Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
ục tiêu mà tất cả các quốc gia đều mong muốn vơn tới đó là sự
phát triển và thịnh vợng. Song để đạt đợc điều này, đòi hỏi mỗi n-
ớc đều phải tự xây dựng các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội sao cho vừa
phát huy nội lực, khắc phục đợc khó khăn và yếu kém vừa tránh đợc sự tụt hậu
xa đối với xu thế chung.
Việt Nam đang trong quá trình phát triển, xây dựng nền kinh tế thị trờng
theo hớng mở, nằm trong khu vực kinh tế Châu á Thái Bình Dơng - vòng cung
kinh tế đang phát triển năng động nhất thế giới, lại vấp phải nhiều khó khăn thử
thách: nền công nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất phục vụ xây dựng và phát triển
kinh tế vừa thiếu vừa lạc hậu, hệ số cơ giới hoá thấp, đội ngũ cán bộ khoa học
còn nhiều bất cập về số lợng và trình độ, nền tài chính quốc gia còn quá eo hẹp
cha đáp ứng mức cần thiết nhu cầu phát triển kinh tế xã hội .
Khắc phục tình trạng trên và nhằm thực hiện đờng lối công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc thì một trong những tiền đề nhằm phát triển kinh tế là vốn
bởi sẽ là không tởng khi nói đến phát triển kinh tế mà không có vốn hay không
đủ vốn.
Thực tế, không quá khó khăn khi nhận thức rằng nguồn vốn có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nhng sẽ là khó khăn khi đi tìm kiếm nó.
Câu hỏi đặt ra là: vốn đợc khơi nguồn từ đâu?
Theo nh tuyên bố của Đại hội Đại biểu toàn quốc khoá VII của Đảng:
Để công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc cần huy động đợc nguồn vốn sẵn có
với sử dụng có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trong nớc là quyết định, nguồn
vốn bên ngoài là quan trọng.
Nội lực rất nhiều nhng có một vấn đề đặt ra: bằng cách nào để khơi
thông, thu hút đợc ? Nh chúng ta đã biết, trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay,
có rất nhiều chủ thể, thông qua các con đờng khác nhau có khả năng cung cấp
dẫn vốn đáp ứng nhu cầu về vốn. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận đợc
là huy động vốn qua các trung gian tài chính - Ngân hàng thơng mại (NHTM) -
M
Chơng I:
Một số vấn đề chung về hoạt động huy động
vốn của ngân hàng thơng mại
1.1. Ngân hàng thơng mại và hoạt động của Ngân
hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
1.1.1. Khái quát về NHTM
Tính cho đến thời điểm hiện nay, ngân hàng thơng mại đã có một tuổi đời
hoạt động tơng đối dài, tuy nhiên bất cứ khi nào đề cập tới NHTM ta không thể
bỏ qua lịch sử ra đời của nó. NHTM là một trung gian tài chính ra đời dựa trên
cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá và dựa trên sự khác biệt về
tiền tệ giữa các vùng các khu vực.
Hình thức ngân hàng sơ khai, đầu tiên là nhận tiền gửi và cho vay một
phần số tiền đó. Hình thức này xuất hiện là do một số ngời có nhu cầu cất trữ số
tiền của mình, trớc nhu cầu đó một số thơng gia đã đứng ra làm nhiệm vụ trông
coi, cất giữ hộ tiền và tiến hành thu phí giữ hộ tiền. Trong quá trình cất giữ hộ,
các thơng gia đã nhận thấy trong kho cất giữ tiền của mình luôn tồn tại một l-
ợng tiền d thừa, vì thực tế không bao giờ ngời gửi tiền lại rút hết tiền và rút tiền
cùng một lúc, thờng có rất nhiều đến gửi tiền và rút tiền. Trong khi đó, có rất
nhiều ngời có nhu cầu vay vốn để tiến hành hoạt động kinh doanh. Vì vậy các
thơng gia đã bắt đầu sử dụng một phần tiền thừa trong két ra để đem đầu t và
thu lãi, từ đó họ có thêm một phần lợi nhuận.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đã xuất hiện nhiều hình thức ngân
hàng khác nhau, song đến nay ngân hàng đã trở thành một tổ chức kinh doanh
tiền tệ chuyên nghiệp mà hoạt động thờng xuyên và chủ yếu vẫn là nhận tiền
gửi của khách với cam kết hoàn trả lại đúng số tiền đó cộng thêm một phần lãi
và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu t và thực hiện một số nghiệp vụ khác.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng đợc coi là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hoá
trong kinh tế thị trờng, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đó để cho vay thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh
toán.
Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH10) điều 20: NHTM là
loại hình tổ chức tín dụng đợc thc hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh khác có
liên quan. Trong đó Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Thông thờng, các nớc có thể sử dụng các loại mô hình NHTM nh sau: mô
hình truyền thống và mô hình hiện đại.
Mô hình truyền thống: gồm có các ngân hàng đa năng và các
ngân hàng chuyên doanh.
Mô hình phổ biến hiện nay (mô hình hiện đại): gồm có các
ngân hàng thơng mại - các định chế tài chính lớn, các ngân hàng
phát triển, các ngân hàng có quy chế chuyên môn hoá, các ngân
hàng có quy chế đặc biệt.
Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng, mỗi loại ngân hàng đều
mang những nét đặc trng phù hợp với điều kiện cuả thời kỳ đầu chuyển đổi
của nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Cụ thể Việt Nam có
các loại hình ngân hàng sau:
NHTM quốc doanh: Loại ngân hàng này đợc coi là chiếm vị thế
trong hệ thống tổ chức tín dụng của nớc ta. Hình thức sở hữu là doanh
nghiệp Nhà nớc, thành lập, cấp vốn chịu sự quản lý cuả Nhà nớc, hoạt động
trong tất cả các lĩnh vực ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đối với mọi thành
phần kinh tế, mọi lĩnh vực sản xuất lu thông, xây dựng trong và ngoài nớc.
Hiện nay có 6 ngân hàng quốc doanh là: Ngân hàng công thơng, Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng đầu t và phát triển, Ngân
hàng ngoại thơng, Ngân hàng ngời nghèo, Ngân hàng phát triển nhà ở
Đồng bằng sông Cửu Long.
NHTM cổ phần: là loại hình ngân hàng phải đợc thành lập theo luật
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
a. Nghiệp vụ huy động vốn.
Đây là nghiệp vụ cơ bản, đầu tiên quan trọng nhất của một ngân hàng.
Vốn đợc ngân hàng huy động dới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng (sau
khi đảm bảo một tỷ lệ dự trữ bắt buộc) với trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi.
Nguồn vốn của NHTM gồm vốn tự có (vốn chủ sở hữu), vốn vay, vốn khác.
Ngân hàng thờng sử dụng các nghiệp vụ huy động vốn sau:
Vốn tự có của ngân hàng: là nguồn vốn thuộc sở hữu của riêng các
NHTM. Thực tế nguồn vốn này không ngừng tăng lên từ kết quả động kinh
doanh của bản thân NHTM, nó đóng góp một phần đáng kể vào hoạt động
kinh doanh cuả các NHTM.
Nghiệp vụ tiền gửi: phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp
vào để thanh toán hoặc nhằm mục đích bảo quản tài sản qua đó NHTM có
thể huy động đợc. Ngoài ra các ngân hàng còn huy động các khoản tiền
nhàn rỗi của các cá nhân hay hộ gia đình gửi vào ngân hàng với mục đích h-
ởng lãi.
Nghiệp vụ tiền vay: phản ánh quá trình tạo ra nguồn vốn bằng cách
vay các tổ chức tín dụng trên thị trờng tiền tệ và vay ngân hàng trung ơng
(NHTW) dới các hình thức tái chiết khấu, vay có bảo đảm... mục đích tạo
sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi họ không tự cân
đối đợc trên cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Ngân hàng sử dụng nghiệp vụ
này để thu hút các khoản vốn có tính chất dài hạn của ngân hàng vào nền
kinh tế. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp NHTM tăng cờng tính ổn định
vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
Nghiệp vụ huy động vốn khác: Thông qua nghiệp vụ này NHTM có
thể tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho
các tổ chức cá nhân trong và ngoài nớc.
b. Nghiệp vụ sử dụng vốn.
kỳ).
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cho vay phi trả góp (khách hàng thanh toán một lần theo kỳ hạn
đã thoả thuận).
Cho vay hoàn trả theo yêu cầu (khách hàng vay có thể hoàn trả
bất cứ lúc nào khi có thu nhập).
Hai là tiến hành đầu t
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt
những nhu cầu khác nhau. Với t cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh
vực dịch vụ dịch vụ, đòi hỏi Ngân hàng phải luôn nắm bắt đợc thông tin, đa
dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế.
Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu t.
Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thơng mại có thể tiến hành là:
Đầu t vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu t góp
vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác.
Đầu t vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia
tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu lớn lao ấy là
hàng loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an
toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt
động của mình, ngân hàng không thể bỏ qua sự an toàn. Vì vậy, ngoài
việc cho vay và đầu t để thu đợc lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một
phần nguồn vốn huy động đợc để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán
và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung ơng đề ra.
c. Nghiệp vụ khác.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vốn đợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và Nhà nớc trong nền kinh tế. Theo sự suy luận này, muốn có nhiều
vốn phải tăng thu nhập quốc dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Tăng thu nhập
quốc dân đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô về cả chiều rộng lẫn chiều
sâu của sản xuất và lu thông hàng hoá, song khi đẩy mạnh sự phát triển của
các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có vốn. Khi nền kinh tế ngày
càng phát triển sẽ tạo ra càng nhiều nguồn vốn. Ngân hàng huy động các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế
(vốn tạm thời nhàn rỗi đợc giải phóng từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết
kiệm của dân c...) thông qua các nghiệp vụ đặc biệt là tín dụng, ngân hàng
thơng mại đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho
quá trình tái sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế. Vì
vậy, chúng ta có thể khẳng định chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh chính là ngân hàng thơng mại.
Thứ hai, ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trờng .
Nh chúng ta đã biết, nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế trong quá
trình vận động chịu tác động của rất nhiều các quy luật kinh tế khách quan
nh quy luật cung, cầu, cạnh tranh. Các doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế này cũng không thoát khỏi sự tác động mạnh mẽ của các quy luật
kinh tế khách quan đó. Họ không những phải đáp ứng nhu cầu thị trờng về
phơng diện giá cả, khối lợng, chất lợng, chủng loại mà còn đòi hỏi phải thoả
mãn trên phơng diện thời gian, địa điểm. Do vậy, nâng cao chất lợng lao
động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, cải tiến máy móc trang
thiết bị, tìm tòi sử dụng các nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất
một cách thích hợp chính là nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng
một cách tốt nhất các yêu cầu của thị trờng. Vì những hoạt động này đòi hỏi
khối lợng vốn lớn (thông thờng vợt quá khả năng vốn tự có của doanh
nghiệp). Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến với ngân
hàng xin vay vốn. Hoạt động tín dụng đã khiến ngân hàng trở thành chiếc
mại.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nh trình bày ở phần trên sự ra đời và phát triển của ngân hàng là tất yếu
đối với nền sản xuất và lu thông hàng hoá. Vậy những yếu tố nào cấu thành nên
điều tất yếu đó? Mọi sự vật hiện tợng luôn tồn tại trong mối quan hệ biện
chứng, tác động qua lại lẫn nhau, sự vật này tồn tại đợc là nhờ có sự tồn tại của
sự vật khác mà theo nh các quy luật của lĩnh vực triết học là cái chung và cái
riêng. Bản thân ngân hàng, để đợc coi là bà đỡ cho nền sản xuất hàng hoá,
hay trái tim cung cấp máu cho mọi tế bào của đời sống kinh tế xã hội, thì
hoạt động huy động vốn không thể đứng ngoài.
1.2.1. Khái niệm về vốn của ngân hàng th ơng mại.
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nớc khác nhau các trung gian
tài chính lại đợc phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung
là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thơng mại đóng góp khối lợng tài sản và
tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có đợc vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố
lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trớc tiên là
vốn.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thơng mại tạo lập
hoặc huy động đợc, dùng để cho vay, đầu t hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác.
Về thực chất, thì nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc
dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà ngời
chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng. Nh vậy
ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dới hình thức tiền
tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ kích thích mọi hoạt động
kinh tế phát triển.
1.2.2. Phân loại nguồn vốn của ngân hàng th ơng mại.
Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, thu đợc lợi nhuận cao là một
doanh nghiệp biết tận dụng mọi khả năng, nắm bắt thông tin chớp mọi thời
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Không hoàn lại, vì ngân hàng sử dụng vốn tự có chủ yếu để mua
sắm các loại TSCD, công nghệ ngân hàng, thành lập các chi nhánh, hùn
vốn đầu t cổ phiếu... nên nó chỉ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt
động kinh doanh của mình mà không hề trực tiếp mang lại lợi nhuận.
Nhỏ, tỷ lệ vốn tự có/ tổng nguồn vốn =1/20, đây là tỷ lệ thông th-
ờng.
Việt Nam hiện có 6 NHTM quốc doanh là Ngân hàng Ngoại thơng,
Ngân hàng Công thơng, Ngân hàng Đầu t và Phát triển, Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng phục vụ ngời nghèo, Ngân hàng nhà
ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vốn điều lệ của NHNT, NHCT, NHĐT&PT là
1100 tỷ VND, NHNo&PTNTVN là 2200 tỷ VND - đây là nguồn vốn do Nhà n-
ớc cấp ban đầu. Tính đến tháng 10/1998, trên địa bàn thủ đô Hà Nội có 6
NHTMCP trong đó NHTM Kỹ thơng, NHTMCP Châu á Thái Bình Dơng có
vốn điều lệ là 70 tỷ VND, NHTMCP quân đội có vốn điều lệ 100 tỷ VND,
NHTMCP quốc tế và NHTNCP nhà Hà Nội có vốn điều lệ 50 tỷ VND.
b. Vốn huy động:
Nếu vốn tự có để đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh cuả các
ngân hàng thơng mại thì vốn huy động chính là nhân tố thúc đẩy hoạt
động kinh doanh của ngân hàng mở rộng hay thu hẹp quy mô. Trong
tổng nguồn vốn của ngân hàng thơng mại đây là phần vốn chiếm tỷ trọng
lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất. Nó đợc hình thành từ các nguồn sau:
Từ nguồn tiền gửi.
Trong nền kinh tế luôn tồn tại những ngời thừa vốn và những ngời
thiếu vốn. NHTM đã biết điều hoà cái mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các
công cụ, và các nghiệp vụ của mình huy động các nguồn vốn trong xã hội.
Dới đây là một số hình thức mà NHTM có thể sử dụng để huy động vốn từ
nguồn tiền gửi:
Thứ nhất, tiền gửi thanh toán (hay tiền gửi không kỳ hạn, tiền
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Từ nguồn tiền vay
Vốn đi vay là quan hệ vay mợn giữa NHTM với NHTW, hoặc giữa
các NHTM với nhau , các tổ chức tín dụng khác. Trong một số trờng hợp khi
các ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động
thì NHTM có thể đi vay.
Vay của NHTW.
NHTW là ngời cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, là ngân hàng của
các ngân hàng. Bất kỳ ngân hàng thơng mại nào khi đợc NHTW cho phép
thành lập và hoạt động đều đợc hởng quyền vay tiền tại NHTW khi thiếu
hụt dự trữ bắt buộc hay thiếu tiền đáp ứng nhu cầu thanh toán. Tuỳ theo
mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay của ngân hàng thơng mại
xin vay đợc chia thành: vốn vay ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán và vay
để tái cấp vốn. Tuy nhiên do vốn vay NHTW là quan hệ trực tiếp giữa
NHTM với NHTW nằm trong sự điều tiết của chính sách tiền tệ. Vì vậy,
không phải lúc nào việc đi vay vốn vủa NHTW cũng diễn ra suôn sẻ.
Vay các TCTD
Trong trờng hợp đó, NHTM có thể huy động bằng cách vay vốn của
các tổ chức tín dụng khác bằng việc mời họ tham gia hình thức cho vay
đồng tài trợ cho các dự án phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, phục vụ
đời sống; hoặc hình thức vay qua đêm trên thị trờng tiền tệ.
Một nguồn vốn vay khác mà ngân hàng có thể huy động: là phát
hành kỳ phiếu có mục đích, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác. Nếu
những hình thức huy động trên là hình thức huy động mang tính bị động thì
hình thức này là hình thức chủ động. Cụ thể: Khi ngân hàng phát hành trái
phiếu, kỳ phiếu có nghĩa là ngân hàng phát hành một giấy nhận nợ đối với
khách hàng của mình, nhằm huy động vốn có mục đích, có kỳ hạn rõ ràng.
Giữa phát hành kỳ phiếu và trái phiếu khác nhau ở chỗ: kỳ phiếu có mục
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
yêu cầu của thực tế đặt ra do mức động viên tài chính vào ngân sách nhà n-
ớc chỉ ở mức 20-21%, còn lại đợc phân phối vào các thành phần kinh tế và
khu vực dân c; gánh nặng trả nợ của ngân sách Nhà nớc cho những món vay
từ những năm 1990 trở về trớc để đáp ứng nhu cầu chi để đầu t phát triển,
chi thờng xuyên đã đến hạn thanh toán và nếu không trả sẽ dẫn đến nợ ngân
sách Nhà nớc chồng chất, tất yếu sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế
xã hội .
Kênh thị trờng chứng khoán: đây là kênh huy động vốn trung và dài
hạn có hiệu nhất, tuy nhiên do thị trờng chứng khoán Việt Nam mới đi vào
hoạt động sự hiểu biết của công chúng còn hạn chế (thậm chí đối với nhiều
ngời dân khái niệm về thị trờng chứng khoán còn hết sức lạ lẫm và mơ hồ),
hàng hoá còn nghèo nàn, hệ thống luật pháp còn cha đầy đủ.
Do vậy chỉ còn một kênh duy nhất là huy độngvốn thông qua NHTM.
b. Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh cũng phải
có vốn, vì vốn là năng lực chủ yếu quyết định đến khả năng, quy mô hoạt động.
Ngân hàng là một doanh nghiệp, đòi hỏi một lợng lớn vốn mới có thể thực hiện
kinh doanh. Nguồn vốn này cho phép ngân hàng mở rộng, đa dạng hoá các hình
thức kinh doanh, giảm thiểu rủi ro trong khi thực hiện đi vay và cho vay. Sau
đây là những lợi ích mà nguồn vốn đem lại cho ngân hàng:
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng vì
khác với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thờng, hoạt
động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng có những đặc trng riêng, vốn không
chỉ là phơng tiện kinh doanh chính mà còn là đối tợng kinh doanh chủ yếu.
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trờng tiền tệ
(thị trờng vốn ngắn hạn) và thị trờng chứng khoán (thị trờng vốn dài hạn).
Quá trình kinh doanh tiền tệ của ngân hàng đợc mã hoá bằng công thức T-
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của ngân hàng là đi vay để cho vay, nếu không có uy tín thì ngân hàng
không thể tồn tại và ngày càng mở rộng hoạt động của mình. Uy tín đợc thể
hiện ở khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng
thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng
lớn. Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ
lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của ngân hàng
nói riêng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh
với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu
quả, góp phần vừa giữ đợc chữ tín, vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng
trên thơng trờng.
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trờng.
Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp có khả năng tự hoàn thiện mình hơn. Với
ngân hàng vốn chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân
hàng. Thực tế đã chứng minh: quy mô vốn, trình độ nghiệp vụ, phơng tiện
kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn, và nguồn
vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan
hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lợng tín dụng,
chủ động về thời hạn, lãi suất. Kết quả của sự gia tăng trên giúp ngân hàng
kinh doanh đa năng trên thị trờng, phân tán rủi ro, tạo thêm vốn cho ngân
hàng và khi đó, tất yếu trên thơng trờng sức cạnh tranh của ngân hàng sẽ
tăng lên.
1.2.4. Các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM trong nền
kinh tế thị tr ờng
NHTM làm nhiệm vụ đi vay (tạo vốn) và cho vay hoặc đầu t với mục
đích hởng chênh lệch lãi suất. Quá trình tạo vốn của ngân hàng thơng mại đợc
thực hiện dới các hình thức sau:
a. Nếu căn cứ theo thời gian huy động.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Huy động từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
Việc vay vốn này nhằm giải quyết tình trạng thiếu vốn của ngân
hàng. Theo quy định, ở Việt Nam vốn vay giữa hai ngân hàng đợc thoả
thuận bằng hợp đồng tín dụng, vốn cho vay phải đợc bảo đảm bằng hình
thức thế chấp hoặc cầm cố bằng tài sản đi vay; tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại
NHTW, các chứng từ có giá khác. Trong trờng hợp, các NHTM đã vay mợn
lẫn nhau nhng vẫn thiếu vốn, mất khả năng thanh toán thì NHTM có thể vay
NHTW thông qua việc chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá. NHTW
tiến hành vai trò ngời cứu cánh cuối cùng bằng việc cho vay để bổ sung
nguồn vốn tín dụng ngắn hạn theo kế hoạch đã phân phối cho các ngân
hàng quốc doanh; tái chiết khấu các thơng phiếu, trái phiếu kho bạc mà các
tổ chức tín dụng đã cho khách hàng vay cha đáo hạn.
Ngoài hình thức vay NHTW, các NHTM còn tiến hành vay ở các
ngân hàng và các tổ chức tín dụng, Việt Nam hoạt động vay mợn này chủ
yếu đợc diễn ra thông qua thị trờng nội tệ (hình thành giữa các NHTM,
TCTD và NHTW, đợc thành lập 07/1993 sau một thời gian hoạt động đã
giúp các NHTM Việt Nam bổ sung nguồn vốn, khắc phục thiếu hụt trong
thanh toán); qua thị trờng ngoại tệ (thành lập 10/1994 giúp NHTM giải
quyết sự khan hiếm ngoại tệ).
c. Căn cứ vào công cụ huy động
Đây là hình thức huy động mà đợc các NHTM hay sử dụng nhất. Các
công cụ huy động này gồm:
Huy động tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi có thể phát hành séc).
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân có thể rút tiền hoặc trả cho bên thứ
ba bằng cách phát hành séc; ở các nớc phát triển loại tiền gửi này phần lớn
đợc rút thông qua điện thoại hay máy rút tiền tự động ATM. Đặc điểm quan
trọng, đối với ngời gửi là: chuyển nhợng dễ dàng, mục đích giao dịch là
chính, thờng đợc mệnh danh là tiền gửi theo yêu cầu, không đem lại lãi suất
cụ thể. Đối với ngân hàng, chỉ cần bỏ ra một chút chi phí cho việc quản lý
Tóm lại, loại tiền gửi này có đặc điểm là tính ổn định thấp (muốn sử
dụng có hiệu quả nguồn này phải mở rộng quy mô huy động vốn); chi phí
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
huy động rẻ (có những ngân hàng áp dụng mức lãi 0% hoặc nếu có thì cũng
rất thấp); luôn là đối tợng phải chịu dự trữ bắt buộc, điều này tạo nên một
chi phí thực cao hơn chi phí danh nghĩa; có tính thanh khoản cao.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
Nếu tiền gửi không kỳ hạn số d tăng giảm phụ thuộc vào tình hình
sản xuất kinh doanh của khách hàng gửi tiền, thì tiền gửi tiết kiệm và tiền
gửi có kỳ hạn lại phụ thuộc vào lãi suất.
Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền mà chủ nhân có quyền rút ra theo
nh thời hạn đã đợc thoả thuận với ngân hàng, mục đích của loại tiền gửi
này là hởng lãi chứ không phải là hởng các tiện ích trong thanh toán. Đặc
điểm của loại tiền gửi này là không đợc dùng để thanh toán; hiệu quả sử
dụng nguồn này đối với ngân hàng rất cao vì nó có thời hạn rõ ràng; chi
phí để huy động đối với ngân hàng là khá đắt vì lãi suất huy động thờng
cao (thông thờng lãi suất tỷ lệ thuận theo thời gian: thời gian gửi càng dài
thì lãi suất phải trả càng cao). Mỗi nớc lại có cách huy động tiền gửi này
riêng.
Tiền gửi có kỳ hạn ở Mỹ chiếm 39% tiền gửi ngân hàng, đặc điểm
là các chứng chỉ tiền gửi đợc ghi rõ hạn định và giá trị thanh toán, việc
rút trớc thời hạn sẽ bị phạt, đôi khi mức phạt vợt quá tiền lãi đợc hởng
tính đến ngày rút tiền. ở Đức họ đã khắc phục việc rút vốn trớc thời hạn
gây bất lợi cho khách bằng cách cấp cho họ một khoản tín dụng và coi
khoản tiền gửi theo kỳ hạn là khoản đảm bảo cho tín dụng đó. Lãi suất
đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ
theo sự lựa chọn của khách hàng, với loại tiền gửi có lãi suất linh hoạt,
khách hàng có thể gửi thêm tiền trớc hạn định.
Việt Nam hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi