LI Mở ĐầU
Trong nền kinh tế thị trờng, kiểm toán đã trở thành nhu cầu không thể
thiếu đợc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bằng các
tác dụng thực tiễn to lớn của mình, kiểm toán đã khẳng định là một yếu tố tích
cực, là một trong những nhân tố góp phần đảm bảo duy trì tính kinh tế, tính
hiệu quả trong hoạt động kinh tế. Kiểm toán cung cấp dữ liệu tin cậy để thực
hiện phân bổ và điều hành ngân sách một cách hiệu quả, phù hợp với tình hình
thực tiễn, loại trừ những chi phí bất hơp lý, lãng phí gây thất thoát.
Kiểm toán thực hiện việc kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ trong hoạt động
kinh tế tài chính, làm lành mạnh hoá các hoạt động kinh tế tài chính trong
doanh nghiệp và trong nền kinh tế. Căn cứ vào các quy định trong các văn bản
pháp luật, kiểm toán xác định tính đúng đắn hợp pháp của các tài liệu, số liệu
kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán hàng năm. Mọi sai phạm các quy
định về quản lý kinh tế, tài chính đợc phát hiện và đề xuất biện pháp giải quyết.
Thông qua đó trật tự kỷ cơng đợc xác lập duy trì.
Kiểm tra, kiểm toán là một trong những công cụ quản lý nền kinh tế của
Nhà nớc sử dụng để có thể kiểm soát một cách có hiệu lực phát triển kinh tế xã
hội và giữ vững định hớng XHCN. Với t cách là một bộ phận cấu thành của
công cụ quản lý kinh tế, kiểm toán ngày càng trở nên hết sức quan trọng và cần
thiết không chỉ đối với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nớc mà còn đối
với các nhà quản lý, các nhà đầu t. Những thông tin do kiểm toán cung cấp sẽ là
những căn cứ đáng tin cậy giúp cho Nhà nớc nhìn nhận, đánh giá, xử lý đúng
đắn các vấn đề kinh tế nảy sinh đồng thời làm cơ sở cho các nhà đầu t, các nhà
quản lý khi đa ra quyết định làm ăn mới. Thông qua thực hiện chức năng của
mình, kiểm toán còn giúp các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế biết đợc và
khắc phục những sai sót, vi phạm trong quản lý và trong việc chấp nhận chính sách,
luật lệ kinh tế của Nhà nớc.
Ngày nay, sự phát triển của ngành kiểm toán và đang có sự đóng góp
không nhỏ của kiểm toán nội bộ. Đó là một hoạt động nội bộ có tính độc lập
trong một đơn vị, thực hiện chức năng chính là kiểm tra, đánh giá các hoạt động
tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và góp phần hoàn thiện hệ thống
thông dụng nhất.
Kiểm toán là một quá trình do các chuyên gia có đủ năng lực, độc lập tiến
hành nhằm thu thập và đánh giá các bằng chứng về những thông tin có thể định
lợng đợc của một tổ chức nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa
những thông tin đó với các chuẩn mực đã đợc thiết lập.
Nh vậy có thể hiểu bản chất của kiểm toán trên 5 vấn đề cơ bản sau:
- Kiểm toán thực chất là việc thực hiện chức năng kiểm tra, xác minh tính
đúng đắn, mức độ tơng quan phù hợp của các thông tin đợc kiểm tra với các
chuẩn mực đã đợc xây dựng, trên cơ sở đó kiểm toán viên bày tỏ ý kiến của
mình về kết quả đã đợc kiểm tra thực hiện chức năng t vấn giúp đơn vị, tổ chức
kinh tế hoạt động có hiệu quả.
- Đối tợng của kiểm toán về thông tin, là các văn bản báo cáo tài chính,
theo nghĩa rộng là kiểm toán về thông tin, là các văn bản báo cáo tài chính và
các thông tin không phải về báo cáo tài chính, kiểm toán tính tuân thủ xem xét
việc chấp hành luật pháp, chính sách chế độ, kiểm toán tính hiệu lực, hiệu quả
quá trình hoạt động của đơn vị.
- Khách thể kiểm toán đợc coi là đơn vị đợc kiểm toán, là một thực thể
kinh tế một tổ chức có t cách pháp nhân. Trong một số trờng hợp, đơn vị đợc
kiểm toán có thể là một đơn vị thành viên không có t cách pháp nhân, một
phòng, ban hay một phân xởng, một lĩnh vực hoạt động.
- Chủ thể kiểm toán: Là ngời thực hiện hoạt động kiểm toán, là
kiểm toán viên, chuyên gia có đủ thẩm quyền, độc lập, có trình độ nghiệp vụ.
- Cơ sở thực hiện kiểm toán: Là việc thu thập đánh giá bằng chứng để xác
định mức độ tơng quan phù hợp với các chuẩn mực, chế độ, luật định, tiêu
chuẩn chung đã đợc thừa nhận từ
1.2 KHI NIM KIểM TOáN NộI Bộ
1.2.1 Khái niệm, bản chất của kiểm toán nội bộ
Hin nay cú rt nhiu quan im khỏc nhau v kim toỏn ni b trờn
th gii. Theo cỏc chun mc hnh ngh ca kim toỏn ni b do vin kim
toỏn ni b Hoa K ban hnh thỡ Kim toỏn ni b l mt chc nng xỏc
định mức đọ tuân thủ ưu tiên các chính sách, quy định, kế hoạch trước khi đi
đến việc xác định mức độ tuân thủ.
- Thứ tư, kiểm tra các phương tiện đảm bảo cho tài sản
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các phương tiện được sử dụng
để đảm bảo an toàn cho các tài sản nhằm tránh các dạng mất mát khac nhau.
Mặt khác, kiểm toán viên nội bộ cần có những kiến nghị cho nhà quản lý để
phòng ngừa các hoạt động bất hợp pháp xâm phạm tài sản của đơn vị, tổ
chức.
- Thứ năm, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả của các
nguồn lực
Kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá chất lượng thực hiện các nhiệm vụ
được giao. Việc thực hiện này liên quan đén các nhóm và các nhân viên đơn
vị. Ở đây kiểm toán viên nội bộ không chỉ quan tâm đến việc các nhóm hay
các nhân viên thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả, tiết kiệm mà còn
quan tâm đến việc thực hiện của họ có mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh
nghiệp không? Do công việc (đặc biệt là trong lĩnh vực kỹ thuật) rất đa dạng
trong một tổ chức kinh tế nên để hoàn thành được nhiệm vụ trên, bộ phận
kiểm toán viên nội bộ phải tuyển chọn được những người có trình độ nghiệp
vụ tương xứng.
- Thứ sáu, kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu đề ra đối với các
chương trình hay các hoạt động nghiệp vụ
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hoạt động hay chương
trình để xem xét kết quả thu được có phù hợp với mục tiêu đề ra hay không và
các hoạt động, chương trình đó có được thực hiện theo kế hoạch đã định
không. Bên cạnh đó, kiểm toán viên nội bộ cần trợ giúp cho những người lãnh
đạo khi xây dựng các mục tiêu cho các chương trình bằng việc xác định xem
những giả thiết, dữ liệu quan trọng có hợp lý không, những thông tin hiện thời
có chính xác và có được sử dụng không và hệ thống kiểm tra kiểm soát có
được thiết lập trong các hoạt động hay chương trình không.
- Thứ bảy là nghiên cứu, phát hiện, dự báo các rủi ro có thể xảy ra
những thông tin đó phải đợc kiểm toán bởi các chuyên gia có trình độ, độc lập,
khách quan đối với các doanh nghiệp, để đảm bảo mức độ ti n cậy, chính xác
của các thông tin.
Đối với cá nhân, doanh nghiệp những thông tin tài chính của các doanh
nghiệp đối tác đã đợc kiểm toán có đủ tin cậy sẽ là cơ sở quyết định các hợp
đồng kinh tế, hợp đồng đầu t, phát triển các quan hệ kinh tế hợp lý có hiệu quả.
Bản thân các đơn vị đợc kiểm toán, tạo đợc uy tín đối với ngời thứ 3, củng
cố chế độ tài chính kế toán, hệ thống kiểm toán nội bộ, đợc t vấn đề trên cơ sở
đó tìm cách nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động.
Kết quả hoạt động kiểm toán tốt giúp cho hệ thống các công cụ kiểm tra,
kiểm soát vĩ mô của Nhà nớc tốt hơn, thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần phát triển, mở cửa giao lu và hội nhập kinh tế với khu vực và thế
giới trong khi đó vẫn giữ vững định hớng XHCN cho sự phát triển.
1.2.3 Vai trò, chức năng, nhim v của kiểm toán nội bộ
Vai trũ
Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuất phát từ những lý do khách
quan của nhu cầu quản lý của bản thân các đơn vị tổ chức. Kiểm toán nội bộ là
một chức năng đánh giá một cách độc lập và khách quan cơ cấu kiểm soát nội
bộ của đơn vị. Phạm vi của kiểm toán nội bộ gồm tất cả các hoạt động của đơn
vị ở các cấp quản lý khác nhau. Kiểm toán nội bộ xem xét, đánh giá và báo cáo
về thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ và những phân tích, kiến nghị, t vấn
mang tính chuyên nghiệp để các nhà quản lý có cơ sở tin cậy trong việc quản lý
các hoạt động của đơn vị, hớng tới hiệu quả, chất lợng và phù hợp với các quy
tắc và chế định của Pháp luật.
Trớc hết, cần khảng định rằng kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu
quản lý, cho nên chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu và vai trò của nó cũng trải qua
quá trình phát triển từ thấp đến cao cùng với khoa học quản lý, trình độ và kinh
nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo.
Chc nng
- Rà soát lại hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nộ bộ, giám sát sự
Ngày 7/3/1991, Thống đốc ban hành quyết định số 24/NHQĐ về quy chế
tổ chức hoạt động của vụ tổng kiểm soát NHNN. Trong đó các chức năng của
Vụ tổng kiểm soát đợc quy định rộng, bao gồm cả việc tham gia ý kiến vào dự
thảo các văn bản pháp quy của các đơn vị thuộc NHNN; Quản lý, chỉ đạo và
thực hiện nhiệm vụ về công tác xét giải quyết khiếu tố thuộc hệ thống NHNN.
Ngày 7/7/1995, Thống đốc ban hành chỉ thị số 06/CT - NH4 về tổ chức
triển khai nội dung KTNB trong hệ thống NHNN. Chỉ thị yêu cầu đi sâu đánh
giá thực hiện chức năng nhiệm vụ đợc giao, việc chấp hành các chế độ, quyết
định của Thống đốc; Việc xây dựng và thực hiện các quy trình nghiệp vụ đối
với hoạt động có độ rủi ro cao.
Sau 2 lần bổ sung, sửa đổi, đến nay quy chế về tổ chức và hoạt động của
vụ tổng kiểm soát đợc ban hành theo quyết định số 413/1998/QĐ - NHNN9
ngày 23/12/1998. Theo quy chế này, vụ tổng kiểm soát là đơn vị thuộc bộ máy
NHNN, có chức năng tham mu cho Thống đốc trong việc kiểm soát hoạt động
các đơn vị thuộc hệ thống NHNN và kiểm soát nội bộ đối với các đơn vị thực
hiện nhiệm vụ nh NHTƯ (gồm có các NHTM).
Quy định trên đợc xây dựng căn cứ vào điều 57 luật NHNN đợc
Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997.
Nội dung điều 57 nh sau:
1. Tổng kiểm soát là đơn vị thuộc bộ máy NHNN, có chức năng nhiệm
vụ sau đây:
- Kiểm soát hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống NHNN.
- Kiểm toán nội bộ đối với các đơn vị thực hiện nghiệp vụ NHTƯ.
2. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Tổng kiểm soát do Thống
đốc quy định.
Theo Quy chế về tổ chức và hoạt động, vụ tổng kiểm soát có các nhiệm vụ
sau đây:
+ Trình Thống đốc ban hành, hớng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về hoạt động kiểm soát và KTNB.
+ Kiểm tra đánh giá việc chấp hành các chủ trơng chính sách, chế độ thể lệ
- Kế hoạch về thời gian: Xác định thời gian tiến hành và thời hiệu
kiểm toán nội bộ.
- Kế hoạch về nội dung: Trên cơ sở những đánh giá sơ bộ, xác định rõ
phạm vi công việc thực hiện trong đợt, kiểm toán nội bộ; xây dựng đề cơng,
kiểm toán nội bộ.
- Kế hoạch về nhân sự: Xác định thành phần đoàn tham gia kiểm toán nội
bộ và trởng đoàn (nếu thành lập đoàn).
- Kế hoạch, kiểm toán phải đợc thông báo cho đơn vị đợc, kiểm toán nội
bộ trong vòng 5 ngày làm việc trớc khi bắt đầu thực hiện cuộc, kiểm toán nội bộ
(trừ trờng hợp phải kiểm toán nội bộ đột xuất theo yêu cầu của cấp có thẩm
quyền).
Bớc 2: Thực hiện kiểm toán
Căn cứ để tiến hành, kiểm toán nội bộ là các văn bản, chính sách chế độ
của Nhà nớc về quản lý Nhà nớc trong hoạt động Ngân hàng; các văn bản chế
độ của ngành; Chế độ chính sách về hạch toán kế toán và quản lý tài chính, đầu
t XDCB của Nhà nớc và của ngành; các kế hoạch thu chi tài chính dự toán và
quyết toán đợc duyệt.
1.3.2 Quy trình kiểm toán
Chuyên gia kiểm toán phải tìm kiếm đợc những bằng chứng kiểm toán đầy
đủ và thích hợp để chứng minh rằng đã không xảy ra gian lận và sai sót có ảnh
hởng trọng yếu tới báo cáo tài chính, hoặc nếu những gian lận hoặc sai sót đó
đã xẩy ra thì chuyên gia kiểm toán phải có đợc bằng chứng chỉ ra rằng ảnh hởng
của gian lận đợc phản ánh đúng trong báo cáo tài chính hoặc sai sót đã đợc sửa
chữa. Quy trình tìm kiếm bằng chứng này chính là quy trình kiểm toán.
Mặc dù rất khác nhau về thời gian, quy mô và nội dung tiến hành, nhng
nhìn chung, các cuộc kiểm toán nội bộ đều bao gồm những bớc đi nhất định,
bao gồm:
- Phân tích rủi ro.
- Lập kế hoạch kiểm toán.
- Thực hiện kiểm toán.
toán. Thí dụ nh thông t thu nhập đợc tiến trình kiểm toán có thể khác với thông
tin mà kế hoạch kiểm toán đã dựa vào. Do đó, lý luận về rủi ro nội tại và rủi ro
kiểm soát của kiểm toán có thể thay đổi và đa đến những thay đổi trong kế
hoạch kiểm toán.
Điều 22 SAS " Lập kế hoạch và thanh tra" nêu ra rằng "khi lập kế hoạch
thanh tra thì kiểm toán viên phải cân nhắc những việc sau (trong số những điểm
khác)".
a. Những sự việc liên quan đến mặt kinh doanh của đơn vị và ngành mà
đơn vị đó hoạt động...
b. Chính sách và thủ tục hạch toán của đơn vị.
c. Những phơng pháp mà chủ thể sử dụng để xử lý các thông tin hạch toán
quan trọng, kể cả việc sử dụng các tổ chức dịch vụ bao gồm cả những trung tâm
dịch vụ bên ngoài.
d. Mức phụ thuộc dự kiến vào công tác kiểm soát hạch toán nội bộ.
e. Những ớc tính sơ bộ về các mức độ cụ thể có lợi cho mục đích kiểm toán.
f. Những khoản mục trong báo cáo tài chính có chiều hớng cần điều chỉnh.
g. Những điều kiện có thể đòi hỏi sự gia hạn hoặc sửa đổi những kiểm
nghiệm, kiểm toán, thí dụ nh khả năng có những sai sót cụ thể hoặc những trờng
hợp bất thờng hay là sự tồn tại của các giao dịch của các bên liên quan.
h. Tính chất của những báo cáo dự kiến phải nộp (thí dụ nh một bản báo
về các báo cáo tài chính tổng hợp, những báo cáo tài chính nộp cho Sở giao dịch
chứng khoán, hay là những báo cáo đặc biệt tơng tự nh những bản phù hợp theo
các điều khoản hợp đồng).
Việc lập kế hoạch sơ bộ thờng đòi hỏi kiểm toán viên phải thực hiện các b-
ớc sau:
- Có sự hiểu biết về việc kinh doanh của khách hàng.
- Có sự hiểu biết về ngành mà khách hàng đang hoạt động.
- Tiến hành đánh giá sơ bộ về hệ thống kiểm soát hạch toán nội bộ của
khách hàng.
- Soạn thảo một kế hoạch kiểm toán bao gồm các bớc kiểm toán, định thời
vào những lĩnh vực quan trọng nhất trong hoạt động của một Ngân hàng.
Một kế hoạch kiểm toán thờng bao gồm các nội dung kiểm toán, phơng pháp
kiểm toán, phơng pháp kiểm toán, kế hoạch nhân sự và thời gian.
* Nội dung kiểm toán
Nội dung chính của một kế hoạch kiểm toán bao gồm:
- Tập hợp những hiểu biết về hoạt động và những văn bản, chế độ quy định
liên quan đến bộ phận kiểm toán.
- Ví dụ: Kiểm toán về báo cáo tài chính thì phải biểu về hệ thống kế toán, chế
độ kế toán, quy chế kiểm soát...
- Xác định mục tiêu của cuộc kiểm toán.
- Đánh giá về mức trọng yếu (nói một cách khác là xác định mức độ tin
cậy dự kiến thực hiện kiểm soát nội bộ).
- Xác định nội dung, thời gian, phạm vi và các phơng pháp kiểm toán sẽ
thực hiện.
- Tổ chức lực lợng và phối hợp các bớc công việc.
- Kế hoạch kiểm toán đợc duy trì trong suốt quá trình kiểm toán và triển
khai kế hoạch toàn diện về phạm vi dự kiến và thực hiện kiểm toán. Triển khai
chơng trình kiểm toán thể hiện nội dung, thời gian và phạm vi phơng pháp kiểm
toán.
* Phơng pháp kiểm toán
Căn cứ vào sự đánh giá rủi ro trên, kiêm toán viên xác định phơng hớng áp
dụng những kỹ thuật kiểm toán, cụ thể.
- Lựa chọn kỹ thuật kiểm toán cần sử dụng. Ví dụ: Phân tích, xác nhận
- Xác định về phạm vi: Lấy mẫu kiểm tra hay phải kiểm tra toàn bộ.
- Xác định các trọng tâm cần kiểm tra: Qua việc phân tích các thông tin
thu thập đợc giúp cho kiểm toán viên nhanh chóng xác định đợc các vùng trọng
tâm cần chú ý và ghi vấn. Khi đánh giá rủi ro kiểm toán kiểm toán viên cũng
cần quan tâm đến những điểm ghi vấn của báo cáo kiểm toán kỳ trớc đó.
*Kế hoạch nhân sự và thời gian
Kiểm toán viên phải xác định xem những ngời nào nên thực hiện những
ra, giai đoạn này gồm các công việc sau:
- Tiến hành kiểm tra thử nghiệm hệ thống kiểm soát nội bộ (cụ thể theo
từng nội dung, phạm vi).
- Đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết lập mức rủi ro phát hiện.
- Thực hiện kiểm toán căn bản, bao gồm các thủ tục phân tích và
kiểm tra chi tiết theo từng nội dung cụ thể nh đã đề ra trong chơng trình kiểm
toán đối với từng khoản mục.
- Ghi chép các bớc kiểm toán và các dữ liệu thành tài liệu công tác song
song với quá trình thực hiện kiểm toán.
- Lập dự thảo báo cáo, đa ra ý kiến đánh giá, yêu cầu cần chỉnh sửa.
- Thảo luận, bàn bạc kết quả kiểm toán và thống nhất ý kiến với bộ phận đ-
ợc kiểm toán.
Nếu trong quá trình kiểm toán, việc áp dụng những thủ tục kiểm toán đợc
thiết lập dựa trên những đánh giá về rủi ro cho thấy những dấu hiệu về sự tồn tại
của gian lận hay sai sót, thì chuyên gia kiểm toán phải xét tới những ảnh hởng
có thể tác động tới những thông tin đang đợc kiểm toán. Nếu chuyên gia kiểm
toán tin rằng sự gian lận hoặc sai sót đợc chỉ thị ra có thể ảnh hởng trọng yếu tới
tính trung thực của những thông tin này, thì chuyên gia kiểm toán phải thực
hiện những thủ tục sửa đổi bổ sung.
1.3 2.4. Lập báo cáo kế toán
* Khái niệm
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 700 (và chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 700) về báo cáo kiểm toán thì chuyên gia kiểm toán Việt Nam phải
xem xét lại và đánh giá những kết luận rút ra từ các bằng chứng đã thu thập đợc
và sử dụng những kết luận này để hình thành ý kiến của mình về những thông
tin đợc kiểm toán.
Nh vậy báo cáo kiểm toán là văn bản đợc kiểm toán viên phát hành để
trình bày ý kiến của mình về những thông tin đợc kiểm toán. Báo cáo
kiểm toán là sản phẩm cuối cùng của công việc kiểm toán và có vai trò hết sức quan trọng.
* Vai trò của báo cáo kiểm toán
* ý kiến chấp nhận toàn phần
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 " Báo cáo kiểm toán về báo
cáo tài chính" nội dung 35, báo cáo kiểm toán đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần
đợc trình bày trong trờng hợp kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cho rằng
báo cáo tài chính phải Phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện
hành (hoặc đợc chấp nhận).
ý kiến chấp nhận toàn phần đợc áp dụng cho cả trờng hợp báo cáo đợc
kiểm toán có những sai sót nhng đã đợc kiểm toán viên phát hiện và đơn vị đã
điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên.
ý kiến chấp nhận toàn phần không có nghĩa là báo cáo đợc kiểm toán là
hoàn toàn đúng, mà có thể có sai sót nhng sai sót đó là không trọng yếu.
* ý kiến chấp nhận không toàn phần
Chuyên gia kiểm toán không thể có ý kiến chấp nhận toàn bộ khi mà có
một hoặc hai trờng hợp sau đây xảy ra, mà theo chuyên gia kiểm toán, các tình
huống này có thể xảy ra, mà theo chuyên gia kiểm toán, các tình huống này có
thể ảnh hởng trọng yếu đến tính trung thực của những thông tin đợc kiểm toán.
- Trờng hợp thứ nhất là có một sự giới hạn trong công tác kiểm toán.
- Trờng hợp thứ hai đó là có sự không thống nhất với ban giám đốc về cơ
sở của các chính sách kế toán, các thể thức đợc áp dụng, các thông tin thuyết
minh.
Tình huống nêu trong hợp thứ nhất có thể dẫn tới ý kiến chấp nhận từng
phần hoặc không thể có ý kiến. Các tình huống nêu trong trờng hợp thứ hai có
thể dẫn tới ý kiến chấp nhận từng phần hoặc ý kiến không chấp nhận.
ý kiến chấp nhận từng phần phải đợc đa ra trong trờng hợp
chuyên gia kiểm toán cho rằng không thể đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần, và
những phần bị ngoại trừ (do không đồng ý với Ban giám đốc hay do công tác
kiểm toán bị giới hạn) là không quan trọng hoặc không liên quan tới một số l-
ợng lớn các khoản mục tới mức có thể dẫn đến ý kiến không chấp nhận. ý kiến
chấp nhận từng phần thể hiện bởi ngữ "ngoại trừ".
Chuyên gia kiểm toán sẽ đa ra báo cáo dạng "không thể cho ý kiến" trong
hai ngời "4 mắt".
- Việc thực hiện các nguyên tắc này đảm bảo:
- Quy trình, kỹ thuật nghiêp vụ kế toán đợc hiện đầy đủ, kịp thời,
chính xác, có hiệu quả, ngăn ngừa những thiếu sót.
- Các dữ liệu kế toán đựơc cập nhật xử lý một cách kịp thời, đầy đủ và
chính xác.
- Rủi ro trong công tác kế toán đợc quản lý chặt chẽ nhằm ngăn ngừa thất
thoát tài sản và có dự phòng rủi ro hợp lý.
- Tài liệu, chứng từ, các tài sản có liên quan đến các nghiệp vụ kế toán đợc
đảm bảo an toàn.
Khi tiến hành, kiểm toán nội bộ công tác kế toán, kiểm toán viên cũng
phải tiến hành theo một quy trình kiểm toán đã trình bày ở trên
- Lập kế hoạch kiểm toán.
- Thực hiện cuộc kiểm toán.
- Lập báo cáo kiểm toán.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên cần phải thu thập các
tài liệu làm cơ sở cho hoạt động kiểm toán công tác kế toán:
- Các văn bản quy định khung về công tác kế toán, các văn bản h-
ớng dẫn của nội bộ đơn vị về công tác này.
- Các loại báo cáo tài chính của đơn vị.
- Hồ sơ, chứng từ kế toán của đơn vị.
- Kết quả kiểm tra, kiểm toán kỳ trớc
- Kiểm toán cần phải nghiên cứu và đánh giá hoạt động kiểm soát nội bộ
để đánh giá hoạt động KTNB đối với các nghiệp vụ trong công tác kế toán cần
sử dụng phơng pháp kiểm toán hệ thống và kiểm toán riêng lẻ, đặt ra các câu
hỏi để tìm hiểu và đánh giá hoạt động KTNB đối với nghiệp vụ kế toán.
Kiểm toán viên tiến hành các thử nghiệm để đánh giá hệ thống kiểm soát
bằng cách chọn ra một số khoản mục trên báo cáo tài hính và đối chiếu ngợc
với chứng từ uỷ hiệm chi, séc, phiếu chi... Trên cơ sở này kiểm toán viên sẽ
đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống KTNB và định lợng rủi ro