta đưa ra được những giải pháp đúng đắn
nhằm tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
3.1.1) Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam- Hàn Quốc
Quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam- Hàn Quốc tăng nhanh trong thời
gian qua cho thấy cả hai nước đã phát huy được lợi thế so sánh của mình và
thương mại đã có tác động tích cực đối với nền kinh tế hai nước. Tuy nhiên,
những kết quả đạt được cũng chưa phản ánh đúng tiềm năng của hai nước, nhất
là từ phía Việt Nam, hiện nay nhập siêu quá lớn. Để cải thiện tình trạng nhập
siêu hiện nay, Việt Nam cho rằng cần đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang
Hàn Quốc chứ không phải bằng cách giảm nhập khẩu.
Theo tham tán Thương mại Việt Nam tại Hàn Quốc Bùi Quang Hào nhận
định từ năm nay (2007) hàng hóa Việt Nam có thêm nhiều cơ hội xuất khẩu
sang Hàn Quốc do hai bên thực thi cam kết FTA giữa ASEAN - Hàn Quốc,
miễn thuế đối với 70% mặt hàng nhập khẩu. Đồng thời, sau khi gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam được hưởng quy chế thuế theo
quy định và có điều kiện thuận lợi để xúc tiến đàm phán song phương giải quyết
một số vấn đề liên quan đến hàng rào phi thuế quan của Hàn Quốc như kiểm
dịch động, thực vật. Cơ hội được mở rộng nhưng hàng hóa Việt Nam sẽ phải
cạnh tranh gay gắt với các nước khác trong ASEAN và đặc biệt là Trung Quốc
về chất lượng, giá cả, mẫu mã, khả năng giao hàng nhanh và ổn định. Do đó,
Việt Nam cần có quy hoạch chiến lược các mặt hàng xuất khẩu, đầu tư một cách
có hệ thống, chuyên nghiệp và biết cách quảng bá sản phẩm. Khoảng giữa năm
nay, vào dịp Hội chợ hàng nhập khẩu của Hàn Quốc, Bộ Thương mại dự định sẽ

có ưu thế của Việt Nam như: tôm, mực khô, mực đông lạnh, chả cá, cá khô, cá
đông lạnh,cá phi lê. Hiện nay Việt Nam đã có 6 phòng xét nghiệm của
NAFIQACEN được công nhận trong việc cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn
thực phẩm cho hàng thủy sản xuất khẩu sang Hàn Quốc cùng danh sách 174
doanh nghiệp được phép xuất khẩu sang Hàn Quốc, đó là những thuận lợi rất
lớn cho hàng thủy sản Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang Hàn Quốc.
Mặt khác, theo Bộ Thuỷ sản, từ đầu năm 2007, mỗi năm các nước thành viên
ASEAN, trong đó có Việt Nam, sẽ được miễn thuế nhập khẩu đối với khoảng
7.300 tấn tôm và 2.000 tấn mực nang đông lạnh sang thị trường Hàn Quốc.
Ngoài ra, lượng hàng thuỷ sản nhập khẩu ngoài hạn ngạch cũng sẽ được áp
dụng mức thuế suất ưu đãi MFN của Hàn Quốc.Thoả thuận này nằm trong Hiệp
định thương mại hàng hoá khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Hàn Quốc sẽ có
hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007. Mặc dù số lượng hàng được miễn thuế
không nhiều, nhưng đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam
tăng cường xuất khẩu sản phẩm sang thị trường Hàn Quốc.Theo Tổng cục Hải
quan, từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc đạt
khoảng 200 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước. Cục Thanh tra
chất lượng thực phẩm thuộc Bộ Hàng hải và Ngư nghiệp Hàn Quốc vừa công
nhận thêm 13 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam được phép xuất khẩu
sản phẩm sang Hàn Quốc, nâng tổng số doanh nghiệp được xuất khẩu sang thị
trường này lên 298 doanh nghiệp.
- Cà phê:
Hằng năm, Hàn Quốc nhập khẩu cà phê trị giá trung bình khoảng 67 triệu
USD/ năm, trong đó nhập khẩu từ Việt Nam( là nước đứng đầu) chiếm tới 19%.
Tuy nhiên, cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là cà phê chưa rang, giá trị
thấp. Nếu Việt Nam chú ý đến chế biến mặt hàng này để có hương vị đặc trưng
riêng cùng với tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng hình ảnh về cà phê
Việt Nam thì khả năng tăng trưởng xuất khẩu cà phê có giá trị cao hơn vào thị
trường Hàn Quốc vẫn còn nhiều cơ hội thuận lợi.
Hiện nay, cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang 54 nước, trong đó các nước

lương trong công nghiệp dệt may, giầy dép tăng nhanh, lợi thế cạnh tranh của
Hàn Quốc về mặt hàng này giảm dần so với những nước đi sau như Trung
Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và các nước đang phát triển khác, vì vậy Hàn Quốc đã
chuyển hướng sang các mặt hàng có giá trị cao với kỹ thuật công nghệ cao hơn.
Tình hình đó đã tạo ra một thị trường có triển vọng hơn với hàng dệt may, giầy
dép Việt Nam. Hiện nay, mặt hàng dệt may của Việt Nam có kim ngạch xuất
khẩu sang Hàn Quốc lớn thứ hai, chỉ sau thủy sản, năm 2003 là 67,42 triệu
USD, chiếm 13,7% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc. Mặt hàng giầy
dép đứng thứ 6 trong số các mặt hàng xuất khẩu sang Hàn Quốc, với 20,47 triệu
USD chiếm 4,2% tỷ trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc.
- Hàng đồ gỗ:
Đây là mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Hàn Quốc năm 2005 đứng thứ 7,
đạt 46 triệu USD, chiếm tỷ trọng 4,9% tổng kim ngạch ngoại xuất khẩu của Việt
Nam vào thị trường này. Đây là mặt hàng được đánh giá là có nhiều tiềm năng,
vì là mặt hàng mới trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc
nhưng đã sớm được mặt hàng này chấp nhận, đặc biệt là các loại đồ gỗ nội thất.
Tuy nhiên Việt Nam cần phải chú trọng nhiều đến việc giới thiệu quảng bá để
mặt hàng này được phổ biến hơn nữa trên thị trường Hàn Quốc.
Ngoài ra Việt Nam còn xuất khẩu một số mặt hàng khác, trong đó có
những mặt hàng đã từng xuất khẩu sang Hàn Quốc, là những mặt hàng chủ yếu
của Việt Nam hiện nay như dầu thô, than đá, gạo, hàng thủ công mỹ nghệ, điện
tử… có tiềm năng lớn để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc.
Thực tế trên đã cho thấy rằng, đẩy mạnh quan hệ thương mại Việt Nam-
Hàn Quốc đã đem lại lợi ích cho cả hai bên. Tíep tục phát triển quan hệ này trên
cơ sở nguyên tắc hai bên cùng có lợi thì quan hệ thương mại giữa hai nước sẽ
ngày càng phát triển bền vững.
3.1.2) Triển vọng FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam
Có thể nhận định rằng triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn
Quốc vào Việt Nam trong những năm tới là rất lớn bởi những tiêu điểm chính
sau:

Quốc cũng hy vọng vào việc môi trường đầu tư của Việt Nam sẽ cải thiện trong
thời gian tới. Trong đó, 38% doanh nghiệp hy vọng việc mở cửa thị trường sẽ
thúc đẩy hơn nữa, 32% hy vọng vào sự phát triển của thị trường tiêu dùng của
Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Tuy vậy, các doanh nghiệp này nhận xét vẫn còn có những khó khăn khi
đầu tư tại Việt Nam. Cụ thể, theo họ khó khăn lớn nhất là sự khác biệt về văn
hóa, hành lang pháp lý chưa hoàn thiện (trong đó có vấn đề quan liêu tham
nhũng), do thiếu thông tin, và bất đồng ngôn ngữ,…
- Hàn Quốc đang lên kế hoạch thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài. Hàn Quốc
đang có nhiều động thái để khuyến khích các doanh nghiệp nước này tăng
cường đầu tư ra nước ngoài.Đây là một phần trong những nỗ lực giảm bớt
những áp lực lên hoạt động xuất khẩu do sự tăng giá của đồng Won thời gian
qua. Theo lời của Bộ trưởng Bộ Tài chính Hàn Quốc Kwon O-Kyu cho biết,
nước này sẽ miễn thuế thu nhập trong 3 năm đối với các nhà đầu tư địa phương
khi đầu tư ra nước ngoài. Mặt khác, Hàn Quốc cũng cho phép gia tăng mức đầu
tư vào bất động sản tại nước ngoài, từ mức 1 triệu USD lên 3 triệu USD. Động
thái này nhằm khuyến khích các tập đoàn Hàn Quốc tăng cường đầu tư, dự đoán
lượng vốn đầu tư ra nước ngoài có thể sẽ lên đến 15 tỷ USD.
3.2) Các giải pháp chung nhằm tăng cường hợp tác kinh tế giữa Việt Nam-
Hàn Quốc
Trong thời gian tới, quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc sẽ chịu sự tác
động của các yếu tố mang tính tòan cầu, khu vực và quốc gia khác nhau.Trên
phạm vi tòan cầu, tất cả các nền kinh tế trên thế giới tiếp tục chịu ảnh hưởng của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, trong đó đặc biệt là cách mạng công
nghệ thông tin và sinh học, của quá trình tự do hóa kinh tế.Trong khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương, quan hệ kinh tế Việt Nam-Hàn Quốc sẽ chịu tác động
của yếu tố Trung Quốc, sự lớn mạnh của các NIEs, làn sóng liên kết kinh tế khu
vực, kể cả việc tìm kiếm các FTAs, sự chênh lệch trong phát triển giữa các quốc
gia, cũng như một số biến động khác. Ngòai ra, định hướng chiến lược phát
triển kinh tế của hai nước cũng là những yếu tố tác động lên sự phát triển quan

thứ 15 của nước này, song lại chủ yếu được tạo nên bởi sự gia tăng đầu
tư. Hệ quả là, nếu đầu tư có nguy cơ giảm đi, sẽ làm thay đổi vị trí của thị
trường Việt Nam đối với Hàn Quốc. Hơn nữa, trước mắt, Việt Nam chưa
thể đàm phán về một FTA với nước này.
Trong hai nhóm yếu tố trên, nhóm các yếu tố thúc đẩy có tác động mạnh
hơn.Do đó, triển vọng phát triển quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc trong tương lai là
rất khả quan. Kết luận này còn được dựa trên nhận định cho rằng trong mối
quan hệ này, các bên tham gia chưa khai thác hết tiềm năng của mình. Trong
trao đổi hàng hóa, nhiều mặt hàng có khả năng xuất khẩu của Việt Nam chưa,
hoặc tiếp cận thị trường Hàn Quốc ở mức thấp, như đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ,
đồ nội thất, dầu thô, nông sản nhiệt đới. Sản phẩm từ các cơ sở có vốn đầu tư
Hàn Quốc xuất khẩu trở lại nước này chưa nhiều. Trong lĩnh vực đầu tư, các dự
án đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ còn ít, đặc biệt cho các ngành
công nghiệp nhẹ. Trong lĩnh vực du lịch, tiềm năng phát triển rất lớn, bởi Việt
Nam mới thu hút được một lượng khách ít ỏi trong luồng khách du lịch từ Hàn
Quốc sang các nước châu Á- Thái Bình Dương. Trong xuất khẩu lao động, Việt
Nam chưa xuất khẩu lao động có trình độ kỹ thuật cao sang Hàn Quốc. Dựa trên
tất cả những điều đó có thể khẳng định rằng trong tương lai, quan hệ Việt Nam-
Hàn Quốc tiếp tục được phát triển, nhưng Việt Nam vẫn rơi vào tình trạng nhập
siêu trong cán cân thương mại với Hàn Quốc. Tuy nhiên, mức nhập siêu có thể
giảm đi, do khả năng gia tăng thu nhập từ “ xuất khẩu tại chỗ”, chương trình cải
cách khu vực công nghiệp của Hàn Quốc và sự chuyển dịch cơ cấu trong khu
vực công nghiệp theo hướng chuyển dần các ngành công nghiệp nhẹ và công
nghiệp phụ trợ của Hàn Quốc ra nước ngoài.
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc.
1. Quan điểm chung
Trong xu thế tòan cầu hóa và hợp tác khu vực ngày càng gia tăng, quan
hệ kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc cần phải dựa trên và hướng tới việc tạo
lập một khuôn khổ hợp tác đa phương mới mà nền tảng là những nguyên
tắc của Tổ chức thương mại thế giới. Với việc Việt Nam đã là thành viên

đóng tàu.Ngoài ra, chính phủ cần nhận thức rõ rằng việc giảm bớt sự
thâm hụt trong cán cân thương mại với Hàn Quốc sẽ chỉ thực hiện được,
khi quan tâm đúng mức không chỉ đến việc gia tăng xuất khẩu và định
hướng nhập khẩu, mà còn quan tâm đến việc tăng cường hoạt động xuất
khẩu tại chỗ thông qua du lịch, xuất khẩu lao động có kỹ năng sang Hàn
Quốc và các lĩnh vực liên quan khác, như đào tạo nguồn nhân lực, nâng
cao năng lực quản lý.
Đối với các bộ liên quan của Việt Nam như Bộ thương mại, Bộ kế
hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng cục Du lịch,
có một số kiến nghị sau:
- Trên cơ sở hiểu rõ tầm quan trọng cũng như bất cập của công tác này
trong thời gian qua, các bộ liên quan cần nhận thức đầy đủ hơn về công
tác xúc tiến thương mại, phải coi đó là chiến lược phát triển kinh tế nhấn
mạnh đến việc thúc đẩy xuất khẩu thông qua các biện pháp khuyến khích,
hỗ trợ cần thiết. Theo cách hiểu đó, công tác nghiên cứu thị trường cần
được tíến hành một cách có bài bản hệ thống, bên cạnh hoạt động cung
cấp thông tin về thị trường, tổ chức hội chợ, triển lãm hay giới thiệu sản
phẩm. Tham gia vào thực hiện công tác xúc tiến xuất khẩu phải bao gồm
tất cả các cơ quan liên quan ở cấp chính phủ, các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu
và các doanh nghiệp trong sự phối hợp hoạt động chặt chẽ giữa chúng;
- Công tác nghiên cứu thị trường thường được tiến hành dưới hai
khía cạnh- nghiên cứu chung và nghiên cứu về một thị trường hàng hóa
cụ thể. Đối với thị trường Hàn Quốc, việc nghiên cứu chung nên do các tổ
chức thuộc các bộ liên quan tiến hành, bao gồm nghiên cứu về phương
hướng phát trỉển chung của nền kinh tế Hàn Quốc, giới thiệu về tập quán
kinh doanh, hệ thống phân phối, những thay đổi chính sách, thói quen
tiêu dùng, đặc trưng văn hóa của thị trường này. Để tiết kiệm chi phí và
nâng cao hiệu quả sử dụng các kết quả đạt được, các bộ liên quan cần trao
đổi các kế hoạch nghiên cứu, cũng như thông tin về các kết quả đạt được
với nhau. Trong hoạt động này cần có sự tham gia tích cực của Thương

- Cần tăng cường hoạt động hợp tác với các cơ quan chuyên ngành
của Hàn Quốc nhằm nhận được sự giúp đỡ của họ về tài chính, cung cấp
thông tin, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác để cùng phát triển.
3.3 Một số giải pháp, chính sách cho sự phát triển quan hệ thương mại Việt
Nam - Hàn Quốc
Qua những phân tích ở chương 2, có thể thấy rằng quan hệ thương mại
song phương Việt Nam - Hàn Quốc đã và đang được phát triển với tốc độ cao.
Mối quan hệ này được xây dựng trên một nền tảng pháp lý khá vững chắc, nhận
được sự quan tâm thường xuyên của các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước và nhất
là có sự gặp nhau giữa nhu cầu và lợi ích của các bên tham gia nhờ sự hiện diện
của lợi thế so sánh giữa hai nước mang lại. Trong tương lai, mối quan hệ này có
nhiều cơ hội để tiếp tục được phát triển. Đối với Việt Nam, mối quan hệ thương
mại song phương với Hàn Quốc có tầm quan trọng đặc biệt, bởi nước này là
một trong 10 bạn hàng lớn nhất và một trong năm nước đầu tư lớn nhất vào
nước ta. Để nắm bắt được những cơ hội phát triển, Việt Nam cần phải đối mặt
với những thách thức khác nhau. Vì thế, việc đề ra các giải pháp chính sách
nhằm đối mặt với những thách thức đó là rất cần thiết. Trong phần này sẽ đề cập
đến hai nhóm giải pháp chính sách chính nhằm phát triển quan hệ thương mại
song phương Việt Nam - Hàn Quốc là nhóm các giải pháp chính sách chung và
nhóm các giải pháp chính sách trong từng lĩnh vực cụ thể .
3.3.1) Nhóm các giải pháp và chính sách chung.
Để đẩy mạnh sự phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn
Quốc đòi hỏi sự tham gia thực hiện của cả chính phủ và các bộ ngành liên quan,
cũng như sự tham gia tích cực từ phía các doanh nghiệp. Chỉ có như vậy chúng
ta mới có thể đề ra các giải pháp cần thiết và hiệu quả nhằm nâng cao hơn nữa
quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
3.3.1.1) Đối với chính phủ Việt Nam và các bộ ngành liên quan
Nhóm các giải pháp chính sách chung bao gồm tăng cường tự do hoá
kinh tế nói chung và tự do hoá thương mại và đầu tư nói riêng, đa dạng hoá, đa
phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, tích cực chuyển dịch cơ cấu ngành

Nếu Việt Nam tăng cường tự do hoá thương mại trong phạm vi ASEAN và
APEC, đặc biệt với việc Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO thì sẽ được
hưởng những ưu đãi nhất định từ các chính sách kinh tế hiện hành của Hàn
Quốc. Hiện tại, phần lớn hàng công nghiệp của Hàn Quốc có mức thuế suất
nhập khẩu là 8%, song nếu là thành viên của WTO chỉ còn từ 2-2,5%, thậm chí
0%. Ví dụ, mức thuế suất đối với đồ gỗ cho các thành viên WTO là 0% --2%
(trừ một số mặt hàng như đồ gỗ dùng trong y học, phẫu thuật ... có mức 2,5%),
đồ chơi và đồ dùng thể thao là 3%, thay vì mức 8% như bình thường. Tình hình
tương tự như vậy đối với nhóm hàng nông sản. Mức thuế nhập khẩu đối với các
loại thịt là từ 30-50%, song nếu là thành viên WTO chỉ còn 3%, đối với gạo
tương ứng là 5% và 1%. Như vậy, việc trở thành thành viên của WTO, Việt
Nam không những sẽ được hưởng một số ưu đãi về thuế khi xuất khẩu hàng
hoá, mà còn có cơ hội tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường Hàn Quốc. Việc thực
hiện các cam kết trong WTO, đặc biệt là các cam kết về mở cửa thị trường, sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá của hai nước tiếp cận thị trường của nhau
được dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, các qui định về quản lý và kiểm soát nhập khẩu
cũng minh bạch hơn và ít bị bóp méo thương mại hơn. Điều này đặc biệt có lợi
cho các nhà xuất khẩu nông, thuỷ sản Việt Nam, vì từ trước tới nay họ gặp trở
ngại đáng kể bởi các hàng rào kiểm dịch động thực vật và các tiêu chuẩn của
Hàn Quốc. Các hoạt động hợp tác trong APEC, trong đó có các hoạt động hỗ
trợ, xây dựng năng lực và trao đổi thông tin. góp phần củng cố năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong thương mại quốc tế. Thông qua các hoạt
động tạo thuận lợi cho thương mại, những trở ngại đối với các doanh nghiệp đã
và đang được giảm đi dáng kể, thông qua việc hài hoà hoá các thủ tục hải quan,
thừa nhận lẫn nhau đối với các tiêu chuẩn. Các cam kết về mở cửa thị trường
dịch vụ của Việt Nam trong khuôn khổ gia nhập WTO sẽ tạo thuận lợi hơn nữa
cho các nhà đầu tư Hàn Quốc. Khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, cả
hai nước sẽ được hưởng sự bảo vệ bởi các qui định chung, có điều kiện vận
dụng cơ chế tham vấn và giải quyết tranh chấp thương mại công bằng của
WTO. Các vấn đề còn tồn tại về mặt chính sách, như các biện pháp phi thuế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status