GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC TIỀN TỆ
KHU VỰC ĐÔNG Á
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 đã làm tăng thêm nhu cầu hợp tác tiền tệ Đông Á
và khiên cho nhu cầu hợp tác tiền tệ trong khu vực này trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhiều
nghiên cứu cho răng khủng hoảng tiền tệ Đông Á là nguyên nhân chủ yếu làm tăng thêm những
yếu kém trong khu vực. Tuy nhiên, chênh lệch về mức độ phát triển và những khác biệt về cơ cấu
kinh tế có thể là những trở ngại, song đồng thời cũng có thể là nhân tố hỗ trợ cho sự hợp tác tiền tệ
khu vực. Sự khác biệt về mức độ tuyển dụng lao động, vốn và công nghệ có thể kích thích thương
mại hàng hóa và đầu tư, do vậy, làm tăng nhu cầu hợp tác tiền tệ trong khu vực nhằm xóa bỏ tình
trạng mất cân đối trong phát triển giữa các quốc gia trong khu vực, cũng như ngăn ngừa xảy ra
khủng hoảng trong tương lai. Do đó, vấn đề hợp tác tiền tệ đang nổi lên như là một nhiệm vụ quan
trọng và cấp thiết đối với các quốc gia Đông Á. Sau đây là một số giải pháp nhằm tăng cường hợp
tác tiền tệ khu vực Đông Á.
I. Giải pháp đối với khu vực
Kinh nghiệm trong hội nhập tiền tệ của châu Âu cho thấy, để thực hiện được lộ trình ngắn
hạn và dài hạn đã đề ra, Đông Á cần có sự hợp tác chính sách tỷ giá và tiền tệ theo 3 bước như sau
:
- Hợp tác chính sách lỏng : hợp tác về nguồn lực và thông tin
- Hợp tác chính sách chặt : cơ chế tý giá hối đoái Châu Á (AERM)
- Hợp tác chính sách thống nhất hoàn toàn : các giải pháp nhằm hướng đến một Liên minh
tiền tệ Châu Á (AMU)
1. Hợp tác chính sách lỏng
Để thực hiện chính sách lỏng, các nền kinh tế khu vực cần tăng cường hợp tác để chia sẻ
nguồn lực và thông tin.
Hợp tác về thông tin đòi hỏi các quốc gia Đông Á phải bắt đầu đối thoại chính sách về các
vấn đề tỷ giá hối đoái như là một phần của quá trình tăng cường giám sát nhắm hạn chế những mâu
thuẫn và sự biến động tiền tệ trong khu vực. Những cuộc đối thoại này nên tập trung vào các vấn
đề như : phát triển thị trường hối đoái, các dòng luân chuyển vốn, dự trũ ngoại hối, và các chính
sách tài chính tiền tệ và tỷ giá.
Hợp tác về nguồn lực đòi hỏi các quốc gia phải thiết lập thỏa thuận tích lũy và chia sẻ
nguồn dự trữ ngoại hối nhằm ngăn ngừa và xử lý khủng hoảng tiền tệ trong khu vực – một cách
WTO nhằm giảm bớt cá rào cản đói với thương mại, đầu tư và chu chuyển vốn giữa các khối kinh
tế, đồng thời giảm thiểu những bất lợi đối với các nước thành viên có trình độ phát triển thấp hơn
trong khu vực.
Lịch trình tiếp theo là tổng kết các FTAs/EPAs song phương khác nhau trong phạm vi
Đông Á để hướng đến một FTA rộng khắp Đông Á. Để đơn giản hóa nhiệm vụ này, mỗi FTA/EPA
nên có các điều luật đơn giản và minh bạch, có xem xét đến các rào cản thuế quan bên ngoài, danh
mục loại trừ, quy tắc xuất xứ và hài hòa hóa các tiêu chuẩn, thủ tục và các quy định. Quá trình hôi
nhập của khu vực sẽ nhanh chóng, mạnh mẽ và thuận lợi hơn khi ngay từ đầu có một sự thống nhất
giữa các FTA/EPA về các quy tắc xuất xứ, danh mục loại trừ, khung thời gian tự do hóa, và quá
trình hài hòa hóa các tiêu chuẩn , thủ tục, quy tắc quy định về an toàn, môi trường, di chuyển của
thể nhân… để tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư qua biên giới.
2. Hợp tác chính sách chặt
Hợ tác chính sách lỏng được thực hiện và đáp ứng đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia
Đông Á chuyển sang quá trình hợp tác chính sách chặt.
Một sự tiếp cần đa phương thức sẽ mang tính hiện thực hơn bởi vì các nền kinh tế được
chuẩn bị sẵn sàng có thể tiến tới phối hợp chính sách tỷ giá và tiền tệ chặt chẽ hơn, và những nước
đi sau có thể dần dần bắt kịp các nước đi trước. Ở giai đoạn này, cần thiết lập một cơ chế hỗ trợ tài
chính tốt để duy trì cơ chế tỷ giá ERM châu Á thông qua một thỏa thuận khả năng thanh khoản
trong ngắn hạn để đảm bảo cho những can thiệp thường xuyên trên thị trường tiền tệ. Ngoài ra,
phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô cao độ - đặc biệt là các điều luật về chính sách tài khóa và tiền tệ
- là rất cần thiết cho việc duy trì cơ chế tỷ giá ERM châu Á và tạo ra một hệ thống ổn định, có thể
tin cậy được.
Trong phối hợp chính sách tỷ giá, bước đàu tiên là các nền kinh tế khu vực thảo luận về các
vấn đề tỷ giá như là một phần của việc tăng cường giám sát kinh tế. Khi các quốc gia trong khu
vực đã đạt được mức độ hội nhập và nhất thể hóa sâu rộng hơn, khi các thể chế hỗ trợ ngày càng
phát triển thì một khuôn khổ chung về ổn định tỷ giá trong khu vực cần được thiết lập.
Sự phối hợp chính sách tỷ giá và tiền tệ cũng đòi hỏi các quốc gia Đông Á phải xem xét
thận trọng các vấn đề kiểm soát về vốn hiện đang duy trì ở nhiều nước trong khu vực. Những quốc
gia đang duy trì kiểm soát nguồn vốn nên từng bước nới lỏng vấn đề này, đặc biệt là vấn đề kiểm
soát các luồng vốn chảy ra, đồng thời đẩy mạnh giám sát khu vực tài chính.
Đông Á cần có nhiều nỗ lực cố gắng để cùng phối hợp hành động, thực hiện các biện pháp hợp tác
về chính sách và tỷ giá tiền tệ. Song, biện pháp quan trọng hơn cả đối với các quốc gia Đông Á vẫn
là giải quyết các mâu thuẫn và bất đồng chính trị. Không giống như châu Âu, Đông Á không có
một mong muốn rõ ràng về cóa bỏ những rào cản chính trị ở khu vực, một phần do sự khác biệt lớn
giữa các quốc gia về hệ thống chính trị, văn hóa và lịch sử. Chính vì vậy, mặc dù các quốc gia đều
bày tỏ ủng hộ đối với các chương trình hợp tác tài chính tiền tệ trong khu vực, tuy nhiên để có thể
đẩy mạnh tốc độ hội nhập và hợp tác tiền tệ trong tương lai, các quốc gia trong khu vực vần phải
có những cam kết chính trị mạnh mẽ hơn nữa thì mới có thể hướng đến quá trình hội nhập một
cách toàn diện và lâu dài.
II. Giải pháp đối với Việt Nam
Có thể khẳng định rằng Việt Nam nên xem xét và tham gia tích cực vào lộ trình hợp tác
tiền tệ Đông Á. Hợp tác tiền tệ Đông Á có thể tác động đến kinh tế Việt Nam theo từng mức độ
khác nhau trên tất cả các phương diện của nền kinh tế. Đồng thời những tác động này có thể mang
lại nhiều lợi ích hơn là rủi ro nếu Việt Nam có những dự tính, đối sách ngay từ bây giờ. Do đó,
việc xem xét các giải pháp riêng trong các lĩnh vực cụ thể, từ thương mại, đầu tư đến tiền tệ - ngân
hàng.. để giúp Việt Nam hội nhập tiền tệ tốt hơn với khu vực là điều hết sức cần thiết.
1. Giải pháp trong lĩnh vực thương mại – đầu tư
Để đảm bảo hội nhập thương mại - đầu tư thành công, tạo tiền đề cho hợp tác tiền tệ khu
vực cần thực hiện phối hợp các biện pháp sau:
- Đối với bên ngoài, cần tích cực tham gia các cuộc đối thoại chính sách cũng như phối hợp
trao đổi thông tin với các nước trong khu vực nhằm hiểu được chính sách vĩ mô cũng nhưng chính
sách thương mại và chính sách đầu tư của từng quốc gia, để từ đó có những bước đi đúng hướng và
thích hợp trong hội nhập thương mại – đầu tư. Đây cũng là bước đệm cần thiết để Vieetn Nam có
thể tham gia thành công vào quá trình hợp tác tiền tệ khu vực.
- Đối với trong nước, cần có các biện pháp hỗ trợ tài chính có điều kiện cho donah nghiệp
có khả năng cạnh tranh hiệu quả và xuất khẩu thông qua viecj : tăng cường và đa dạng hóa các hình
thức tín dụng xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp thanh toán xuất nhập
khẩu, tiếp tục hoàn thiện các giải pháp ưu đãi tín dũng cho xuất khẩu phù hợp với các nguyên tắc
của WTO. Đồng thời, việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu, phát triển, tiếp
thị sản phẩm ra các thị trường mới cũng là một biện pháp được coi trọng. Bên cạnh các chính sách
đòi hỏi chúng ta cần phải có các biện pháp giải quyết đồng bộ các vấn đề về sắp xếp lại bộ máy tổ
chức, nhân sự, máy móc phương tiện cũng như cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng…
Về chính sách tỷ giá, Việt Nam cũng cần có sự điều chỉnh thích hợp để có thể tham gia vào
quá trình hợp tác tiền tệ khu vực Đông Á nói chung. Hội nhập tiền tệ Đông Á với sự ra đời của một
đồng tiền chung trong khu vực, mà trước hết là Đơn vị tiền tệ châu Á(ACU) sẽ có tác động nhất
định đến dự trữ ngoại hối và tỷ giá hối đoái của Việt Nam. Trước hết, dự trữ ngoại tệ hiện nay của
Việt Nam chủ yếu bằng USD và EUR, do đó ACU ra đời và trở thành một đơn vị tiền tệ chung
thống nhất trong khu vực có thể sẽ giúp Việt Nam có thêm một công cụ để đa dạng hóa dự trữ
ngoại tệ. Thứ hai, ACU ra đời có thể sẽ tạo ra hướng đi cần thiết cho việc xây dựng một chế độ tỷ
giá hối đoái thích hợp cho Việt Nam. Việc sử dụng rổ tiền tệ để xác định tỷ giá VND có thể cần
được xem xét và gắn với ACU để hạn chế rủi ro về tỷ giá cũng như tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ thương mại nội vùng.
3. Các giải pháp hỗ trợ khác
Ngoài các giải pháp đã nêu trên, Việt Nam cũng cần có các giải pháp hỗ trợ khác để chuẩn
bị và tiến tới hội nhập tiền tệ khu vực thành công.
Trước hết, cần tăng tốc phát triển kinh tế nhằm rút ngắn khoảng cách tụt hậu với các nước
trong khu vực, từ đó tao nền tảng cho việc đảm bảo đước các tiêu chí nhất thể hóa kinh tế với các
nước trong khu vực. Muốn vậy, một trong những tiền đề quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền
vững là chất lượng thể chế. Mặc dù đã có nhiều cải thiện, nhưng theo xếp hạng của các tổ chức
quốc tế thì chất lượng thể chế của Việt Nam còn khá thấp. Việt Nam đứng sau hầu hết các nước
trong khu vực Đông Á và chỉ đứng trên Indonesia và Myanmar, ngang bằng với Philippines. Do
đó, về dài hạn để duy trì được tốc độ phát triển nhanh và bền vững, vấn đề chất lượng thể chế cần
phải được cải thiện hơn nữa, ít nhất là ngang bằng với các nước trong khu vực. Việt nam không chỉ
phải theo đuổi các cải cách quản trị về thể ché, mà còn phải kết hợp với cải cách về cơ cấu kinh tế
thì mới hy vọng đạt được nhiều lợi ích hơn từ hội nhập khu vực.
Thứ hai, lành mạnh hóa khu vực tài chính và từng bước tiến tới tự do hóa tài khoản vốn
nhằm đáp ứng đước các tiêu chí về hội nhập và nhất thể hóa của khu vực.
Thứ ba, nâng cao năng lực, trình độ hiểu biết cũng như ý thức hội nhập của người dân Việt
Nam, nhất là đội ngũ cán bộ trong các ngành tài chính – tiền tệ - ngân hàng để đáp ứng nhu cầu
hợp tác tiền tệ khu vực. Điêu này đòi hỏi các ban nganh có liên quan cần xúc tiến nhiều biện pháp